Quyết định số 329/QĐBan hành Quy định về mục tiêu và kế hoạch đào tạo của trường phổ thông trung học
- Số hiệu
- 329/QĐ
- Loại văn bản
- Quyết định
- Cơ quan ban hành
- Bộ Giáo dục
- Ngày ban hành
- 31/03/1990
Toàn văn
QUYẾT ĐỊNH CỦA BỘ GIÁO DỤC Về việc ban hành quy định về mục tiêu và kế họach đào tạo của trường phổ thông trung học BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC
Căn cứ Nghị định số 87/HĐBT, ngày 9/6/1987 của Hội đồng Bộ trưởng quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy giáo dục;
Căn cứ Quyết định số 440/QĐ, ngày 2/4/1979 của Bộ Giáo dục ban hành Điều lệ trường phổ thông.
Theo đề nghị của các ông Viện trưởng Viện khoa học giáo dục Việt Nam, Vụ trưởng Vụ tổ chức và cán bộ, Vụ trưởng Vụ kế họach và tài vụ, Vụ trưởng Vụ giáo dục phổ thông. QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1 : Nay ban hành "Quy định về mục tiêu và kế họach đào tạo của trường phổ thông Trung học" kèm theo Quyết định này.
Điều 2 : Bản quy định này áp dụng cho tất cả các trường phổ thông Trung học trong cả nước kể từ năm học 1990 - 1991.
Điều 3 : Các đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố và đặc khu trực thuộc Trung ương, Thủ trưởng các đơn vị tổ chức thuộc Bộ Giáo dục, Giám đốc Sở Giáo dục chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này. QUY ĐỊNH VỀ MỤC TIÊU VÀ KẾ HỌACH ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG PHỔ THÔNG TRUNG HỌC (Ban hành theo Quyết định số 329/QĐ, ngày 31 tháng 3 năm 1990 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục) Để quản lý Trường phổ thông Trung học (PTTH) theo yêu cầu điều chỉnh cải cách giáo dục. Bộ giáo dục ban hành "Quy định về mục tiêu kế họach cho đào tạo của trường phổ thông trung học" (gọi tắt là Kế họach đào tạo). Kế họach đào tại xác định vị trí, tính chất, nhiệm vụ của các lọai hình trường PTTH; cụ thể hóa mục tiêu đào tạo, phương pháp đào tạo PTTH; quy định kế họach dạy và học, nguyên tắc đánh giá trình độ được đào tạo của học sinh, việc xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý, có cơ sở vật chất - kĩ thuật giáo dục và thi chính của trường PTTH; xác định mối quan hệ giữa trường PTTH với các tổ chức xã hội trong việc giáo dục học sinh và xây dựng trường; định ra mục tiêu, nguyên tắc... quản lý; xác định trách nhiệm lãnh đạo của Đảng bộ, chính quyền địa phương và cơ sở đối với trường. Kế họach đào tạo là văn bản pháp quy, được dùng làm cơ sở để xây dựng các văn bản nhằm quản lý thống nhất tòan bộ họat động của các lọai hình trường PTTH trong cả nước. Hiệu trưởng và cán bộ, giáo viên PTTH có trách nhiệm tổ chức thực hiện kế họach đào tạo dưới sự chỉ đạo của các cấp quản lý giáo dục; Trước hết của Giám đốc Sở Giáo dục (tỉnh, thành, đặc khu). Dưới sự lãnh đạo của Đảng Bộ, tùy theo chức năng của mình, các cấp chính quyền, các ngành, các đòan thể, các tổ chức xã hội ở địa phương và cơ sở có trách nhiệm chỉ đạo, phối hợp, tạo điều kiện để trường PTTH thực hiện kế họach đào tạo này. I. VỊ TRÍ, TÍNH CHẤT, NHIỆM VỤ
-
Vị trí PTTH là bậc cuối cùng của hệ thống giáo dục phổ thông, gồm 3 năm học, dành cho học sinh tốt nghiệp phổ thông cơ sở, được tuyển chọn. Đây là bậc học tạo nguồn phục vụ cho yêu cầu đào tạo sau trung học của xã hội, chuẩn bị cho thế hệ trẻ đi vào cuộc sống xã hội, lao động sản xuất, thực hành nghĩa vụ công dân và có điều kiện để tiếp tục học thêm. Đồng thời bậc học này cũng góp phần nâng cao dân trí.
-
Tính chất Trường PTTH xã hội chủ nghĩa Việt nam có tính chất: Phổ thông, lao động, kĩ thuật tổng hợp, hướng nghiệp và chuẩn bị nghề (nơi nào có điều kiện thì dạy nghề). Tính chất của trường PTTH thể hiện trong cơ cấu tổ chức, trong tòan bộ họat động giảng dạy, giáo dục, học tập và các mặt công tác khác của trường.
-
Nhiệm vụ - Hòan chỉnh học vấn phổ thông nhằm phát triển nhân cách người lao động mới năng động, sáng tạo, tích cực chuẩn bị cho học sinh bước vào cuộc sống xã hội, lao động sản xuất, làm nghĩa vụ công dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Bảo đảm số lượng, chất lượng và hiệu quả đào tạo học sinh PTTH cập nhật và dẫn đầu nhu cầu và khả năng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và cả nước. - Tổ chức hướng nghiệp và chuẩn bị nghề cho học sinh, nơi có điều kiện thì tổ chức dạy nghề, tổ chức sản xuất ra của cải vật chất. - Chuẩn bị cho một bộ phận tiếp tục học lên bậc học cao hơn, đáp ứng yêu cầu tạo nguồn đào tạo đội ngũ cán bộ, công nhân kĩ thuật và trí thức xã hội chủ nghĩa. - Tiếp tục phát hiện, bồi dưỡng học sinh có năng khiếu nhằm góp phần đào tạo nhân tài cho đất nước. - Phát huy tác dụng về mặt văn hóa, tư tưởng, khoa học-kỹ thuật ở địa phương.
-
Lọai hình Nhằm đáp ứng yêu cầu đa dạng của việc sử dụng học sinh ra trường phục vụ các mục tiêu kinh tế xã hội của cả nước và của địa phương, có các lọai hình PTTH; trường PTTH, trường PTTH chuyên (năng khiếu), trường PTTH phân ban, trường PTTH kĩ thuật, trường PTTH vừa học vừa làm. Nội dung đào tạo của các lọai hình PTTH đều có phần nền cơ bản chung bảo đảm trình độ chuẩn bậc học PTTH. Các lọai hình PTTH đều có thể là: hoặc quốc lập; hoặc bán công , dân lập (hệ B). II. MỤC TIÊU ĐÀO TẠO Phát huy thành quả giáo dục PTCS, bậc PTTH tiếp tục đào tạo để phát triển nhân cách xã hội chủ nghĩa hài hòa ở học sinh. Có thế giới quan khoa học, lí tưởng và đạo đức xã hội chủ nghĩa, có lòng yêu nước và tinh thần quốc tế chân chính, có nhân ái, có ý thức trách nhiệm với gia đình, sống và làm việc theo pháp luật; có học vấn phổ thông kỹ thuật tổng hợp, có kĩ năng lao động và tâm thế sẵn sàng lao động, có sức khỏe, có thị hiếu thẩm mĩ lành mạnh, ham học hỏi, biết cách tự học và tự rèn luyện nhằm phát triển năng lực và sở trường cá nhân để bước vào cuộc sống tự lập của người lao động năng động sáng tạo, đáp ứng yêu cầu đào tạo, nhu cầu cuộc sống của bản thân và gia đình, yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương và đất nước, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc. Mục tiêu đào tạo PTTH được cụ thể hóa như sau:
-
Về thế giới quan, tư tưởng, chính trị, pháp luật, đạo đức và cư xử có văn hóa. Kiến thức - Hiểu bức tranh khoa học của thế giới, quy luật phát triển tự nhiên, xã hội, con người. - Hiểu các vấn đề quốc tế cấp thiết (hòa bình, môi sinh, dân số, lương thực, SIDA...) mà lòai người hiện nay đang hợp tác để giải quyết. - Hiểu đúng đắn lí tưởng và các giá trị cơ bản của chủ nghĩa xã hội, xóa bỏ áp bức, bóc lột, giai cấp giải phóng con người lao động, xã hội thực hiện độc lập, dân chủ, tự do, nhân đạo, công bằng, hòa bình, hạnh phúc phát triển tòan diện và hài hòa nhân cách; .v.v.. - Hiểu nguyên lý của Chủ nghĩa Marx - Lenin, công cuộc đổi mới đất nước ta, đổi mới xã hội, đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc trong giai đọan hiện nay, các chính sách lớn của Đảng và Nhà nước nhằm phát triển kinh tế, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa khoa học kỹ thuật hiện đại, nền quốc phòng tòan dân, con người mới và lối sống mới ở nước ta. - Hiểu bản chất Nhà nước dân chủ và pháp chế xã hội chủ nghĩa, nội dung cơ bản của Hiến pháp và các đạo luật làm nền tảng cho chế độ và lối sống xã hội chủ nghĩa ở nước ta, quyền và nghĩa vụ công dân. - Hiểu lịch sử dựng nước và giữ nước, bản sắc văn hóa của dân tộc, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và của cách mạng. - Hiểu lý tưởng, nguyên tắc phạm trù đạo đức học Macxít, phẩm chất đạo đức nhân đạo và tiến bộ của lòai người, của dân tộc, của cách mạng và của Bác Hồ, chuẩn mực đạo đức trong quan hệ hôn nhân và gia đình, phong tục tốt đẹp của dân tộc, cách cư xử văn minh, lịch sự. Kĩ năng - Biết phán đóan một số hiện tượng xã hội theo tư duy biện chứng duy vật (mâu thuẫn phát triển, giai cấp, v.v..) biết kết hợp lý luận và thực tiễn trong học tập, trong nhận thức. - Biết phân biệt các giá trị chân chính của xã hội, tập thể, gia đình và con người, lao động và thiên nhiên. - Biết vận dụng đường lối và chính sách của Đảng và Nhà nước để phân tích một số sự kiện thời sự (chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội) trong nước và trên thế giới; biết nhận xét một số chủ trương công tác của địa phương; biết góp ý kiến xây dựng chủ trương đường lối, chính sách. - Biết và thực hiện tốt những điều cơ bản của luật lệ Nhà nước có quan hệ đến cuộc sống cá nhân. Biết đánh giá việc chấp hành pháp luật của các tổ chức và cá nhân; biết sử dụng đúng quyền tự do cá nhân và thực hiện tốt nghĩa vụ đối với xã hội. - Biết vận dụng các nguyên tắc và các phạm trù cơ bản của đạo đức học trong việc phân tích và xử lý các tình huống đạo đức, đánh giá các hành động đạo đức của bản thân và của người chung quanh; biết tự phê bình và rèn luyện để hòan thiện nhân cách đạo đức của bản thân; biết sống và làm việc trong quan hệ đòan kết, hợp tác, tôn trọng lẫn nhau và giúp nhau trong tập thể, biết thể hiện một cách tự nhiên những hành vi ứng xử có văn hóa. Thái độ - Ủ ng hộ cái mới, cái tiến bộ nảy nở và phát triển trong thực tiễn, trong tư duy khoa học ; khắc phục những cách tư duy phản khoa học (duy tâm, siêu hình, thần bí...); thẳng thắn, trung thực, tôn trọng sự thật, đấu tranh cho sự thật; ghét dối trá. - Bảo vệ và khẳng định lý tưởng và các giá trị của chủ nghĩa xã hội trong thực tiễn, ở mọi lúc, mọi nơi; biến lí tưởng và các giá trị cao đẹp đó thành mục đích và hòai bão của cá nhân trong cuộc sống hàng ngày. - Quan tâm đến thời cuộc (chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội... của thế giới, đất nước và địa phương), ủng hộ tiến bộ xã hội và cách mạng: tích cực tham gia các họat động xã hội, thể hiện tinh thần yêu Tổ Quốc, yêu chủ nghĩa xã hội, đòan kết quốc tế, lòng vị tha, khắc phục thái độ thờ ơ, vô trách nhiệm đối với con người, đối với dân tộc và lòai người. - Tôn trọng và tự giác chấp hành pháp luật của Nhà nước, kỉ luật của đòan thể, trật tự của xã hội, quy định của nhà trường và các tổ chức khác; đấu tranh bảo vệ và thực hiện quyền của công dân; đấu tranh chống mọi hiện tượng phạm pháp, vô kỉ luật, tiêu cực trong xã hội. - Rèn luyện tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, tinh thần dân tộc, bảo vệ và phát huy các truyền thống tốt đẹp của dân tộc và của cách mạng, tôn trọng bản sắc văn hóa của các dân tộc. - Thường xuyên tự phê bình; chăm lo rèn luyện đạo đức ( nhân ái, trung thực, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, trách nhiệm, dũng cảm, tự trọng, khiêm tốn, v.v..) trong học tập và lao động, trong tình bạn và tình yêu, ở gia đình, nhà trường và xã hội. - Sống có lí tưởng và hòai bão cao đẹp, có mục đích và kế họach, có ý chí, nghị lực và quyết tâm vươn lên, lạc quan, lành mạnh; có thói quen lời nói đi đôi với việc làm, ứng xử văn minh, lịch sự, ghét lối sống ích kỷ, buông thả, chạy theo hưởng thụ thầm thường, thấp kém, mắc vào các tệ nạn xã hội, khắc phục cách ứng xử thiếu lịch sự, kém văn hóa, lố lăng, lai căng, thô bạo, gây gổ.
-
Về văn hóa khoa học Kiến thức - Có hệ thống kiến thức phổ thông cơ bản, kĩ thuật tổng hợp, hiện đại, Việt Nam về tự nhiên, xã hội, tư duy. Có kiến thức phổ thông về kinh tế, kĩ thuật. - Hiểu nội dung cơ bản của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, mục tiêu trước mắt và lâu dài về kinh tế - xã hội của đất nước và của địa phương. - Hình thành được các yếu tố cơ bản về phương pháp nhận thức khoa học về phương pháp khoa học của từng môn học, về kinh nghiệm họat động tìm tòi, sáng tạo. Kĩ năng - Nắm được các thao tác cơ bản của tư duy khoa học: có kĩ năng tư duy lôgích và diễn đạt lôgích; có kĩ năng ghi nhớ, tái hiện, phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát và vận dụng tổng hợp kiến thức và phương pháp để giải quyết vấn đề. - Có kĩ năng thực hành bộ môn - Biết cách tự học, hòan thiện từng bước vốn hiểu biết. Thái độ - Tôn trọng kỉ luật học tập, học tập một cách khoa học. Có ý thức khắc phục khó khăn, chuyên cần, tự giác học tập. - Có ý thức vận dụng kiến thức vào thực tiễn để họat động có hiệu quả. - Có nhu cầu làm giàu vốn hiểu biết, kiên trì tự học, vươn lên không ngừng. Có hòai bão sẵn sàng đem hiểu biết phục vụ xã hội. - Đối với các lớp phân ban thì yêu cầu cao hơn về kiến thức và kĩ năng (quy định cụ thể trong chương trình môn học).
-
Về lao động kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp, chuẩn bị nghề (và dạy nghề) Kiến thức - Hiểu vai trò của nền sản xuất trong quá trình phát triển xã hội, giá trị của lao động nghề nghiệp trong sinh họat xã hội và đời sống cá nhân. - Hiểu sơ bộ về cơ cấu của nền kinh tế quốc dân, cơ cấu ngành nghề, nhiệm vụ, phương hướng, mục tiêu, kế họach sản xuất và hệ thống ngành nghề, sự phân công lao động theo các ngành chủ yếu: công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, xây dựng, y tế, giáo dục trong cả nước và đặc biệt là ở địa phương - Biết các quy trình công nghệ chủ yếu của một số nghề phổ biến, nhất là các nghề truyền thống ở địa phương. - Hiểu tính chất cơ bản của các lọai vật liệu phổ biến, các lọai công cụ lao động đơn giản và một số máy móc chủ yếu trong sản xuất và đời sống. - Có hiểu biết sơ bộ về quản lý kinh tế, hạch tóan kinh tế, tư duy kinh tế. - Hiều biết về vệ sinh lao động nghề nghiệp, về các quy tắc bảo hộ an tòan lao động. Kĩ năng - Có thói quen sử dụng đúng, bảo dưỡng và bảo quản dụng cụ thường dùng trong gia đình và địa phương. - Biết sử dụng hợp lý vật liệu thông thường. - Biết cách thực hiện quy trình công nghệ của một nghề phổ thông để sản xuất ra sản phẩm có giá trị hàng hóa. - Biết sửa chữa công cụ lao động đơn giản thường dùng trong gia đình. - Biết làm các việc có kĩ thuật giản đơn phục vụ đời sống gia đình. - Biết tổ chức lao động hợp lý. - Có thói quen thực hiện vệ sinh và các quy tắc an tòan lao động - Biết áp dụng tiến bộ khoa học, kĩ thuật đơn giản vào lao động. Thái độ - Yêu lao động, qúy trọng người lao động và sản phẩm lao động. - Sẵn sàng lao động, lao động trung thực, cần cù, tích cực, tự giác, sáng tạo; tương trợ hợp tác trong lao động theo phong cách lao động công nghiệp. Ghét thói đại khái, tùy tiện, chây lười, ỷ lại, lãng phí, tham ô. - Khắc phục khó khăn trong lao động, phát huy sáng kiến, cải tiến kĩ thuật và hợp lý hóa lao động để đạt và vượt định mức, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả lao động. - Có ý thức tiết kiệm nguyên liệu, vật liệu, thì giờ, sức người, tiền của... - Có ý thức tổ chức, kỉ luật trong lao động, có trách nhiệm với hiệu quả lao động và chất lượng sản phẩm lao động của mình không làm dối, làm ẩu. (Nếu có dạy nghề, thì có yêu cầu riêng theo các kế họach đào tạo của nghề).
-
Về thể chất, vệ sinh, quốc phòng Kiến thức: - Hiểu các phương pháp tập luyện, nhằm hình thành kĩ năng, kĩ xảo vận động và phát triển các tố chất thể lực (nhanh, mạnh, bền). - Hiểu biết kỹ thuật cơ bản của thể dục, biết các kĩ thuật sơ đẳng của một số môn thể thao. - Có hiểu biết về vệ sinh thân thể, giới tính, kế họach hóa gia đình, bảo vệ môi trường phòng bệnh và biết sử dụng một số lọai thuốc để chữa bệnh thông thường. - Hiểu một số kiến thức quân sự phổ thông, thể thao quốc phòng, tác hại của vũ khí hạt nhân, hóa học, vi trùng trong chiến tranh hiện đại. Kĩ năng - Biết rèn luyện thân thể theo tiêu chuẩn quy định. - Biết tự theo dõi kiểm tra sức khỏe trong tập luyện và thi đấu. - Biết phòng và chữa một số bệnh thông thường, sơ cứu các chấn thương trong học tập, sinh họat, lao động và chiến đấu. - Có khả năng tự điều chỉnh phù hợp với sức khỏe các họat động sinh họat, học tập, lao động, vui chơi. - Có kĩ năng, kĩ xảo vận động cơ bản của thể dục và một số môn thể thao. - Biết tổ chức tập luyện và thi đấu thể dục thể thao (ở lớp, trường, địa phương). - Biết điều lệnh nội vụ quân sự, biết sử dụng một số vũ khí bộ binh. Thái độ. - Có ý thức bảo vệ sức khỏe trong học tập, lao động, sinh họat và chiến đấu. - Có nhu cầu thường xuyên rèn luyện thân thể, nhiệt tình, sáng tạo trong việc tổ chức, tham gia động viên các họat động vui khỏe ở lớp, trường, địa phương. - Chấp hành luật lệ và các quy định trong tập luyện và thi đấu thể dục thể thao. Có tinh thần thượng võ, ý thức tổ chức, kỉ luật, tinh thần trách nhiệm, trung thực, linh họat, nhanh nhẹn, mạnh dạn, dũng cảm. - Có ý thức bảo vệ môi trường, công trình vệ sinh công cộng. - Có ý thức bảo vệ vũ khí, sẵn sàng làm nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, 5. Về thẩm mỹ Kiến thức - Hiểu cái đẹp trong lao động và đời sống, trong thiên nhiên và con người, trong văn học, nghệ thuật. - Hiểu biết sơ đẳng về cái đẹp thể hiện trong tác phẩm văn học nghệ thuật của dân tộc và thế giới thường tiếp xúc ở nhà, ở trường hoặc ngòai xã hội. - Hiểu những nét khái quát về giá trị tư tưởng ý nghĩa nhân văn và yếu tố dân tộc của các tác phẩm văn học nghệ thuật tốt. Hiểu, biết phân tích những mặt hạn chế, không lành mạnh hoặc tiêu cực, phản động của các tác phẩm văn học nghệ thuật xấu. Kĩ năng - Có khả năng cảm thụ, rung động trước những biểu hiện của cái đẹp trong lao động và đời sống, trong thiên nhiên và con người, trong văn học và nghệ thuật. - Có khả năng ứng xử, hành động, tổ chức cuộc sống, lao động và học tập theo quy luật của cái đẹp, thể hiện được chuẩn mực của lối sống văn minh, xã hội chủ nghĩa. - Có năng lực tích lũy vốn ấn tượng và kiến thức đa dạng, phong phú về cái đẹp trong thiên nhiên, trong đời sống, trong văn học nghệ thuật. - Biết đánh giá thưởng thức sự vật, hiện tượng có ý nghĩa thẩm mĩ. - Có năng lực tham gia một vài lọai hình họat động văn học nghệ thuật nghiệp dư (viết văn, làm thơ, vẽ, đóng kịch, hát, múa,...). Qua đó, trau dồi các năng lực: tưởng tượng, quan sát, tư duy không theo khuôn sáo, làm việc tốt, nói lời hay, cử chỉ đẹp. Thái độ - Tôn trọng, yêu qúy, giữ gìn, bảo vệ cái đẹp chân chính, lành mạnh, văn minh. - Cố gắng tìm hiểu, thưởng thức và bảo vệ di sản văn hóa nghệ thuật của dân tộc và của thế giới. - Có ý thức tự bồi dưỡng cho bản thân năng lực thẩm mỹ, niềm say mê sáng tạo, tình cảm và đạo đức thẩm mỹ, lí tưởng cao đẹp và lối sống văn minh. Có nhu cầu đưa cái đẹp vào mọi lĩnh vực họat động của bản thân cũng như vào môi trường sống chung quanh. - Có ý thức trao dồi xúc cảm và thị hiếu nghệ thuật lành mạnh, rèn luyện kĩ năng hiểu, đánh giá, thưởng thức các giá trị nghệ thuật, và tự bồi dưỡng năng lực họat động nghệ thuật (biểu diễn sáng tạo). - Có thái độ không khoan nhượng trước mọi biểu hiện: thiếu văn hóa và phản thẩm mỹ ở mọi nơi, mọi lúc, trước mọi hành động tiêu cực trong cuộc sống của con người và xã hội. - Không chấp nhận và không sử dụng những sản phẩm văn hóa nghệ thuật tiêu cực, đồi trụy, phản động. III. KẾ HỌACH DẠY VÀ HỌC Kế họach dạy và học xác lập cấu trúc môn học, sự phân bố các môn học theo lớp, số lượng giờ trong tuần và trong năm dành cho từng môn học nhằm thực hiện nội dung giáo dục ở trường PTTH, bao gồm: dạy học và giáo dục trên lớp, giáo dục lao động, kĩ thuật tổng hợp, hướng nghiệp chuẩn bị nghề (và dạy nghề ở nơi có điều kiện) và các họat động giáo dục ngòai giờ lên lớp, tiến hành trong ba năm học ở các trường, lớp không phân ban và phân ban. Mục đích phân ban 1. Đào tạo định hướng học sinh nhằm thực hiện tốt hơn việc tạo nguồn cho các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề.
-
Tạo điều kiện để có thể phát huy tốt hơn năng lực sở trường cũng như lòng mong muốn vươn lên của học sinh.
-
Tạo điều kiện để có thể đồng thời thực hiện các quan điểm cơ bản, thiết thực và hiện đại hóa chương trình các môn học ở trường PTTH.
-
Khắc phục tình trạng quá tải trong học tập đối với phần lớn học sinh nhằm góp phần thực hiện có hiệu quả và thiết thực hơn việc nâng cao dân trí. Nguyên tắc phân ban 1. Bảo đảm cơ sở văn hóa phổ thông chung cho tất cả các ban.
-
Phù hợp với yêu cầu tạo nguồn.
-
Thực hiện từng bước phù hợp với nhu cầu và điều kiện của từng địa phương, từng trường học.
-
Hệ mở: cuối lớp 10, học sinh có thể thi chuyển từ ban này sang ban khác.
-
Dân chủ ( theo nguyện vọng) công bằng: công khai (qua thi tuyển).
-
Học sinh tốt nghiệp ban nào cũng đều được cấp bằng PTTH. KẾ HỌACH THỜI GIAN A. CẤP TRƯỜNG, LỚP KHÔNG PHÂN BAN TT Môn học Lớp 10 11 12 a/ Hàng tuần (tiết) 1 Văn 2 2 2 2 Tiếng Việt 2 2 2 3 Sử 1 1 2 4 Địa lý 1 2 1 5 Giáo dục công dân 1 1,5 1,5 6 Tóan 4 5 5 7 Vật lý 3 3 3 8 Hóa 2 2 2 9 Sinh 1 1 2 10 Tiếng nước ngòai 3 3 3 11 Kỹ thuật 2 2 2 12 Thể dục quốc phòng 2 2 2 Cộng 24 26,5 26,5 13 Sinh họat tập thể 1 1 1 14 Chào cờ đầu tuần 1 1 1 b/ Hàng tháng(buổi) 15 Lao động công ích hoặc lao động sản xuất 3 3 3 16 Sinh họat hướng nghiệp 1 1 1 17 Sinh họat chủ điểm (quy ra tiết) 2 2 2 c/ Hàng năm (ngày) 18 Lao động sản xuất hoặc lao động công ích 12 18 * Mỗi buổi tính 4 tiết, 6 buổi thành 24 tiết B. CÁC TRƯỜNG, LỚP PHỔ THÔNG TRUNG HỌC PHÂN BAN Trước mắt có các ban: - Ban tóan - lí (Ban A); - Ban khoa học thực nghiệm (Ban B) - Ban văn - sử - địa (Ban C) - Ban tiếng nước ngòai (Ban D). Kế họach dạy học của các ban Ban A (Tóan-Lí) TT Môn học Lớp 10 11 12 1 Văn 1,5 1,5 2 2 Tiếng Việt 1,5 1,5 1 3 Sử 1 2 0 4 Địa lí 2 1 0 5 Giáo dục công dân 1 1,5 1,5 6 Tóan 6 6 7 7 Tin học 1 1 0 8 Vật lý - thiên văn 4 4 5 9 Hóa 2 2 2 10 Sinh 1 1 1 11 Tiếng nước ngòai 3 3 3 12 Kỹ thuật 2 2 2 13 Thể dục quốc phòng 2 2 2 Cộng 28 28,5 27,5 * Chỉ ghi kế họach hoặc thời gian lên lớp các môn học, các họat động giáo dục khác thực hiện như lớp không phân ban Ban B (Khoa học thực nghiệm) 1 Văn 1,5 1,5 2 2 Tiếng Việt 1,5 1,5 1 3 Sử 1 1 1 4 Địa lý 2 1 0 5 Giáo dục công dân 1 1,5 1,5 6 Tóan 5 5 5 7 Vật lý - thiên văn 4 4 3 8 Hóa 3 3 3 9 Sinh 1,5 2,5 3 10 Tiếng nước ngòai 3 3 3 11 Kĩ thuật 2 2 2 12 Thể dục quốc phòng 2 2 2 Cộng 27,5 29 27,5 Ban C (Văn-sử-địa) 1 Văn 3 3 4 2 Tiếng Việt 3 3 3 3 Sử 2 2 3 4 Địa lý 1 2 3 5 Giáo dục công dân 1 1,5 1,5 6 Tóan 3 3 0 7 Vật lý 2 2 0 8 Hóa 2 2 0 9 Sinh 1 1 1 10 Tiếng nước ngòai 3 3 3 11 Kĩ thuật 2 2 2 12 Thể dục quốc phòng 2 2 2 Cộng 25 26,5 25,5 Ban D (Tiếng nước ngòai) 1 Văn 2 2 4 2 Tiếng Việt 2 2 2 3 Sử 1 1 2 4 Địa lý 1 2 1 5 Giáo dục công dân 1 1,5 1,5 6 Tóan 3 3 3 7 Vật lý 2 2 0 8 Hóa 2 2 0 9 Sinh 1 1 1 10 11 Tiếng nước ngòai 1 Tiếng nước ngòai 2 4 3 4 3 6 3 12 Kĩ thuật 2 2 2 13 Thể dục quốc phòng 2 2 2 Cộng 26 27,5 27,5 1. Về kế họach dạy học trên lớp: a/ Năm học của PTTH ở lớp 10 và lớp 11 gồm 34 tuần, lớp 12 học 33 tuần. Trường nào có lao động sản xuất và dạy nghề thêm 2 tuần ở lớp 10 và 3 tuần ở lớp 11. Mỗi tiết học (hoặc họat động) dài 45 phút. b/ Môn giáo dục công dân bao gồm kiến thức phổ thông cơ bản về pháp luật, đạođức, triết học Marx-Lenin, đường lối cách mạng của Đảng. c/ Tin học là môn học được dạy ở PTTH. ở lớp 10 và lớp 11 ban A dạy 1 tiết/tuần. Các ban khác học 15 tiết trong chương trình Đại số lớp 10. Riêng Ban B, nơi có điều kiện thì thực hiện như ban A. d/ Kĩ thuật được thực hiện trong 2 tiết trên lớp và ngòai giờ lên lớp, trong buổi lao động và trong hè. c/ Việc phân ban ở từng trường do Sở giáo dục quyết định căn cứ vào các điều kiện khả thi: giáo viên, học sinh, cơ sở vật chất - kĩ thuật giáo dục, tài chính. v.v.. g/ Môn thể dục quốc phòng được dạy 2 tiết/tuần; riêng quân sự có thể dạy tập trung trong 1 tuần.
-
Giáo dục lao động, kĩ thuật tổng hợp, hướng nghiệp và chuẩn bị nghề: a/ Phải quán triệt nguyên tắc giáo dục kĩ thuật tổng hợp trong tòan bộ họat động dạy và học ở tất cả các lớp, trong đó môn kĩ thuật có vai trò chủ công. b/ Công tác hướng nghiệp được thực hiện qua: dạy và học các môn văn hóa khoa học; dạy học lao động kĩ thuật; lao động sản xuất sinh họat hướng nghiệp; họat động ngọai khóa. c/ Lao động sản xuất được xếp thành buổi riêng để thực hành kĩ thuật, rèn luyện tay nghề, làm ra sản phẩm hàng hóa. d/ Lao động công ích: xây dựng trường lớp, sân bãi thể dục thể thao; tham gia chống bão và xây dựng các công trình thanh niên (giao thông, thủy lợi, văn hóa,..); v.v.. Lao động sản xuất (hoặc lao động công ích) trong hè tập trung làm 1 - 2 đợt. e/ Sinh họat hướng nghiệp: Tìm hiểu tình hình ngành nghề và nhiệm vụ kinh tế - xã hội của cả nước và địa phương; tìm hiểu các họat động ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất và đời sống của địa phương; tham gia các cuộc thi tay nghề; triển lãm thành tích khoa học, kĩ thuật; v.v.. Các họat động trên cần được vận dụng sát đặc điểm của trường và địa phương. g/ Chuẩn bị nghề và dạy nghề phổ thông trên cơ sở: - Dạy sâu hơn phần môn kĩ thuật tương ứng để bảo đảm phần lí thuyết. - Tăng cường thực hành kĩ thuật kết hợp với lao động sản xuất hàng tuần, trong hè để rèn tay nghề ở trường, ở gia đình, ở trung tâm KHTH - HN, trung tâm dạy nghề hoặc ở cơ sở sản xuất. Mỗi trường lập danh mục các nghề phổ thông và kế họach dạy nghề đó tùy thuộc vào nhu cầu sử dụng của địa phương và điều kiện thực hiện.
-
Công tác giáo dục ngòai giờ lên lớp được thực hiện thông qua các họat động của học sinh trong các lĩnh vực. a/ Xã hội chính trị: phụ trách đội TNTP Hồ Chí Minh; tham gia họat động giáo dục trẻ em trước tuổi học chống mù chữ, dạy bổ túc văn hóa cho nhân dân lao động, tuyền truyền chính sách của Đảng và Nhà nước, xây dựng nếp sống văn hóa, bài trừ mê tín dị đoan; chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng, họat động kết nghĩa; v.v.. b/ Văn hóa nghệ thuật: tham quan công trình văn hóa, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, triển lãm nghệ thuật; kết nghĩa với các đơn vị văn hóa nghệ thuật chuyên nghiệp (thư viện, nhà hát, đòan văn công...); sinh họat tổ ngọai khóa nghệ thuật; tham gia thi sáng tác (văn, thơ, kịch, họa, nhạc, báo tường,...) mỗi năm học tổ chức một lần biểu diễn hoặc hội thi văn nghệ. c/ Thể dục thể thao, quốc phòng: tham gia tuần tra bảo vệ trường, tìm hiểu ngành nghề thuộc các lĩnh vực thể dục thể thao, an ninh quốc phòng tham gia chương trình luyện tập, biểu diễn, thi đấu của các đội điền kinh, bóng, cầu, đội cứu thương, chữa cháy phòng cháy, tuần tra dân phòng; kết nghĩa với các đơn vị công an, bộ đội, với các đơn vị dân cư về công tác bảo vệ trật tự và an ninh xã hội, luyện tập quân sự. Công tác giáo dục ngòai giờ lên lớp được tiến hành: a/ Hàng ngày: vui chơi ca hát, thể dục giữa các tiết học (tổng cộng 30 phút) trực nhật ở trường lớp; lao động giúp gia đình v.v.. b/ Hàng tuần: chào cờ đầu tuần, họat động trực tuần. c/ Hàng tháng: tổ chức phát động, đánh giá, sơ kết thi đua, hội thảo chuyên đề theo nội dung kỉ niệm các ngày lễ lớn, họat động ngày cao điểm (lao động công ích, công tác xã hội, hội diễn văn nghệ, thể dục, cắm trại), tổ chức theo quy mô thích hợp với điều kiện địa phương. d/ Họat động hè (học sinh lớp 10, lớp 11): sinh họat ở câu lạc bộ văn nghệ, thể dục thể thao; tham quan cắm trại, lao động công ích, lao động sản xuất giúp gia đình; công tác xã hội, an ninh quốc phòng ; ôn tập. Khi tiến hành các họat động trên, phải bảo đảm giữ gìn sức khỏe và an tòan cho từng học sinh. IV. PHƯƠNG PHÁP ĐÀO TẠO Phương pháp đào tại là hệ thống phương pháp dạy và học, giáo dục và tự giáo dục, bao gồm các con đường, các cách thức, các biện pháp tổ chức họat động dạy học của giáo viên và học sinh ở trên lớp và ngòai giờ lên lớp, gắn chặt với các hình thức và phương tiện đào tạo thích hợp, làm cho học sinh lĩnh hội được nội dung đào tạo, nhằm tác động một cách tổng hợp đến sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh theo mục tiêu đào tạo. Phương pháp đào tạo quán triệt tinh thần dân chủ hóa, quán triệt nguyên lí học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội. A - HỆ THỐNG PHƯƠNG PHÁP ĐÀO TẠO Hệ thống phương pháp dạy và học Tùy theo nội dung dạy học, người giáo viên lựa chọn và phối hợp các phương pháp:
-
Các phương pháp nghiên cứu tài liệu mới;
-
Các phương pháp vận dụng kiến thức, kĩ năng,...;
-
Các phương pháp ôn tập và luyện tập kiến thức;
-
Các phương pháp hệ thống hóa, khái quát hóa;
-
Các phương pháp kiểm tra, đánh giá. Khi vận dụng các phương pháp đào tạo, người giáo viên phải hướng cho học sinh nâng dần tính độc lập lĩnh hội nội dung đào tạo; phải coi trọng các phương pháp tích cực, như trực quan, luyện tập, thực hành, thí nghiệm, công tác tự lực của học sinh; đặc biệt lưu ý tới kiểu tổ chức dạy học nêu vấn đề, hướng học sinh vào tự lực tìm tòi và tập dượt nghiên cứu khoa học (cá nhân, nhóm, tập thể). Tích cực sử dụng các đồ dùng dạy học, thiết bị thí nghiệm, các phương tiện nghe - nhìn, máy tính điện tử. v.v... Trong khi tiến hành dạy và học, cần triệt để khai thác khả năng giáo dục của từng môn học trong một hệ thống xác định, như giáo dục thế giới quan nhân sinh quan, giáo dục thẩm mĩ, giáo dục các phẩm chất của người lao động, giáo dục kĩ thuật tổng hợp, hướng nghiệp, chuẩn bị nghề, v.v.. Hệ thống phương pháp giáo dục Ở lứa tuổi thanh niên, học sinh PTTH có nhu cầu và hứng thú hiểu biết những quy luật của thế giới tự nhiên, xã hội, tư duy, muốn tự khẳng định bản thân trong tập thể, có nhiều suy nghĩ trong quá trình hình thành lí tưởng sống, lí tưởng nghề nghiệp. Vì vậy, khi lựa chọn phương pháp giáo dục, cần chú ý các phương pháp;
-
Các phương pháp tác động đến ý thức của học sinh, như nêu gương, khuyến khích...;
-
Các phương pháp rèn luyện qua họat động (lao động, họat động xã hội, các họat động sáng tạo khác);
-
Các phương pháp tự quản. Khi vận dụng các phương pháp trên cần chú trọng hiệu quả giáo dục đối với tập thể học sinh và từng cá nhân học sinh. B. CÁC YÊU CẦU CƠ BẢN
-
Bảo đảm sự thống nhất của phương pháp đào tạo với mục tiêu đào tạo và nội dung đào tạo. Phương pháp đào tạo phải phù hợp với mục tiêu đào tạo, nội dung đào tạo, bảo đảm thực hiện có chất lượng và hiệu quả cao mục tiêu đào tạo của trường PTTH. Phương pháp đào tạo phải làm cho học sinh tự mình nắm một cách tự giác, tích cực nội dung dạy học và giáo dục của bậc học, trong từng môn học, trong từng họat động giáo dục và trong tòan bộ họat động của trường học.
-
Bảo đảm sự thống nhất giữa đào tạo và tự đào tạo Đào tạo và tự đào tạo là hai thành tố của một quá trình thống nhất. Mục tiêu đào tạo chỉ đạt được khi bảo đảm sự thống nhất của họat động dạy và học: dạy học và giáo dục, giáo dục và tự giáo dục. Đối với học sinh PTTH, phải đặc biệt coi trọng vấn đề tự học, tự rèn luyện, tự giáo dục. Kết hợp thường xuyên và có hiệu quả tính chủ đạo của giáo viên và tính chủ động tích cực năng động của mỗi học sinh, nhằm giúp họ tự giác lĩnh hội các giá trị tinh thần và văn hóa của lòai người. Sự thống nhất giữa đào tạo và tự đào tạo chỉ được đảm bảo và có hiệu quả khi người giáo viên thực sự gương mẫu, tôn trọng và thương yêu học sinh.
-
Đào tạo học sinh trong và bằng họat động đào tạo. Nhân cách học sinh không thể hình thành và phát triển chỉ đơn thuần trong những giờ lên lớp, mà còn được hình thành và phát triển trong và bằng tổ hợp các lọai hình họat động đa dạng (nhận thức khoa học, định hướng giá trị lao động sản xuất, công tác xã hội, thể dục thể thao, văn hóa thẩm mĩ, vui chơi giải t rí, ...), có ý nghĩa xã hội tích cực, được phối hợp chặt chẽ và được tổ chức đúng đắn về mặt sư phạm.
-
Giáo dục học sinh trong tập thể và thông qua tập thể. Phương pháp đào tạo phải đặc biệt coi trọng việc xây dựng tập thể học sinh, trước hết là xây dựng đòan TNCS Hồ Chí Minh. Hiệu đòan học sinh trong trưởng thành một tập thể tự quản vững mạnh về tư tưởng và tổ chức với những họat động đa dạng, có hiệu quả giáo dục cao. Phải tổ chức cho tất cả học sinh tham gia họat động tập thể, nhằm phát triển mọi năng lực và phẩm chất của từng cá nhân học sinh và của cả tập thể học sinh, phát huy vai trò tích cực, chủ động, năng động, sáng tạo của mỗi học sinh và vai trò tự quản của tập thể học sinh trong quá trình học tập và rèn luyện. Phương pháp tác động cá nhân cần sử dụng song song và dựa vào phương pháp giáo dục trong tập thể và thông qua tập thể. Cần chú ý đối tượng tác động giáo dục của nhà sư phạm vừa là từng cá nhân học sinh, vừa là cả tập thể học sinh, đồng thời là chủ thể của quá trình đào tạo. Khi vận dụng các phương pháp giáo dục, một mặt phải phát huy hết cá tính, năng khiếu, khuynh hướng phát triển của từng học sinh, mặt khác, phải bảo đảm nền nếp, kỉ cương, kỉ luật của nhà trường và xã hội, tránh tình trạng buông lỏng, né tránh, dẫn tới vô tổ chức, vô kỉ luật.
-
Phù hợp với đặc điểm sinh lí và tâm lý lứa tuổi và cá nhân Phương pháp đào tạo phải phản ánh được đặc trưng của lọai hình họat động đào tạo và phù hợp với sinh lí và tâm lý của lứa tuổi học sinh PTTH cũng như các đặc điểm hình thành và phát triển nhân cách của mỗi học sinh. Tính tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh thường bắt nguồn từ nhu cầu và hứng thú của bản thân. Giáo viên cần nắm được đặc điểm này để tiến hành dạy học và giáo dục. Phương pháp họat động phải phân hóa họat động của học sinh, kết hợp sự phát triển của tập thể với sự tiến bộ của từng cá nhân, coi trọng bồi dưỡng học sinh giỏi, học sinh năng khiếu và giúp đỡ học sinh kém. Sự phân hóa, tạo điều kiện thuận lợi về hướng nghiệp và chuẩn bị nghề cho học sinh.
-
Lựa chọn, phối hợp, tích hợp tối ưu phương pháp đào tạo Không có phương pháp vạn năng. Hệ thống phương pháp dạy học và giáo dục cần được vận dụng tối ưu. Muốn lựa chọn đúng và phối hợp với các phương pháp đào tạo để phát huy tối ưu tác dụng của chúng trong họat động dạy và học, giáo dục và tự giáo dục, phải nắm vững: mục tiêu đào tạo; nội dung đào tạo; bản chất từng phương pháp, hình thức, tổ chức, phương tiện dạy học, giáo dục, tự giáo dục, chung và riêng từng môn học, từng họat động giáo dục; đặc điểm sinh lý và tâm lý của từng lứa tuổi và của mỗi học sinh; điều kiện và hòan cảnh dạy học, giáo dục;... coi trọng tính vừa sức trong dạy học và giáo dục, phát huy cố gắng của học sinh, đề phòng quá tải trong lao động của học sinh và giáo viên. Người giáo viên phải biết lựa chọn, phối hợp, tích hợp tối ưu các phương pháp dạy học.
-
Lọai trừ các phương pháp đào tạo không phù hợp Kiên quyết lọai trừ các phương pháp dạy học và giáo dục trái với mục tiêu đào tạo như: phương pháp thuyết giáo "nhồi sọ" học sinh, lí thuyết viển vông, xa rời thực tiễn, học không đi đôi với hành, trí dục tách rời đức dục, luyện tập hành vi không gắn với nâng cao ý thức và xây dựng động cơ. Khi gắn việc giảng dạy, giáo dục, học tập và rèn luyện với đời sống và lao động sản xuất cần đề phòng những sai lầm, lệch lạc mang tính thực dụng, biểu hiện ở chỗ coi nhẹ việc làm cho học sinh nắm khái niệm và quy luật cơ bản đã được quy định trong chương trình, coi nhẹ việc trau dồi cho học sinh kĩ năng, kĩ xảo vận dụng các khái niệm và quy luật vào thực tiễn mà chỉ chú trọng cung cấp cho học sinh hiểu biết và kĩ năng có tính kinh nghiệm chủ nghĩa, mang tính tình huống vụn vặt, rời rạc, không kết hợp chặt chẽ với kiến thức lí luận có hệ thống, với việc thể nghiệm kinh nghiệm cụ thể trong cuộc sống. Cấm các hành động dọa nạt, đánh mắng, trù dập... xâm phạm đến cơ thể và xúc phạm đến nhân phẩm học sinh. C. NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG PBÁP
-
Cải tiến các hình thức tổ chức dạy học và giáo dục: Tiếp tục cải tiến và hòan thiện bài lên lớp (theo nghĩa rộng) với tư cách là hình thái tổ chức cơ bản của quá trình dạy học. Cũng phải cải tiến các hình thức tổ chức dạy học và giáo dục khác như: hướng dẫn tự học ở lớp, ở nhà, ở thư viện, tự tìm tòi, tập dượt nghiên cứu khoa học qua sách báo, trong phòng thí nghiệm, trong thực tế... bồi dưỡng học sinh kém, học sinh giỏi; tham quan di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, bảo tàng, nghe báo cáo về người tốt, việc tốt; sinh họat tổ ngọai khóa, câu lạc bộ; hành quân cắm trại; biểu diễn nghệ thuật minh họa một số tác phẩm đã học; v.v..
-
Phối hợp các hình thức làm việc cá nhân, nhóm, tổ, lớp, tòan trường, trong giờ lên lớp và ngòai giờ lên lớp, đại trà và có phân hóa; trong đó đặc biệt coi trọng hình thức làm việc cá nhân và nhóm tự nguyện (cùng chung hứng thú...).
-
Từng bước trang bị phương tiện kĩ thuật hiện đại và tận dụng phương tiện hiện có để nâng hiệu quả đào tạo, giảm nhẹ yếu tố nặng nhọc và đơn điệu trong dạy, học, phát triển năng lực sáng tạo của giáo viên và học sinh. Từng bước xây dựng cơ sở vật chất - kĩ thuật giáo dục để thực hiện dạy và học theo phòng bộ môn và bảo đảm hiệu quả của các họat động giáo dục sức khỏe, quân sự, hướng nghiệp, thẩm mỹ, truyền thống, v.v.. Tăng cường cơ sở vật chất - kĩ thuật, các phương tiện nghe - nhìn hiện đại, đặc biệt là kĩ thuật tin học, và sử dụng bảo quản tốt các thiết bị dạy học này.
-
Phối hợp chặt chẽ các lực lượng giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội trên cơ sở thống nhất về mục tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo nhằm tạo nên một quá trình giáo dục thống nhất, liên tục, hài hòa và tòan vẹn. V. ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ ĐƯỢC ĐÀO TẠO CỦA HỌC SINH Đánh giá t rình độ được đào tạo của học sinh (gọi tắt là đánh giá) là xác định mức độ kết quả học tập và rèn luyện mà học sinh đạt được theo mục tiêu và chuẩn đào tạo. Đây là khâu quan trọng bảo đảm thực hiện kế họach đào tạo, có ý nghĩa to lớn về sư phạm và xã hội. A. NGUYÊN TẮC
-
Tòan diện. Đánh giá trình đô kiến thức, kỹ năng, thái độ mà học sinh đạt được về hai mặt cơ bản của nhân cách học sinh theo mục tiêu và kế họach đào tạo. Từng bước đánh giá kết quả học tập tất cả các môn học trong kế họach đào tạo được thực hiện.
-
Phát triển, lịch sử. Đánh giá thường xuyên và định kì, đánh giá trong quá trình nhằm phản ánh đầy đủ và đúng đắn trình độ phát triển của học sinh về mọi mặt, đánh giá đúng phẩm chất, năng lực, tốc độ tiến bộ và triển vọng của học sinh, đánh giá sát đối tượng, sát điều kiện dạy và học.
-
Thống nhất. Kết hợp đánh giá từng mặt và tổng thể theo chuẩn và thang đánh giá đối với từng môn học, từng mặt giáo dục và đánh giá chung tổng hợp về từng học sinh. Chuyển dần việc đánh giá theo các môn học.
-
Khách quan, công khai, dân chủ. Có họat động dạy và học mới đánh giá; giáo viên đánh giá là chính, có phối hợp với tự đánh giá của học sinh và sự đánh giá của các lực lượng giáo dục khác, đánh giá công khai, công bằng, chính xác. B. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
-
Đánh giá tập trung vào hai mặt cơ bản của nhân cách học sinh a. Phẩm chất đạo đức (hạnh kiểm....). Đánh giá thông qua các biểu hiện của nhận thức và hành vi trong xã hội, thái độ của học sinh trong học tập, lao động, họat động tập thể, họat động xã hội, văn nghệ, quan hệ với mọi người trong lớp, trong trường, trong gia đình, trong xã hội và trong việc chấp hành kỉ luật, pháp luật, trong thái độ rèn luyện sức khỏe, quân sự, v.v... b. Năng lực văn hóa khoa học kĩ thuật. Đánh giá kết quả học tập các môn văn hóa, khoa học kĩ thuật: cả lí thuyết và thực hành, có kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, tay nghề và trình độ phát triển tư duy khoa học kĩ thuật của học sinh.
-
Chuẩn và thang đánh giá Năng lực và phẩm chất của từng học sinh được đánh giá theo một hệ thống chuẩn. Các môn học được đánh giá theo thang 11 điểm, từ 0 - 10, có sử dụng hệ số bộ môn. Phẩm chất đạo đức và kết quả học tập được xếp theo 5 lọai: kém, yếu, trung bình, khá, giỏi. C. HÌNH THỨC VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
-
Thường xuyên. Đánh giá kết quả học tập và rèn luyện của học sinh trong từng tiết học, từng họat động ở trong và ngòai trường.
-
Định kì. Đánh giá tổng hợp kết quả học tập và rèn luyện của học sinh vào cuối mỗi học kì, cuối năm học, cuối bậc học. Việc đánh giá thường xuyên và định kì nhằm xác định kết quả học tập và rèn luyện của học sinh một cách đúng đắn, ghi chép chính xác và kịp thời kết quả đánh giá việc kiểm tra đánh giá, ghi điểm thường xuyên để phản ánh trung thực kết quả của quá trình học tập và rèn luyện của học sinh là cơ sở quan trọng để xem xét trong thi cử.
-
Thi và xét tốt nghiệp cuối bậc PTTH là cuộc tổng kiểm tra và đánh giá có tính chất quốc gia đối với việc đào tạo của mỗi trường học, mỗi địa phương, theo quy chế của Bộ giáo dục.
-
Thi tuyển. Đánh giá phẩm chất và năng lực người dự tuyển vào lớp 10 nhằm chọn một số lượng học sinh theo quy định.
-
Thi chọn học sinh giỏi. Đánh giá để chọn học sinh có năng khiếu về từng mặt, từng môn theo chuẩn chất lượng cao. VI. ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN VÀ CÁN BỘ QUẢN LÍ TRƯỜNG PTTH A - ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN Vai trò và nhiệm vụ Đội ngũ giáo viên - lực lượng trung tâm trong sự nghiệp giáo dục - giữ vai trò quyết định việc thực hiện mục tiêu và kế họach đào tạo. Giáo viên có nhiệm vụ dạy tốt môn học mình phụ trách, tổ chức hướng dẫn học sinh học tập văn hóa khoa học, kĩ thuật, lao động, hướng nghiệp, học nghề, phổ thông và sinh họat tập thể nhằm thực hiện mục tiêu đào tạo của bậc học. Yêu cầu cơ bản đối với giáo viên Đội ngũ giáo viên trường PTTH là một tập thể sư phạm thống nhất, thực hiện đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng cộng sản Việt Nam và nhà nước CHXHCN Việt nam, mà chất lượng và hiệu quả giáo dục chung của tập thể này được quyết định bởi chất lượng từng thành viên, số lượng, cơ cấu và chất lượng của cả đội ngũ và các biện pháp quản lí đội ngũ.
-
Chất lượng giáo viên trường PTTH là những người trí thức mới có nhân cách xã hội chủ nghĩa, có tâm hồn cao thượng, có lương tâm, có ý thức trách nhiệm và lí tưởng nghề nghiệp của người giáo viên xã hội chủ nghĩa, thiết tha yêu nghề, yêu trẻ, vì thế hệ trẻ mà phấn đấu, có tay nghề đủ năng lực chuyên môn nghiệp vụ để hòan thành nhiệm vụ. a. Về tư tưởng, chính trị, đạo đức: Trung thành với Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, có tinh thần quốc tế chân chính, giàu tình thương, trọng lẽ phải, trung thành và khiêm tốn, cần cù và giản dị, gắn bó với nhân dân và biết dựa vào nhân dân, có tinh thần làm chủ, không ngừng học tập tự bồi dưỡng, gương mẫu chấp hành đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, làm tròn nhiệm vụ được giao, nêu gương tốt cho học sinh noi theo. b. Về văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ: Đạt trình độ đào tạo chuẩn do Bộ Giáo dục quy định; hiểu biết tinh hình chung của đất nước, tình hình kinh tế văn hóa xã hội và nghề nghiệp ở địa phương; thực hiện chương trình bồi dưỡng thường xuyên về văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ, không ngừng nâng cao năng lực để dạy tốt môn học mình phụ trách, đáp ứng được yêu cầu phân ban, tham gia các họat động giáo dục học sinh, có năng lực tổ chức phối hợp họat động giáo dục giữa trường học với gia đình và các lực lượng xã hội.
-
Số lượng. a. Yêu cầu về số lượng đội ngũ giáo viên (giám thị, nhân viên) trường PTTH được quy định theo các định mức chung của Nhà nước. Các định mức này được áp dụng cho từng lọai hình trường, lớp, căn cứ vào mục tiêu, kế họach đào tạo cụ thể, có tính đến đặc thù của địa bàn về địa lí, dân cư. Yêu cầu về số lượng đội ngũ giáo viên phải được bảo đảm cho từng trường PTTH, cho từng môn học và các mặt giáo dục cần thiết (lao động, họat động ngòai giờ lên lớp, v.v...) của từng trường, căn cứ vào kế họach đào tạo ứng với từng lọai hình trường. b. Việc bảo đảm đủ số lượng giáo viên cho trường PTTH là trách nhiệm của UBND tỉnh (thành phố, đặc khu) và Sở Giáo dục.
-
Cơ cấu đội ngũ Đội ngũ giáo viên PTTH trong từng trường phải được đồng bộ về lọai hình, trình độ và được bố trí sử dụng hợp lý. a. Lọai hình giáo viên; - Mỗi trường PTTH phải có đủ các lọai hình giáo viên, giám thị, nhân viên, để dạy tất cả các môn học và phụ trách các mặt họat động ghi trong kê họach đào tạo. Giáo viên PTTH dạy một môn học hoặc hai môn học (dựa trên cơ sở đào tạo và bồi dưỡng). - Việc dạy nghề cho học sinh PTTH, tùy điều kiện cụ thể từng địa phương, được tiến hành hoặc tại các trung tâm giáo dục kĩ thuật tổng hợp, hoặc tại các cơ sở dạy nghề, cơ sở sản xuất gần trường (xí nghiệp, hợp tác xã...) hoặc tại chính trường PTTH. Giáo viên dạy nghề có thể là giáo viên ở các trung tâm KTTH-HN, cơ sở dạy nghề, kỹ sư, cán bộ kĩ thuật, công nhân lành nghề,... của xí nghiệp, hợp tác xã... - nơi dạy nghề cho học sinh - hoặc giáo viên của chính trường PTTH đã được bồi dưỡng để có năng lực dạy nghề. b.Trình độ đào tạo: - Trình độ chuẩn chung của giáo viên các môn khoa học cơ bản ở PTTH là tốt nghiệp ĐHSP 4 năm (5 năm đối với giáo viên tiếng nước ngòai). Trong giai đọan trước mắt, một số môn như thể dục quốc phòng, các họat động ngòai giờ lên lớp, lao động,... có thể sử dụng giáo viên có trình độ cao đẳng. Các giáo viên chưa đạt trình độ đào tạo chuẩn phải được bồi dưỡng chuẩn hóa, bảo đảm truyền thụ tốt mức độ kiến thức tối thiểu thống nhất của chương trình PTTH cho các lọai đối tượng học sinh thuộc tất cả các lọai hình trường PTTH. Đội ngũ giáo viên dạy các lớp chuyên, các lớp chọn, các lớp phân ban là giáo viên được chọn lọc qua thực tế dạy học, cần được bồi dưỡng sau chuẩn (bao gồm bồi dưỡng thường xuyên theo chu kì dài hạn và bồi dưỡng sau đại học). Mỗi địa phương, mỗi trường PTTH thuộc bất kì lọai hình nào cũng phải từng bước xây dựng một bộ phận giáo viên cốt cán môn học. Bộ phận này được nâng cao trình độ bằng các hình thức bồi dưỡng và đào tạo sau đại học. Họ có năng lực dạy tốt môn học mình phụ trách, tham gia bồi dưỡng giáo viên cùng cấp, hướng dẫn học sinh sư phạm thực tập, tham gia kiểm tra, thanh tra chuyên môn và các họat động nghiên cứu thực nghiệm khoa học giáo dục về môn học ở địa phương. Đó cũng là nguồn cán bộ quản lí và tổ trưởng chuyên môn của trường và địa phương. Phải xây dựng quy họach đào tạo đội ngũ giáo viên cốt cán nói trên bằng nhiều con đường (chuyên tu, tại chức, tự học...), dựa vào chỉ tiêu đào tạo của nhà nước và nguồn kinh phí địa phương. Tiến tới có đủ nhân viên (văn thư, thí nghiệm, thư viện, thủ qũy, kế tóan, bảo vệ,...) được đào tạo cơ bản, đáp ứng yêu cầu các mặt họat động của trường học. B. ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ Vai trò, nhiệm vụ Hiệu trưởng là thủ trưởng của trường PTTH, Phó hiệu trưởng chịu trách nhiệm thực hiện các phần việc được Hiệu trưởng giao. Chất lượng quản lí của Hiệu trưởng có tác dụng quyết định đến việc tổ chức thực hiện kế họach đào tạo, đến việc phát huy tiềm năng và sáng tạo của tập thể giáo viên, học sinh. Dưới sự lãnh đạo của tổ chức Đảng, với sự cộng tác của Công đòan trường học, Đòan TNCS Hồ Chí Minh, của các tổ chức xã hội, và các cơ sở sản xuất, Hiệu trưởng tổ chức, huy động tập thể giáo viên và học sinh thực hiện kế họach đào tạo mà nhiệm vụ trung tâm là quá trình dạy học và giáo dục thế hệ trẻ hòan thành bậc học cuối cùng của hệ thống giáo dục phổ thông theo mục tiêu đào tạo. Yêu cầu cơ bản đối với cán bộ quản lí Người cán bộ quản lý phải có phẩm chất và năng lực của người giáo viên môn học, nhà sư phạm và nhà tổ chức, cụ thể là:
-
Về tư tưởng - chính trị, đạo đức: Trung thành với lí tưởng của Đảng, với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; quán triệt đường lối cách mạng và đường lối giáo dục của Đảng trong việc quản lí trường. Nhạy bén về chính trị. Gắn bó với thực tiễn kinh tế - xã hội của đất nước và địa phương. Có tinh thần trách nhiệm cao, có tính nguyên tắc, có ý thức tổ chức, năng động, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Gương mẫu về đạo đức, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, giữ gìn đòan kết nhất trí, thực sự là tấm gương sáng cho đồng nghiệp và học sinh noi theo. Có lòng nhân ái, tôn trọng và yêu cầu cao đối với quần chúng, hết lòng hết sức quan tâm tới quần chúng, gắn bó với quần chúng, dựa vào quần chúng.
-
Về trình độ chuyên môn: Có trình độ đào tạo chuẩn theo quy định của Bộ Giáo dục. Có năng lực dạy một môn học vào lọai khá trở lên. Có trình độ khoa học giáo dục vững vàng, kinh nghiệm sư phạm phong phú và có học vấn chung về các mặt văn hóa - nghệ thuật, khoa học - kĩ thuật và kinh tế.
-
Về năng lực quản lí trường học: Có trình độ đào tạo cơ bản về khoa học quản lí giáo dục theo quy định của Bộ Giáo dục. Có năng lực tổ chức quản lí, có kiến thức và kĩ năng thực hiện các chức năng của quản lí trường học (kế họach hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra - đánh giá); có kiến thức và kĩ năng tổ chức hành động, phát hiện các vấn đề của trường học, ra quyết định thích hợp. Có năng lực tốt về giao tiếp, thuyết phục và cảm hóa quần chúng. Người cán bộ quản lí phải luôn luôn tự bồi dưỡng, không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt để hòan thiện năng lực quản lí của bản thân và của đội ngũ cán bộ quản lí. VII. CƠ SỞ VẬT CHẤT - KĨ THUẬT GIÁO DỤC VÀ TÀI CHÍNH Cơ sở vật chất - kĩ thuật giáo dục của trường PTTH phải được đầu tư xây dựng tương ứng với mục tiêu và nhiệm vụ đào tạo. Đó là một trong các yếu tố cơ bản tạo nên chất lượng đào tạo con người mới. Tài chính là điều kiện có tính quyết định để thực hiện kế họach xây dựng, sử dụng và bảo quản có hiệu quả cơ sở vật chất - kĩ thuật giáo dục và bảo đảm cho các họat động khác của trường. Việc xây dựng, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất - kĩ thuật giáo dục thực hiện theo các quan điểm chủ yếu sau: - Nhà nước, nhân dân và trường học cùng có trách nhiệm xây dựng; - Xây dựng phải kết hợp chặt chẽ với sử dụng và bảo quản theo tinh thần phải chịu trách nhiệm, có hiệu quả; - Có kế họach lâu dài, có kế họach từng bước thực hiện, tiến tới hòan thiện theo phương hướng vừa tiếp cận tiến bộ khoa học kĩ thuật thế giới vừa phù hợp với hòan cảnh của đất nước. A. CƠ SỞ VẬT CHÂT - KI THUẬT GIÁO DỤC Cơ sở vật chất - kĩ thuật giáo dục của trường PTTH phải từng bước được bảo đảm đầy đủ, đúng quy cách, đồng bộ và phù hợp với yêu cầu đào tạo theo yêu cầu phân ban, yêu cầu cải cách nội dung, phương pháp dạy và học, yêu cầu thực hiện các họat động giáo dục, trong đó chú ý đúng mức đến giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề. Việc xây dựng cơ sở vật chất - kĩ thuật giáo dục phải phù hợp với hòan cảnh kinh tế - kĩ thuật - xã hội của đất nước, của địa phương, từng bước tiếp vận với khoa học - kĩ thuật hiện đại và phải đáp ứng với đòi hỏi và triển vọng phát triển của nền sản xuất Việt Nam trong những thập kỉ tới.
-
Trường sở phải được cải tạo và xây dựng phù hợp với từng lọai hình trường. a. Trường sở hiện có phải được cải tạo và xây dựng thêm theo hướng đáp ứng yêu cầu của các mặt giáo dục và vệ sinh học đường, dần dần từng bước thực hiện phương thức dạy và học mới - dạy và học trong hệ thống phòng học bộ môn. b. Trường sở mới bao gồm: - Khối học tập là khối công trình quan trọng nhất, gồm một hệ thống phòng học (phòng học thông thường, phòng thí nghiệm, thực hành, phòng học bộ môn). - Khối thực hành lao động kĩ thuật tổng hợp, dạy nghề, gồm các lọai xưởng (mộc, rèn, nguội, cơ điên...), các cơ sở thực nghiệm lao động sản xuất nông nghiệp (vườn, ao, chuồng, trại), kho chứa (vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm). - Khối phục vụ học tập và giáo dục: phòng truyền thống nhà trường, thư viện, phòng tập, hội trường, sân bãi, câu lạc bộ, bể bơi, vườn trường... - Khối phục vụ công tác chuyên môn: phòng làm việc của Hiệu trưởng, Phó hiệu trường, các tổ chuyên môn... - Khối phục vụ sinh họat: phòng thường trực, phòng khách, phòng y tế, nơi phục vụ giải khát, nghỉ ngơi, vệ sinh (nhà xí, hố tiểu, buồng tắm),v.v.. - Khối hành chính quản trị, văn phòng trường. Ngòai các khối công trình chính kể trên, ở các trường nông thôn phải có khu tập thể gia đình giáo viên, kí túc xá, nhà ăn. Khu này phải bố trí cách biệt với khu trường; có lối ra vào riêng. c. Trường cần đặt ở trung tâm khu dân cư, phù hợp với quy họach chung của huyện (quận), học sinh đi lại thuận tiện, an tòan, yên tĩnh, thuận tiện cho việc giảng dạy, học tập, phù hợp với yêu cầu vệ sinh (khô ráo thóang mát, sạch sẽ, không gần các nguồn độc hại) và có điều kiện thuận tiện trong việc cung cấp điện, sử dụng cơ sở vật chất - kĩ thuật, kinh tế, văn hóa khoa học của địa phương. d. Cơ sở vật chất kĩ thuật giáo dục của trường PTTH rất lớn, cần xây dựng dần, nhưng trước mắt phải bảo đảm các yêu cầu tối thiểu - Đủ phòng học không quá hai ca trong ngày. - 1 phòng thiết bị giáo dục, 1 phòng thí nghiệm thực hành (dùng chung cho các môn học). - 1 xưởng trường, 1 phòng hướng nghiệp; - Thư viện, có phòng đọc sách cho học sinh, giáo viên - Phòng truyền thống, phòng Đòan và Công đòan; - Sân chơi, bãi tập thể dục thể thao. - Các cơ sở thực hành lao động và sản xuất (vườn trường, ruộng trường...), nhà kho. - Phòng làm việc của Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, giáo viên, Văn phòng, phòng hội đồng sư phạm, phòng thường trực. - Cột cờ (và quốc kì) đúng quy cách; - Nhà ở tập thể của giáo viên và gia đình giáo viên, nhà ăn, nhà tắm, nhà vệ sinh; - Tường (hoặc hàng rào) bao quanh chắc chắn và đẹp, có cổng trường và phòng thường trực; - Hệ thống cây xanh và cây cảnh trồng hợp lý trong khu trường Mỗi trường PTTH cần được xây dựng trên một diện tích đất tối ưu, tùy theo lọai trường và điều kiện địa phương.
-
Sách, báo Sách giáo khoa có giá trị hàng đầu, không thể thiếu trong cơ sở vật chất - kĩ thuật giáo dục, bao gồm: - Sách cho học sinh: sách giáo khoa, sách bài tập và thực hành, sách và tài liệu đọc thêm, sách tra cứu (từ điển, atlat, bản đồ, các hàng tra cứu chuyên môn...) - Sách cho giáo viên: sách giáo khoa, sách hướng dẫn giảng dạy, sách công cụ, sách và tài liệu đọc thêm, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ. - Các lọai tạp chí: Nghiên cứu giáo dục, Thông tin khoa học giáo dục, các chuyên san giáo dục, các tạp chí, tập san Trung ương và địa phương. - Các báo: Nhân dân, báo địa phương, Giáo viên nhân dân, Tiền phong, Phụ nữ, Văn nghệ, khoa học và đời sống. Ngòai ra, trường còn cần được mua các báo: Quân đội nhân dân, Lao động, Thể dục thể thao, tóan học và tuổi trẻ... Thư viện của trường phải bảo đảm đúng tiêu chuẩn, quy cách do Bộ đề ra (về số lượng, chủng lọai sách, báo chí, về phương thức sử dụng, v.v..)
-
Thiết bị giáo dục và các phương tiện khác a. Các lọai thiết bị cần có Tranh ảnh, bản đồ các tài liệu in khác, mẫu vật, mô hình, máy móc, dụng cụ. Cần từng bước có trọng điểm trang bị phương tiện nghe - nhìn, phim đèn chiếu, phim dương bản, bản trong, phim điện ảnh, băng ghi âm, băng ghi hình. Bảo đảm đủ thiết bị và vật liệu tiêu hao cho dạy học và hành. Các lọai đồ gỗ, bàn, ghế học sinh và giáo viên, bảng, tủ, các lọai giá để ở lớp học, phòng học bộ môn, phòng thí nghiệm, phòng hướng nghiệp, thư viện, xưởng trường. Các thiết bị để tổ chức lao động sản xuất, luyện tập quân sự, thể dục thể thao vv... Bảo đảm cho giáo viên và cán bộ về phương tiện làm việc: bàn ghế cá nhân, giấy, bút mực, phấn, dầu đèn, v.v.. b. Tổ chức trang bị, sử dụng và bảo quản - Thiết bị và đồ gỗ cần được trang bị dần và đủ về chủng lọai và số lượng theo bản tiêu chuẩn quy định và hướng dẫn cụ thể của Bộ về mức trang bị tối thiểu đối với từng lọai trường và mức trang bị mở rộng từng bước theo thời gian. - Trang bị từng bước có trọng điểm, kết hợp chặt chẽ giữa điểm và diện, giữa trước mắt và lâu dài, phân ban và không phân ban; từ thiết bị phục vụ chứng minh đến thiết bị thực hành và thiết bị phục vụ các họat động giáo dục khác. Đối với thiết bị qúy hiếm và đắt tiền, như thiết bị điện tử, thiết bị nghe nhìn, thiết bị phục vụ lao động kĩ thuật và dạy nghề, máy tính điện tử... phải được tổ chức dùng chung một cách hợp lí. Bảo đảm tính đồng bộ trong các phạm vi khác nhau của thiết bị và bảo đảm sự phù hợp giữa thiết bị với điều kiện bảo quản, sử dụng (nhà cửa, trình độ giáo viên và cán bộ chuyên trách...). - Kết hợp mua sắm ở Trung ương với mua sắm ở địa phương, mua sắm bằng kinh phí nhà nước cấp với tiền của trường làm ra và thu được (do lao động sản xuất, do cha mẹ học sinh, nhân dân đóng góp); kết hợp mua sắm với tự làm, tự tạo của trường. Chú ý đúng mức việc tự làm và tổ chức tự làm một cách có hiệu quả thiết bị giáo dục, coi đó là họat động không những có ý nghĩa kinh tế mà còn có ý nghĩa giáo dục và khoa học. - Làm tốt công tác bảo quản thiết bị, hạn chế đến mức tối đa hư hao (han gỉ, mốc , mối mọt, hư hao trong di chuyển, sử dụng, hư hao vô hình...) - Trang bị cái mới đồng thời phải tu sửa cái hỏng, tận dụng cái cũ. Hiệu quả sử dụng là nguyên tắc cao nhất và là mục đích cuối cùng của việc trang bị. Trường PTTH cần có biện pháp phát huy tối đa hiệu quả sử dụng cơ sở vật chất - kĩ thuật giáo dục. - Song song với kế họach trang bị cần xây dựng kế họach sử dụng cơ sở vật chất - kỹ thuật của trường. Kế họach này phải được đưa vào kế họach họat động của tổ chuyên môn, kế họach dạy học của từng giáo viên. Hiệu trưởng phải duyệt các kế họach này ngay từ đầu năm học, đầu kỳ học. Trong các kế họach này, cần bảo đảm tận dụng thiết bị hiện có để thực hiện đến mức tối đa các yêu cầu Bộ quy định về chứng minh và thực hành. Mặt khác, Hiệu trưởng phải tạo thuận lợi cho giáo viên và học sinh sử dụng sách và thiết bị cũng như thường xuyên kiểm tra, đánh giá hiệu quả sử dụng. - Trong việc sử dụng cơ sở vật chất kĩ thuật giáo dục, các đơn vị giáo dục ở cùng một địa phương cần liên kết với nhau, đặc biệt là giữa các trường PTTH, giữa trường PTTH với các trung tâm KTTH - HN, các trung tâm thí nghiệm thực hành của các trường PTCS, với các trường sư phạm và các cơ sở giáo dục nhận viện trợ quốc tế về thiết bị. Đồng thời, cần tranh thủ cơ sở vật chất - kĩ thuật của các trường và cơ quan đóng ở địa phương, cơ sở sản xuất, nghiên cứu khoa học, kĩ thuật, trạm máy kéo, trạm gây giống, trạm khí tượng thủy văn... - Để làm tốt công tác sử dụng thiết bị giáo dục, trường cần phải thường xuyên bồi dưỡng cho giáo viên kĩ năng và phương pháp sử dụng thiết bị giáo dục, nâng cao trình độ nghiệp vụ quản lí cho cán bộ chuyên trách thiết bị. Trường có thể tiến hành công tác bồi dưỡng bằng nhiều hình thức khác nhau, như tạo điều kiện cho họ tham dự các lớp bồi dưỡng do Bộ, Sở Giáo dục mở, tổ chức các xêmine trao đổi kinh nghiệm sử dụng thiết bị, làm tốt công tác thông tin khoa học - kĩ thuật, tăng cường công tác tự bồi dưỡng giáo viên, v.v.. - Thực hiện nghiêm chỉnh việc quản lí cơ sở vật chất - kĩ thuật thông qua sổ sách theo quy định của Bộ; chế độ kiểm kê tài chính tài sản định kì, xử lí nghiêm minh những trường hợp vi phạm tài sản, khen thưởng kịp thời đối với những người có thành tích trong việc xây dựng, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất - kĩ thuật giáo dục của trường. Đặc biệt cần lấy hiệu suất và hiệu quả sử dụng thiết bị giáo dục làm tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá chất lượng quản lý trường của hiệu trưởng và chất lượng dạy học của giáo viên. B - TÀI CHÍNH
-
Trường PTTH là đơn vị dự tóan, phải có quyền được làm chủ về tài chính. Trường cần được bảo đảm mọi điều kiện về tài chính theo quy định chung để chủ động tổ chức thực hiện kế họach đào tạo: thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ, nhân viên; thường xuyên chăm lo xây dựng và tu bổ cơ sở vật chất - kỹ thuật giáo dục của trường. Đối với trường nội trú, tài chính cũng cần được đáp ứng đầy đủ, kịp thời để bảo đảm sinh họat và học tập của học sinh.
-
Hiệu trưởng là chủ tài khỏan, phải chỉ đạo việc lập các dự tóan thu, chi (qúy, năm, các kế họach công tác đặc biệt...), được quyền biết rõ phần ngân sách cấp cho trường, được quyền tự chủ tài chính trong việc tổ chức thực hiện dự tóan vả báo cáo quyết tóan ngân sách.
-
Các nguồn tài chính của trường PTTH; - Ngân sách Nhà nước (kể cả ngân sách huyện, cơ sở) cấp cho trường. - Đóng góp của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cơ quan đóng ở địa phương. - Đóng góp của cha mẹ học sinh và nhân dân. - Thu nhập do lao động của giáo viên, học sinh. Trường tích cực tự tạo ra nguồn tài chính, kể cả ngọai tệ, bằng cách tham gia làm hàng xuất khẩu hay tổ chức lao động sản xuất theo thế mạnh của từng địa phương... Hiệu trưởng được phép sử dụng kinh phí để kịp thời khen thưởng giáo viên, cán bộ, học sinh v.v.. Việc thu chi trong trường, một mặt cần được vận dụng linh họat, sát hòan cảnh trường, địa phương, phát huy tính năng động và sáng tạo của hiệu trưởng, nhưng mặt khác, phải tuân thủ các quy định chung về chế độ quản lí tài chính của Nhà nước, của ngành giáo dục. VIII - QUẢN LÝ A. MỤC TIÊU
-
Bảo đảm kế họach phát triển giáo dục - Tuyển chọn học sinh vào lớp đầu cấp đúng quy định của Bộ Giáo dục. - Duy trì số học sinh đang học, hạn chế đến mức thấp nhất tỉ lệ học sinh phải học lại lớp và bỏ học.
-
Bảo đảm chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy học và giáo dục. Phối hợp các họat động giáo dục theo một chương trình đã định cho từng lọai trường PTTH nhằm giáo dục hài hòa, cân đối, bảo đảm cho học sinh đạt yêu cầu về tất cả các môn học và tất cả các mặt giáo dục trong từng năm học và sau cả cấp học PTTH, góp phần phát hiện, lựa chọn và bồi dưỡng năng khiếu, đồng thời phát huy tác dụng của trường đối với đời sống và kinh tế - xã hội ở địa phương. Tổ chức đánh giá thực chất theo đúng các quy định của Bộ, thực hiện chất lượng đào tạo.
-
Xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ, công nhân, nhân viên của trưởng đồng bộ về cơ cấu, có đủ số lượng và ngày càng vững mạnh theo chuẩn Bộ quy định.
-
Từng bước hòan thiện cơ sở vật chất - kĩ thuật giáo dục phục vụ tốt các yêu cầu dạy học, giáo dục, rèn luyện thân thể, lao động sản xuất và chuẩn bị nghề. Thường xuyên phát triển và hòan thiện cơ sở vật chất - kĩ thuật từ nguồn vốn của Nhà nước, sự đóng góp của nhân dân và nguồn vốn tự có của trường.
-
Xây dựng và hòan thiện môi trường giáo dục thông nhất ờ địa phương, làm cho môi trường này luôn luôn có tác động tốt tới quá trình giáo dục của trường.
-
Thường xuyên cải tiến công tác quản lí trường học theo tinh thần dân chủ hòa nhà trường, bảo đảm cho họat động giáo dục tiến hành đồng bộ và có hiệu quả. Nắm chắc khâu chủ yếu trong quản lý trường học là tổ chức và chỉ đạo thực hiện kế họach đào tạo. Phải thường xuyên rút kinh nghiệm, phổ biến kinh nghiệm giáo dục tiên tiến và ứng dụng tiến bộ khoa học giáo dục, khoa học quản lí giáo dục,... vào quản lí trường học. Tổ chức tốt việc thông tin hai chiều trong nội bộ trường và giữa trường với các cơ quan hữu quan. Đưa công tác hành chính, văn thư, lưu trữ, tư liệu của trường vào nền nếp, bảo đảm hồ sơ sổ sách theo đúng quy định của Bộ. Thực hiện nghiêm túc chế độ kế tóan tài chính trong trường, giữ đúng thể lệ giao dịch với các cơ quan kinh tế tài chính và cơ sở sản xuất có quan hệ với trường. B. CƠ CẤU TỔ CHỨC Việc mở hoặc giải thể các trường PTTH do UBND tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc đề nghị. Bộ Giáo dục ra quyết định, Sở giáo dục trực tiếp quản lí trường PTTH.
-
Mạng lưới và quy mô Mạng lưới trường PTTH phải gắn với quy họach dân cư và kinh tế. Quy mô trường PTTH không quá 30 lớp, mỗi lớp không quá 45 học sinh.
-
Bộ máy a. Hiệu trưởng. Trường PTTH quản lí theo nguyên tắc tập trung dân chủ, cá nhân phụ trách. Hiệu trưởng là thủ trưởng của trường. Hiệu trưởng chịu trách nhiệm và có quyền quyết định về mọi mặt họat động thuộc chức năng của trường, được bàn bạc với Sở Giáo dục để ra quyết định tiếp nhận giáo viên, cán bộ về trường, thuyên chuyển giáo viên, cán bộ đi công tác nơi khác hoặc về nghỉ. b. Phó hiệu trưởng chịu trách nhiệm trước Hiệu trưởng về các nhiệm vụ công tác được Hiệu trưởng phân công. c. Tổ chức Đảng và đòan thể - Chi bộ Đảng trường học lãnh đạo trường theo quy định của Đảng cộng sản Việt Nam. - Đòan TNCS Hồ chí Minh họat động trong trường theo quy định của Trung ương Đòan. - Hội học sinh họat động trong trường theo Điều lệ của Hội. - Công đòan giáo dục trường học họat động theo Luật công đòan và sự chỉ đạo của Công đòan ngành giáo dục. d. Hội đồng sư phạm Hội đồng sư phạm là tổ chức tư vấn của hiệu trưởng, bao gồm hiệu trưởng, các phó hiệu trưởng, tòan thể giáo viên, đại diện tổ chức Đảng và các đòan thể trong trường, đại diện Hội cha mẹ học sinh. Hội đồng có trách nhiệm giúp Hiệu trưởng xây dựng kế họach công tác hàng năm, đề xuất biện pháp thực hiện kế họach đào tạo, nhận định, đánh giá tình hình thực hiện kế họach, đề xuất biện pháp cải tiến công tác của trường. e. Các tổ chức chuyên môn, tổ công tác Tùy theo quy mô đội ngũ giáo viên, cán bộ, công nhân, nhân viên trong trường mà hình thành tổ bộ môn, tổ chủ nhiệm, tổ giám thị và tổ công tác trong khối giáo viên và khối công nhân, nhân viên. Các tổ này giúp Hiệu trưởng chỉ đạo họat động sư phạm, nghiệp vụ và trực tiếp quản lí lao động của các thành viên trong tổ. g. Các tổ chức khác Hiệu trưởng lập một số ban và hội đồng giúp Hiệu trưởng điều hành một số mặt công tác của trường, như ban Giáo dục lao động - hướng nghiệp, ban giáo dục ngòai giờ lên lớp, ban đời sống, hội đồng thi đua, hội đồng kỉ luật,v.v... C. NGUYÊN TẮC VÀ PHƯƠNG PHÁP
-
Nguyên tắc chủ đạo là tập trung dân chủ: Hiệu trưởng thực hiện sự quản lí tập trung trên cơ sở phát huy rộng rãi sự tham gia dân chủ của mọi thành viên và các tổ chức.
-
Trong quá trình quản lí, Hiệu trưởng phải quán triệt tinh thần dân chủ hóa nhà trường, sử dụng và phối hợp các phương pháp thuyết phục và giáo dục, hành chính, kích thích vật chất và tinh thần, v v... để bảo đảm thực hiện kế họach đào tạo trong trường có chất lượng và hiệu quả. D. QUY TRÌNH Quy trình quản lí năm học bao gồm 4 phần việc cơ bản tiếp nối nhau, thâm nhập vào nhau.
-
Xây dựng kế họach. Thu thập và xử lý thông tin, đánh giá thực chất tòan bộ tình hình của trường, phân hạng ưu tiên các mục tiêu và nhiệm vụ, sọan thảo và lập phương án về các quá trình đào tạo trong năm học. Tổ chức lấy ý kiến, chọn phương án hợp lí nhất làm kê họach năm học của trường. Kế họach này được cụ thể hóa thành kế họach kì học và các kế họach bộ phận khác. Hiệu trưởng tổ chức truyền đạt các nhiệm vụ kế họach tới các bộ phận trong trường. Nhà trường phải thực hiện nghiêm chỉnh kế họach đã được cấp trên duyệt. Cấp trên có trách nhiệm bảo đảm điều kiện cho trường thực hiện kế họach.
-
Tổ chức. Tiếp nhận các nguồn dự trữ (nhân lực, kinh phí, vật tư) và tuyển sinh; xây dựng quy định; hòan thiện các mối quan hệ, cơ chế của bộ máy trong trường, ứng với các nhiệm vụ kế họach, tổ chức việc phối hợp các bộ phận trong trường thực hiện các mục tiêu kế họach.
-
Chỉ đạo thực hiện. Hiệu trưởng lựa chọn, sắp xếp cán bộ, giáo viên vào các vị trí phù hợp để bảo đảm thực hiện kế họach đào tạo, huấn luyện, động viên, khuyến khích các thành viên trong trường nâng cao chất lượng công tác, tổ chức tốt sự phối hợp ăn ý giữa các bộ phận, giữa trường với bên ngòai, thực hiện giám sát sư phạm và hành chính đối với mọi bộ phận trong trường theo các nhiệm vụ của kế họach.
-
Kiểm tra. Hiệu trưởng trực tiếp kiểm tra và tổ chức có nền nếp việc kiểm tra trong nội bộ trường, nhất là kiểm tra chuyên môn; kết hợp nhiều hình thức kiểm tra và nhiều lực lượng tham gia kiểm tra. Coi trọng việc tự kiểm tra của cá nhân, của tập thể giáo viên, công nhân, nhân viên, học sinh. Trong công tác, kiểm tra phải đánh giá tiến độ và kết quả giáo dục, phát hiện thiếu sót, đề xuất phương hướng, biện pháp để phát huy thành tích (đặc biệt coi trọng thực chất thi đua Hai tốt) và sửa chữa khuyết điểm, điều chỉnh chỉ tiêu kế họach. Tổ chức kiểm tra tòan diện các đơn vị bộ phận trong trường trước thời điểm tổng kết năm học. Tiến hành tổng kết năm học kết hợp với việc xây dựng phương hướng kế họach năm học tới. XI. PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI THAM GIA GIÁO DỤC HỌC SINH Trường PTTH chủ động phối hợp các lực lượng giáo dục của huyện (quận), xã (phường) thống nhất giáo dục học sinh theo mục tiêu đào tạo, khai thác mọi khả năng của xã hội tham gia xây dựng nhà trường.
-
Hội đồng giáo dục huyện (quận) - Tham gia xây dựng kế họach phát triển số lượng, bảo đảm chất lượng giáo dục học sinh. - Kiến nghị với Hội đồng nhân dân và UBND bảo đảm việc đầu tư cho trường PTTH. - Động viên mọi lực lượng tích cực xây dựng môi trường giáo dục thống nhất, phối hợp với trường PTTH giáo dục học sinh.
-
Gia đình và Hội cha mẹ học sinh - Gia đình tự xây dựng thành môi trường giáo dục tích cực, thể hiện trong quan hệ hòa thuận, bình đẳng, tôn trọng và quan tâm lẫn nhau giữa những người trong gia đình, phát huy truyền thống tốt đẹp trong gia đình; quan hệ đúng đắn với láng giềng, với mọi người trong xã hội, với đòan thể nhân dân và cơ quan Nhà nước. - Gia đình, trước hết cha mẹ phải là tấm gương tốt cho con cái noi theo. Chú ý giáo dục con cái về đạolàm người, về lao động và nghề nghiệp, về tình yêu và hôn nhân, cũng như về văn hóa, khoa học, kĩ thuật. - Giữ quan hệ trực tiếp, thường xuyên giữa gia đình và trường học (qua giáo viên chủ nhiệm) để theo dõi quá trình trưởng thành của con và thống nhất biện pháp giáo dục. - Củng cố hội cha mẹ học sinh, nhất là chi hội ở lớp học, làm chi Hội thực sự là cái cầu nối vững chắc giữa trường và gia đình, làm cho các gia đình có ý thức đúng đắn với Hội, tham gia họat động của Hội , thực hiện đầy đủ nghị quyết của Hội.
3 . Đòan TNCS Hồ Chí Minh ở địa phương (xã, phường, quận, huyện) chủ động phối hợp với trường tổ chức học sinh tham gia các họat động xã hội, lao động công ích, sinh họat tập thể, vui chơi, giải trí lành mạnh, bổ ích, phụ trách thiếu niên, v.v... nhất là trong các họat động tập thể trong hè. Đòan TNCS ở địa phương cần tham gia tích cực với các tổ chức hữu quan trong việc sử dụng học sinh tốt nghiệp PTTH về địa phương vào các vị trí lao động, công tác xã hội hoặc tạo điều kiện cho họ học tiếp sau khi đã trải qua một quá trình lao động và công tác thực tế.
-
Hội liên hiệp phụ nữ. - Giúp bộ phận nữ công của Công đòan trường học họat động tốt, trở thành nòng cốt về công tác nữ trong cô giáo và học sinh gái. - Phát huy vai trò tích cực trong cuộc vận động xây dựng gia đình văn hóa mới, đặc biệt chú ý bồi dưỡng ý thức trách nhiệm, kiến thức, năng lực của các bậc cha mẹ về giáo dục con. - Coi trọng đối tượng học sinh gái, phổ biến cho các em vấn đề thiết thực về cuộc sống và lí tưởng (Truyền thống phụ nữ Việt Nam, gương sáng của anh hùng chiến sĩ cách mạng, nhà khoa học nữ, vấn đề giới tính, tình yêu, hôn nhân, gia đình, chuẩn bị làm vợ, làm mẹ, v.v...). - Quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần và quyền lợi chính trị của các cô giáo, có biện pháp phát huy năng lực của các cô giáo trong phong trào phụ nữ địa phương.
-
Các tổ chức xã hội khác tham gia xây dựng nhà trường theo khả năng cho phép.
-
Cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ - Tham gia dạy kĩ thuật cho học sinh; tạo điều kiện cho học sinh tham quan, thực hành học tập kĩ thuật ở các cơ sở sản xuất. - Giúp trường tổ chức lao động sản xuất, góp phần giáo dục lao động, hướng nghiệp và dạy nghề. - Có thể góp vốn và tư liệu sản xuất, hướng dẫn kĩ thuật, gia công, tiêu thu sản phẩm. v.v.. - Phối hợp với trường và cơ quan chức năng trong việc sử dụng học sinh tốt nghiệp PTTH và tạo việc làm cho họ.
-
Cơ sở văn hóa nghệ thuật, thông tin đại chúng (câu lạc bộ, nhà văn hóa, nhà truyền thống, thư viện, lớp năng khiếu nghiệp dư, nhà hát, rạp chiếu bóng .v.v.). - Phối hợp với trường bồi dưỡng cho học sinh những hiểu biết về văn hóa - nghệ thuật và thị hiếu nghệ thuật lành mạnh, chú ý các truyền thống tốt đẹp về văn hóa nghệ thuật của địa phương. - Dành một tỉ lệ thích đáng họat động của mình phục vụ học sinh. - Phát hiện và bồi dưỡng học sinh có năng khiếu; có biện pháp đầu tư vật chất và bồi dưỡng chuyên môn cho học sinh, phát huy lực lượng của học sinh trong các cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở và địa phương. - Tham gia dạy nghệ thuật cho học sinh.
-
Quân đội, công an nhân dân và các cơ quan pháp luật khác - Phối hợp với trường để giáo dục quốc phòng, dạy kiến thức và kĩ thuật quân sự .v.v. - Phối hợp với trường giáo dục pháp luật, tổ chức học sinh tham gia bảo vệ an ninh, trật tự và an tòan xã hội, giáo dục học sinh chậm tiến. X. THỰC HIỆN KẾ HỌACH ĐÀO TẠO PTTH
-
Việc thực hiện kế họach đào tạo PTTH phải: - Tiến hành từng bước tích cực, vững chắc, theo tinh thần dân chủ hóa nhà trường, chống chủ nghĩa hình thức, chú trọng chất lượng đào tạo. - Bảo đảm tính thống nhất trong cả nước, có vận dụng sát hợp với thực tiễn của từng vùng, từng trường hợp chỉ đạo đại trà và mũi nhọn. - Bảo đảm tính pháp chế của kế họach đào tạo, phải có đủ các điều kiện quy định trong văn bản này, được Bộ Giáo dục cho phép thì mới được mở trường; và ngược lại, trường nào quá thiếu thốn các điều kiện bảo đảm họat động dạy và học một cách bình thường, phải thanh tra, kiểm tra, và khi cần thiết thì phải đề nghị Bộ Giáo dục giải thể. - Đề cao tinh thần trách nhiệm của tòan Đảng, tòan dân, phát huy vai trò chủ đạo của giáo viên và vai trò chủ động, tích cực của học sinh phối hợp chặt chẽ giữa giáo viên và học sinh, tăng cường trách nhiệm của cha mẹ học sinh.
-
Việc tiến hành phân ban: a.
Căn cứ vào các điều kiện cụ thể (giáo viên, học sinh, cơ sở vật chất, tài chính...), Hiệu trưởng đề nghị số ban có trong trường, Giám đốc Sở Giáo dục quyết định. b. Tuyển sinh: chọn học sinh vào các ban bằng cách tổ chức thi tuyển tự do, công bằng, công khai, dân chủ theo quy định và hướng dẫn của Bộ. c. Các Sở giáo dục có kế họach điều chuyển, bồi dưỡng, kiến nghị chỉ tiêu đào tạo giáo viên đáp ứng yêu cầu phân ban ở địa phương.
-
Các cơ quan thuộc Bộ Giáo dục có trách nhiệm xây dựng kế họach và chỉ đạo thực hiện kế họach đào tạo TPTH theo chức năng đã được phân công. Cụ thể là: - Xây dựng kế họach và chỉ đạo thực hiện từng bước hợp lí và vững chắc việc phân ban củng cố các trường PTTH đã có; nghiên cứu để công nhận các trường PTTHKT đã có đủ các điều kiện; tiến hành tốt công tác phát hiện học sinh có năng khiếu, đặc biệt là tóan, văn, tiếng nước ngòai, kĩ thuật, để chuẩn bị mở trường, lớp PTTHC (năng khiếu) theo đúng quy định. Mỗi tỉnh không nhất thiết phải có đủ các lọai hình trường. - Trình Bộ ban hành quy chế mở trường, quy chế tuyển sinh, điều lệ cụ thể cho từng lọai hình trường PTTH. - Chỉ đạo chặt chẽ việc thực hiện các lọai quy chế, điều lệ, bảo đảm cho các trường có điều kiện giáo dục, giảng dạy và học tập tốt. - Hướng dẫn, chỉ đạo nội dung cụ thể và biện pháp tiến hành các mặt giáo dục trong từng lọai trường PTTH. - Nghiên cứu khoa học giáo dục, bảo đảm cơ sở khoa học của việc triển khai các lọai hình trường PTTH. Biên sọan chương trình, sách giáo khoa, sách hướng dẫn, các lọai sách và tài liệu tham khảo khác, đáp ứng các yêu cầu của các mặt giáo dục. - Chỉ đạo các Sở Giáo dục, các trường ĐHSP, và các trường cán bộ quản lí xây dựng quy họach bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ cán bộ, giáo viên nâng cao trình độ mọi mặt, đủ sức đảm nhiệm việc nâng cao chất lượng giáo dục, dạy và học ở trường PTTH. - Chỉ đạo các trường ĐHSP, trường cán bộ quản lí có quy họach đào tạo đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí bảo đảm chất lượng, đủ số lượng, đồng bộ về cơ cấu, lọai hình, để thực hiện đầy đủ yêu cầu giáo dục tòan diện cho các lọai trường, các lớp phân ban và không phân ban. - Trình Bộ ban hành mẫu trường sở, thiết bị cho các lọai trường PTTH, bảo đảm thực hiện các yêu cầu giáo dục phù hợp với từng lọai hình trường. - Xây dựng chế độ, chính sách cho từng lọai hình trường để có thể thực hiện được các yêu cầu, nhiệm vụ quy định. - Tổng kết, phổ biến kinh nghiệm, động viên khen thưởng các đơn vị tiên tiến. - Tổ chức việc liên kết ngành, các cơ quan đòan thể ở Trung ương, tạo điều kiện cho địa phương và trường học thực hiện tốt các yêu cầu giáo dục 4. Các trường ĐHSP và hệ thống cơ sở bồi dưỡng: - Trường ĐHSP đào tạo giáo viên PTTH theo trình độ chuẩn (4 hoặc 5 năm), do Bộ Giáo dục quy định để dạy tất cả các lọai hình trường PTTH; các giáo viên có thể được đào tạo hoặc bồi dưỡng để dạy hai môn học. - Các trường ĐHSP phải chủ động trong công tác kế họach nhằm xác định quy mô đào tạo và bồi dưỡng phù hợp với yêu cầu sử dụng. - Các trường ĐHSP phải đẩy mạnh cải cách công tác đào tạo các lọai hình giáo viên để đáp ứng yêu cầu triển khai cải cách giáo dục PTTH. - Tuyển sinh sư phạm phải được cải cách theo các hướng. a. Đào tạo (vào bồi dưỡng) có địa chỉ sử dụng, tạo tiền đề và cơ sở cho việc ổn định và đồng bộ hóa đội ngũ giáo viên ở từng trường. b. Bảo đảm điều kiện chất lượng tuyển sinh cho các trường sư phạm. c. Tạo quyền chủ động cho các trường sư phạm. Sở Giáo dục, trường phổ thông và trường sư phạm phải cùng nhau chăm lo công tác tuyển sinh sư phạm, nhất là tạo nguồn tuyển sinh (mở các lớp phổ thông hướng nghiệp sư phạm hoặc năng khiếu sư phạm...). - Cải tiến hệ sau đại học để bồi dưỡng và đào tạo giáo viên cốt cán cho trường PTTH, cho các lớp phân ban. - Chương trình hóa các hình thức bồi dưỡng nhất là bồi dưỡng thường xuyên; bảo đảm đầy đủ tài liệu, hình thức học tập linh họat. thích hợp với hòan cảnh giáo viên từng vùng, từng miền, từng trình độ...
-
Các trường cán bộ quản lí của Bộ Giáo dục - Có kế họach đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lí trường PTTH. - Phối hợp với các Sở giáo dục để rút kinh nghiệm về tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ quản lí trường PTTH.
-
UBND tỉnh (thành phố) có trách nhiệm: - Chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra ngành giáo dục ở địa phương thực hiện tốt kế họach đào tạo. - Tạo điều kiện thuận lợi cho từng trường PTTH thực hiện các yêu cầu giáo dục đã quy định. Chỉ đạo các cấp quản lí giáo dục địa phương xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lí trường PTTH. - Giao kinh phí, các nguồn tài chính khác, cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên, cán bộ, nhân viên... để phát triển giáo dục cho Giám đốc Sở giáo dục trực tiếp quản lí. - Chỉ đạo và thực hiện việc xây dựng cơ sở vật chất - kĩ thuật giáo dục và tài chính để bảo đảm cho các trường có đủ điều kiện thực hiện các yêu cầu giáo dục đã quy định. - Chỉ đạo UBND huyện (quận) xây dựng kế họach phát triển và sử dụng tốt số học sinh tốt nghiệp PTTH.
-
UBND huyện (quận) có trách nhiệm: - Tham gia xây dựng, bảo quản cơ sở vật chất - kĩ thuật giáo dục của trường PTTH. - Tạo điều kiện cho trường thực hiện các mặt giáo dục. - Chỉ đạo UBND xã (phường) thực hiện kế họach phát triển số lượng và sử dụng hợp lí học sinh PTTH ra trường. - Góp phần chăm lo đời sống cán bộ, giáo viên trường PTTH.
-
Sở Giáo dục có trách nhiệm: - Tổ chức cán bộ, giáo viên học tập nắm vững nội dung, tinh thần của kế họach đào tạo và chỉ đạo thực hiện nghiêm chỉnh. - Hướng dẫn các trường đánh giá đúng thực trạng của trường mình để củng cố và phát triển theo kế họach đào tạo. - Sắp xếp các trường PTTH theo đúng lọai hình và từng bước thực hiện phân ban theo quy định. - Chỉ đạo các trường PTTH hòan thiện các điều kiện (đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí, cơ sở vật chật - kĩ thuật giáo dục và tài chính, môi trường giáo dục, ...) để thực hiện yêu cầu giáo dục theo kế họach đào tạo. - Liên kết với các ngành, các cơ quan, đòan thể cấp tỉnh và cấp huyện hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho các trường thực hiện kế họach đào tạo. - Phối hợp kế họach với các trường ĐHSP tạo nguồn tuyển sinh để bảo đảm chỉ tiêu, tiếp nhận số học sinh tốt nghiệp để bố trí xử dụng cùng nhau tham gia thực hiện các họat động thực tập sư phạm, thực hành giáo dục xã hội. - Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết, khen thưởng nơi làm tốt, phê bình nơi làm không tốt, rút kinh nghiệm để tuyên truyền, phổ biến và động viên các trường thực hiện tốt kế họach đào tạo.
-
Trường PTTH có trách nhiệm trực tiếp thực hiện kế họach đào tạo, cụ thể là: - Nghiên cứu nắm vững nội dung kế họach đào tạo, đối chiếu với thực trạng, có kế họach xây dựng trường mình phù hợp với lọai hình và thực hiện phân ban theo quy định. - Tòan thể cán bộ, giáo viên, nhân viên trường PTTH thực hiện đúng các nhiệm jvụ đã quy định trong kế họach đào tạo. - Cải tiến sinh họat chuyên môn nhằm bồi dưỡng và nâng trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên thực hiện tốt chương trình dạy học và giáo dục. - Phát huy vai trò của giáo viên cốt cán các môn học trong họat động chuyên môn, trong công tác kiểm tra, thanh tra và bồi dưỡng chuyên môn cũng như trong công tác nghiên cứu khoa học giáo dục. - Từng cán bộ giáo viên phải có kế họach tự bồi dưỡng nâng cao trình độ mọi mặt để đủ sức thực hiện kế họach đào tạo. - Học sinh phải được học tập nội dung chủ yếu của kế haọch đào tạo, xây dựng động cơ, thái độ đúng để học tập và rèn luyện tốt, đạt yêu cầu của mục tiêu đào tạo. - Công đòan giáo dục va Đòan TNCS Hồ Chí Minh trong trường PTTH cần tập hợp, giáo dục đòan viên phát huy vai trò chủ động, sáng tạo trong việc phối hợp với Hiệu trưởng chỉ đạo thực hiện tốt kế họach đào tạo của trường PTTH.
-
Các lực lượng xã hội có trách nhiệm: a. Gia đình đảm bảo các điều kiện cần thiết cho con em học tập và rèn luyện theo đúng mục tiêu đào tạo. Liên hệ chặt chẽ với giáo viên chủ nhiệm; thực hiện đúng các điều đã ghi trong chương IX. b. Các đòan thể, các tổ chức xã hội, các cơ sở sản xuất, các ngành... tạo mọi thuận lợi cho trường PTTH thực hiện mục tiêu đào tạo, như chương IX bản Quy định này.
Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/quyet-dinh-so-329-qd-ban-hanh-quy-dinh-ve-muc-tieu-va-ke-hoach-dao-tao-cua-truong-pho-thong-trung-hoc--1818.
Dịch vụ liên quan
Văn bản liên quan
- quy định về danh mục khung vị trí việc làm và định mức số lượng người làm việc trong các cơ sở giáo dục mầm non công lập
- Quy định sự phối hợp giữa công tác chính quyền và Công đoàn Giáo dục các cấp trong ngành Giáo dục
- Hướng dẫn việc sáp nhập và tổ chức hoạt động của Sở Giáo dục, Phòng Giáo dục sau khi sáp nhập các cơ quan quản lý nhà trẻ và ngành Giáo dục
- Về việc sửa đổi một số điểm trong Quy chế thi và xét tốt nghiệp phổ thông cơ sở
- Hướng dẫn thực hiện Quy chế thi và xét tốt nghiệp phổ thông cơ sở
- Ban hành Quy chế thi và xét tốt nghiệp phổ thông cơ sở
- Ban hành Quy chế tuyển sinh vào trường phổ thông trung học
- Hướng dẫn thực hiện Quy chế thi và xét tốt nghiệp phổ thông trung học