Bộ luật số 42-LCT/HĐNN8Bộ luật Hàng hải

Số hiệu
42-LCT/HĐNN8
Loại văn bản
Bộ luật
Cơ quan ban hành
Quốc hội
Ngày ban hành
30/06/1990
Lĩnh vực
Hàng hải

Toàn văn

BỘ LUẬT HÀNG HẢI VIỆT NAM CHƯƠNG I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. 1- Bộ luật hàng hải Việt Nam được áp dụng đối với những quan hệ pháp luật phát sinh từ các họat động liên quan đến việc sử dụng tầu biển vào các mục đích kinh tế, nghiên cứu khoa học - kỹ thuật, văn hóa, thể thao, xã hội và công vụ Nhà nước, sau đây gọi chung là họat động hàng hải. Tàu biển nói tại Bộ luật này là cấu trúc nổi, có hoặc không có động cơ, chuyên dùng để họat động trên biển và các vùng nước liên quan đến biển. 2- Đối với những quan hệ pháp luật phát sinh từ họat động hàng hải không được Bộ luật này quy định, thì tùy theo từng trường hợp cụ thể mà áp dụng pháp luật tương ứng của Việt Nam.

Điều 2. Họat động hàng hải của tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngòai, của tổ chức liên doanh, hợp tác giữa Việt Nam với nước ngòai tại Việt Nam được khuyến khích và bảo hộ trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, pháp luật của Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc công nhận.

Điều 3. Phạm vi áp dụng các quy định của Bộ luật này như sau: 1- Tòan bộ các quy định được áp dụng đối với các tầu biển chuyên dùng để vận chuyển hàng hóa, hàng khách và hành lý; thăm dò - khai thác - chế biến tài nguyên biển; lai dắt hoặc cứu hộ trên biển; trục vớt tài sản trên biển và thực hiện các mục đích kinh tế khác, sau đây gọi chung là tầu buôn. 2- Các quy định về vận chuyển hàng hóa, hành khách và hành lý, cầm giữ, bắt giữ hàng hải, giới hạn trách nhiệm dân sự của chủ tầu không áp dụng đối với các tầu biển chuyên dùng để thực hiện các họat động bảo đảm hàng hải; khí tượng - thủy văn; thông tin - liên lạc; thanh tra; hải quan; phòng dịch; chữa cháy; hoa tiêu; huấn luyện; bảo vệ môi trường hoặc chuyên dùng để tìm kiếm và cứu nạn trên biển, sau đây gọi chung là tầu công vụ Nhà nước. 3- Các quy định về vận chuyển hàng hóa, hành khách và hành lý, tổn thất chung không áp dụng đối với các tầu biển chuyên dùng để thực hiện họat động nghiên cứu khoa học - kỹ thuật và thể thao. 4- Chỉ trong những trường hợp có quy định cụ thể, thì mới được áp dụng đối với tầu biển chuyên dùng vào mục đích quân sự và bảo vệ an ninh, trật tự thuộc các lực lượng vũ trang và các lọai tầu biển nước ngòai. Các quy định về vận chuyển hàng hóa, hành khách và hành lý không áp dụng đối với việc vận chuyển quân sự bằng tầu buôn.

Điều 4. 1- Các bên tham gia hợp đồng hàng hải có quyền có những thỏa thuận riêng, nếu Bộ luật này không hạn chế. 2- Các bên tham gia hợp đồng hàng hải mà trong đó có ít nhất một bên là tổ chức hoặc cá nhân nước ngòai, thì có quyền thỏa thuận áp dụng luật hoặc tập quán hàng hải nước ngòai hoặc quốc tế trong các quan hệ hợp đồng và chọn trọng tài, tòa án ở một trong hai nước hoặc ở một nước thứ ba để giải giải quyết tranh chấp.

Điều 5. Trong trường hợp có xung đột pháp luật, thì việc chọn luật để áp dụng được xác định theo các nguyên tắc sau đây: 1- Đối với các quan hệ pháp luật liên quan đến các quyền sở hữu tài sản trên tầu; hợp đồng cho thuê tầu; hợp đồng thuê thuyền viên; hợp đồng vận chuyển hành khách và hành lý; chia tiền công cứu hộ giữa chủ tầu cứu hộ và thuyền bộ của tầu cứu hộ; trục vớt tài sản chìm đắm ở công hải; các vụ việc xảy ra trên tầu khi tầu đang ở công hải, thì luật được chọn là luật quốc gia mà tầu mang cờ. 2- Đối với các quan hệ pháp luật liên quan đến tổn thất chung, thì luật được chọn là luật nơi tầu ghé vào sau khi xảy ra tổn thất chung. 3- Đối với các quan hệ pháp luật liên quan đến tai nạn đâm va; tiền công cứu hộ; trục vớt tài sản chìm đắm ở biển, xảy ra tại nội thủy hoặc lãnh hải của quốc gia nào, thì luật được chọn là luật quốc gia đó. 4- Đối với các quan hệ pháp luật liên quan đến tai nạn đâm va hoặc cứu hộ xảy ra ở công hải, thì luật được chọn là luật do trọng tài hoặc tòa án đã thụ lý tranh chấp áp dụng. 5- Đối với các quan hệ pháp luật liên quan đến hợp đồng vận chuyển hàng hóa, thì luật được chọn là luật quốc gia, nơi người vận chuyển đặt trụ sở.

Điều 6. Nếu điều ước quốc tế mà Việt nam ký kết hoặc công nhận có quy định khác với Bộ luật này, thì áp dụng điều ước quốc tế.

Điều 7. Trong trường hợp Bộ luật này quy dịnh hoặc do có thỏa thuận trong hợp đồng, thì luật nước ngòai có thể được áp dụng tại Việt Nam đối với các quan hệ hợp đồng hàng hải, nếu luật đó không trái với pháp luật Việt Nam. CHƯƠNG II TÀU BIỂN MỤC A TÀU BIỂN VIỆT NAM

Điều 8. 1- Chỉ có tầu biển Việt Nam mới được mang cờ quốc tịch tầu biển Việt Nam. 2- Tàu biển Việt Nam là tầu biển thuộc sở hữu của Nhà nước Việt Nam, tổ chức Việt nam có trụ sở chính tại Việt nam và của công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam hoặc tầu biển thuộc sở hữu nước ngòai đã được phép đăng ký tại Việt Nam. 3- Sau khi được đăng ký vào "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia" của Việt nam hoặc từ khi được cơ quan đại diện ngọai giao hoặc lãnh sự có thẩm quyền của Việt Nam ở nước ngòai cấp "Giấy phép mang cờ quốc tịch tầu biển tạm thời", thì tầu biển có quyền và nghĩa vụ mang cờ quốc tịch tầu biển Việt Nam.

Điều 9. 1- Tàu biển Việt Nam được ưu tiên vận chuyển hàng hóa, hành khách và hành lý giữa các cảng biển Việt Nam. Tàu biển nước ngòai chỉ được vận chuyển hàng hóa, hành khách và hành lý giữa các cảng biển Việt Nam trong các trường hợp do Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện quy định. 2- Hội đồng Bộ trưởng quy định phạm vi họat động của tầu biển Việt Nam thuộc sở hữu tư nhân Việt Nam.

Điều 10. Tàu biển có tên gọi riêng do chủ tầu đặt và phải được cơ quan đăng ký tầu biển Việt Nam chấp nhận.

Điều 11. Chủ tầu là người sở hữu tầu biển. Chủ tầu có quyền sử dụng cờ hiệu riêng.

Điều 12. 1- Tàu biển Việt Nam phải được đăng ký vào "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia" của Việt Nam. Việc đăng ký tầu biển ở Việt Nam do cơ quan đăng ký tầu biển thực hiện công khai và thu lệ phí. Những người quan tâm có quyền yêu cầu được cấp trích lục hoặc bản sao từ "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia". 2- Hội đồng bộ trưởng quy định trường hợp tầu biển thuộc sở hữu Việt Nam được đăng ký ở nước ngòai và tầu biển thuộc sở hữu nước ngòai được đăng ký tại Việt Nam. 3- Hội đồng Bộ trưởng quy định về cơ quan đăng ký tầu biển Việt Nam; thể thức đăng ký tầu biển và xử phạt hành chính các vi phạm về đăng ký tầu biển tại Việt Nam.

Điều 13. Tàu biển chỉ được đăng ký vào "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia" của Việt Nam sau khi không còn mang quốc tịch tầu biển của nước ngòai và được Đăng kiểm Việt Nam hoặc cơ quan đăng kiểm tầu biển nước ngòai mà Đăng kiểm Việt Nam ủy quyền đã kiểm tra kỹ thuật, phân cấp tầu, đo đạc dung tích và cấp các giấy chứng nhận cần thiết.

Điều 14. 1- "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia" của Việt Nam bao gồm nội dung sau đây:

a) Tên tầu, tên chủ tầu và nơi chủ tầu đặt trụ sở, hô hiệu quốc tế; lọai tầu và mục đích sử dụng;

b) Sổ đăng ký; thời điểm đăng ký;

c) Nơi đóng tầu, xưởng đóng tầu và thời điểm đóng tầu;

d) Các đặc tính kỹ thuật của tầu;

e) Định biên tối thiểu;

g) Sở hữu và những thay đổi liên quan;

h) Thời điểm xóa đăng ký và cơ sở của việc xóa đăng ký. 2- Mọi thay đổi về nội dung đăng ký nói tại khỏan 1, Điều này cũng phải được ghi rõ vào "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia". 3- Nội dung đã được đăng ký vào "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia" có giá trị pháp lý đối với người liên quan. 4- Sau khi hòan thành thủ tục đăng ký, tầu biển được cấp "Giấy chứng nhận đăng ký tầu biển" của Việt Nam. Giấy này đồng thời là bằng chứng về quốc tịch Việt Nam của tầu.

Điều 15. 1- Tàu biển Việt Nam đương nhiên xóa đăng ký trong "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia" của Việt Nam trong các trường hợp sau đây:

a) Bị phá hủy hoặc chìm đắm;

b) Bị mất tích;

c) Bị hư hỏng không thể sửa chữa được hoặc việc sửa chữa là không có hiệu quả kinh tế;

d) Không còn đủ cơ sở để được mang quốc tịch tầu biển Việt Nam;

e) Không còn tính năng tầu biển. 2- Trong các trường hợp nói tại điểm c và điểm e, khỏan 1, Điều này, khi tầu biển bị cầm cố, thế chấp, cầm giữ, thì tầu biển chỉ được chính thức xóa đăng ký, nếu chủ nợ chấp nhận cho xóa đăng ký. 3- Tàu biển Việt Nam có thể xóa đăng ký theo yêu cầu của chủ tầu.

Điều 16. 1- Chủ tầu có trách nhiệm hòan thành thủ tục đăng ký tầu biển chậm nhất là sáu mươi ngày, kể từ ngày nhận tầu tại Việt Nam hoặc từ ngày đưa tầu về đến cảng biển Việt Nam đầu tiên, nếu nhận ở nước ngòai. 2- Chủ tầu có trách nhiệm thông báo chính xác và nhanh chóng cho cơ quan đăng ký tầu biển về mọi sự kiện liên quan đến tầu. MỤC B AN TÒAN HÀNG HẢI VÀ PHÒNG NGỪA Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG

Điều 17. Chỉ được phép sử dụng tầu biển vào mục đích đã đăng ký khi cấu trúc, trang thiết bị, tài liệu của tầu, định biên và khả năng chuyên môn của thuyền bộ hòan tòan phù hợp với các quy định của Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện về an tòan hàng hải đối với tầu, người ở trên tầu và về phòng ngừa ô nhiễm môi trường.

Điều 18. 1- Sau khi được Đăng kiểm Việt Nam hoặc cơ quan đăng kiểm tầu biển nước ngòai mà Đăng kiểm Việt Nam ủy quyền đã kiểm tra, xác nhận có đủ các điều kiện an tòan kỹ thuật theo quy phạm quốc gia của Việt Nam hoặc điều ước quốc tế liên quan mà Việt Nam ký kết hoặc công nhận, tầu biển Việt Nam được cấp các giấy chúng nhận an tòan kỹ thuật. 2- Giấy chứng nhận an tòan kỹ thuật phải ghi rõ thời hạn có hiệu lực. Thời hạn này đương nhiên được kéo dài thêm nhiều nhất là chín mươi ngày, nếu tầu thực sự không có điều kiện đến nơi được chỉ định để kiểm tra định kỳ và điều kiện kỹ thuật của tầu trong thực tế vẫn bảo đảm an tòan. Thời hạn đương nhiên được kéo dài này kết thúc ngay khi tầu về đến cảng được chỉ định để kiểm tra. 3- Giấy chứng nhận an tòan kỹ thuật đương nhiên mất giá trị, nếu trên thực tế tầu biển có những thay đổi lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng an tòan kỹ thuật của tầu. 4- Trong trường hợp có đủ căn cứ để nghi ngờ khả năng an tòan kỹ thuật của tầu, Thanh tra an tòan hàng hải Việt Nam có quyền tạm đình chỉ họat động của tầu, tự mình hoặc yêu cầu Đăng kiểm Việt Nam kiểm tra kỹ thuật của tầu, mặc dù trước đó tầu đã được cấp đủ các giấy chứng nhận an tòan kỹ thuật.

Điều 19. 1- Chủ tầu và thuyền trưởng có trách nhiệm tạo mọi điều kiện thuận lợi để tiến hành thanh tra an tòan hàng hải, kiểm tra kỹ thuật tầu biển. 2- Chủ tầu và thuyền trưởng có trách nhiệm sửa chữa, bổ sung các điều kiện an tòan hàng hải theo yêu cầu của Đăng kiểm Việt Nam, Thanh tra an tòan hàng hải Việt Nam trước khi cho tầu họat động.

Điều 20. 1- Khi họat động trên biển và vùng nước liên quan đến biển mà tầu biển được phép họat động, các tầu biển, tầu sông, thủy phi cơ, kể cả của các lực lượng vũ trang Việt Nam phải chấp hành các quy tắc phòng ngừa đâm va trên biển do Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện quy định. 2- Các công trình, thiết bị được xây dựng hoặc lắp đặt ở biển và vùng nước liên quan đến biển mà tầu biển được phép họat động phải có đầy đủ các báo hiệu an tòan theo đúng quy định về báo hiệu hàng hải do Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện quy định.

Điều 21. 1- Trong phạm vi nội thủy và lãnh hải Việt Nam, tầu biển nước ngòai phải chấp hành đầy đủ các quy định về an tòan hàng hải của Việt Nam, trừ trường hợp giữa Việt Nam và quốc gia mà tầu đó mang cờ có những thỏa thuận khác. 2- Thanh tra an tòan hàng hải Việt Nam có quyền kiểm tra và xử phạt hành chính các vi phạm của tầu biển nước ngòai khi họat động tại nội thủy và lãnh hải Việt Nam, nếu có đủ căn cứ để nghi ngờ khả năng an tòan hàng hải của tầu hoặc khi tầu vi phạm quy định về an tòan hàng hải Việt Nam.

Điều 22. Việc thanh tra an tòan hàng hải, kiểm tra kỹ thuật tầu biển theo quy định của Bộ luật này; việc khám xét tầu biển phải được tiến hành theo đúng pháp luật và không được làm ảnh hưởng đến khả năng an tòan hàng hải của tầu.

Điều 23. 1- Khi họat động tại các vùng nước thuộc chủ quyền của Việt Nam, tầu biển Việt Nam và tầu biển nước ngòai phải chấp hành đầy đủ các quy định về bảo vệ môi trường của Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc công nhận. 2- Tàu biển Việt Nam và tầu biển nước ngòai chuyên dùng để vận chuyển dầu mỏ, chế phẩm từ dầu mỏ hoặc các hàng hóa nguy hiểm khác bắt buộc phải có bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tầu về ô nhiễm môi trường khi họat động tại vùng nước các cảng biển và khu vực hàng hải khác của Việt Nam. 3- Tàu biển nước ngòai chạy bằng năng lượng nguyên tử chỉ được vào họat động tại nội thủy, lãnh hải của Việt Nam sau khi được Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng cho phép.

Điều 24. Hội đồng bộ trưởng quy định về tổ chức, họat động của Thanh tra an tòan hàng hải Việt Nam và Đăng kiểm Việt Nam. MỤC C KIỂM TRA DUNG TÍCH TẦU BIỂN

Điều 25. 1- Tàu biển Việt Nam và tầu biển nước ngòai khi họat động tại vùng nước cảng biển và luồng quá cảnh của Việt Nam phải có đủ các giấy chứng nhận dung tích do Đăng kiểm Việt Nam hoặc cơ quan đăng kiểm tầu biển nước ngòai, cơ quan đo dung tích tầu biển có thẩm quyền của nước ngòai cấp. Các giấy chứng nhận dung tích phải phù hợp với quy phạm quốc gia của Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc công nhận. 2- Trong trường hợp tầu không có đủ các điều kiện nói tại khỏan 1, Điều này, thì chủ tầu hoặc thuyền trưởng phải yêu cầu Đăng kiểm Việt Nam kiểm tra dung tích tầu và thanh tóan các chi phí liên quan. MỤC D TÀI LIỆU CỦA TẦU

Điều 26. Trên tầu biển Việt Nam phải có đủ các lọai nhật ký tầu biển, các lọai giấy chứng nhận, các tài liệu khác của tầu và của thuyền viên theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện. MỤC E CÁC QUYỀN VỀ SỞ HỮU TẦU BIỂN

Điều 27. 1- Hợp đồng chuyển nhượng sở hữu tầu biển tại Việt Nam phải được làm bằng văn bản và được cơ quan công chứng chứng thực, nếu ở nước ngòai thì thủ tục được tiến hành theo luật nơi hợp đồng được ký kết. 2- Chỉ sau khi được ghi nhận vào "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia" của Việt Nam nơi tầu biển đó đã được đăng ký, thì việc chuyển nhượng sở hữu tầu biển Việt Nam mới có giá trị. 3- Sau khi hòan thành các thủ tục chuyển nhượng, thì tòan bộ con tầu và tài sản của tầu thuộc quyền sở hữu của người được chuyển nhượng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Tài sản của tầu là các đồ vật, trang thiết bị ở trên tầu mà không phải là các bộ phận cấu thành của tầu.

Điều 28. Các quy định về chuyển nhượng sở hữu tầu biển cũng được áp dụng đối với việc chuyển nhượng cổ phần sở hữu tầu biển.

Điều 29. 1- Chủ tầu có quyền cầm cố, thế chấp tầu biển cho người khác theo quy định của pháp luật. 2- Việc cầm cố, thế chấp tầu biển tại Việt Nam được giải quyết theo pháp luật Việt Nam. Hợp đồng về cầm cố, thế chấp tầu biển tại Việt Nam phải làm bằng văn bản và được cơ quan công chứng chứng thực. 3- Việc cầm cố, thế chấp tầu biển Việt Nam ở nước ngòai được giải quyết theo luật nơi hợp đồng được ký kết. 4- Chỉ sau khi được ghi nhận vào "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia", thì việc cầm cố, thế chấp tầu biển Việt Nam mới có giá trị.

Điều 30. 1- Chủ nợ có quyền cầm giữ hàng hải theo luật định đối với tầu biển để bảo đảm cho các khỏan nợ ưu tiên, mặc dù tầu biển đó đã được cầm giữ, cầm cố, thế chấp để bảo đảm cho các khỏan nợ khác trên cơ sở hợp đồng hoặc quyết định của tòa án. 2- Cầm giữ hàng hải đối với tầu biển không bị ảnh hưởng khi có sự thay đổi chủ tầu, người khai thác tầu, cho dù người mua tầu biết hay không biết về việc tầu đã bị cầm giữ. 3- Tuyên bố của chủ nợ về việc cầm giữ hàng hải đối với tầu biển chỉ có giá trị sau khi đã được ghi nhận vào "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia", nơi tầu đã đăng ký.

Điều 31. Những khỏan nợ ưu tiên là những khỏan nợ được giải quyết trước các khỏan nợ khác, theo thứ tự sau đây: 1- Tiền bồi thường tính mạng, thương tích và tổn hại khác về sức khỏe con người; tiền bồi thường liên quan đến các quyền lợi phát sinh từ hợp đồng lao động; 2- Các lọai án phí và chi phí thi hành án; chi phí bảo vệ quyền lợi chung của các chủ nợ để duy trì tầu, bán tầu và chia tiền bán tầu; cước phí cảng, thuế và các phí công cộng tương tự; hoa tiêu phí; chi phí bảo vệ và bảo quản tầu từ khi tầu đến cảng cuối cùng; 3- Tiền công cứu hộ và các chi phí đóng góp vào tổn thất chung; 4- Tiền bồi thường do đâm va hoặc tại nạn hàng hải khác; tiền bồi thường thiệt hại cho thiết bị cảng, cầu bến, luồng lạch, vũng đậu tầu, ụ tầu; tiền bồi thường tổn thất hàng hóa và hành lý; 5- Các khỏan tiền liên quan đến hợp đồng do thuyền trưởng ký kết hoặc các hành động khác của thuyền trưởng trong phạm vi quyền hạn theo luật định, khi tầu ở ngòai cảng đăng ký để sửa chữa, tiếp tục chuyến đi, ngay cả khi thuyền trưởng đồng thời là người khai thác tầu hoặc là chủ tầu; các khiếu nại đòi bồi thường của chính bản thân thuyền trưởng hoặc người cung ứng tầu biển, người sửa chữa tầu biển, người cho vay tiền và những người khác có quan hệ hợp đồng với thuyền trưởng.

Điều 32. 1- Việc giải quyết yêu cầu của chủ nợ trong phạm vi giá trị tài sản bị cầm giữ do tòa án quyết định. 2- Các khỏan nợ ưu tiên được giải quyết lần lượt theo thứ tự các nhóm từ khỏan 1 đến khỏan 5, Điều 31 của Bộ luật này. 3- Các khỏan nợ ưu tiên phát sinh từ cùng một chuyến đi và ở trong cùng một nhóm nói tại Điều 31 của Bộ luật này, được giải quyết tùy theo tỉ lệ giá trị giữa chúng, nếu khỏan tiền phân chia không đủ để thanh tóan giá trị của mỗi khỏan nợ. Riêng các khỏan nợ thuộc các nhóm nói tại khỏan 3 và khỏan 5, Điều 31 của Bộ luật này, thì khỏan nợ nào phát sinh sau được giải quyết trước các khỏan nợ khác ở cùng nhóm đó, mặc dù các khỏan nợ đó phát sinh sớm hơn. 4- Các khỏan nợ phát sinh từ cùng một sự kiện được coi là phát sinh trong cùng một thời gian. 5- Việc cầm giữ hàng hải đối với tầu biển liên quan đến chuyến đi cuối cùng, được ưu tiên giải quyết trước việc cầm giữ hàng hải liên quan đến các chuyến đi khác. 6- Các khỏan nợ phát sinh từ cùng một hợp đồng lao động liên quan đến nhiều chuyến đi được giải quyết cùng với các khỏan nợ liên quan đến chuyến đi cuối cùng.

Điều 33. 1- Chủ nợ có quyền cầm giữ hàng hải đối với các khỏan tiền sau đây:

a) Tiền cước vận chuyển hàng hóa, hành lý hoặc tiền công vận chuyển hành khách của chuyến đi liên quan đến khỏan nợ hoặc của tất cả các chuyến đi đã được thực hiện trong thời gian hiệu lực của cùng một hợp đồng lao động, để bảo đảm cho việc giải quyết các khỏan nợ về hợp đồng lao động;

b) Khỏan tiền bồi dưỡng tổn thất cho các hư hỏng của tầu mà chưa được sửa chữa và tiền bồi thường do mất cước;

c) Tiền bồi thường cho tầu sau tổn thất chung, nếu trong đó đã được tính các khỏan tiền nói tại điểm b, Điều này;

d) Tiền công cứu hộ trả cho tầu sau khi đã trừ tiền công dành riêng để trả cho thuyền bộ và những người làm công khác cho chủ tầu. 2- Quyền cầm giữ hàng hải nói tại khỏan 1, Điều này không áp dụng đối với những khỏan tiền do người bảo hiểm bồi thường cho tầu.

Điều 34. 1- Quyền cầm giữ hàng hải để giải quyết các khỏan nợ ưu tiên nói tại khỏan 5, Điều 31 của Bộ luật này chấm dứt sau một trăm tám mươi ngày; đối với các khỏan nợ khác, thì thời hiệu này là một năm. 2- Thời hiệu của quyền cầm giữ hàng hải được tính:

a) Từ ngày kết thúc họat động cứu hộ, trong trường hợp để giải quyết tiền công cứu hộ;

b) Từ ngày phát sinh tổn thất, trong trường hợp để giải quyết các tổn thất do đâm va hoặc tai nạn hàng hải khác;

c) Từ ngày giao hàng hóa, hành lý hoặc ngày lẽ ra phải làm việc đó, trong trường hợp để giải quyết các tổn thất hàng hóa, hành lý;

d) Từ ngày phát sinh khỏan nợ, trong trường hợp để giải quyết các khỏan nợ nói tại khỏan 5, Điều 31 của Bộ luật này;

e) Từ ngày phải thanh tóan, trong trường hợp để giải quyết các khỏan nợ khác. 3- Quyền cầm giữ hàng hải đối với các khỏan nợ nói tại Điều 33 của Bộ luật này hết hiệu lực khi chủ tầu đã thanh tóan các khỏan nợ liên quan. Nếu tiền thanh tóan vẫn còn nằm trong tay thuyền trưởng hoặc người đã được ủy nhiệm thay mặt chủ tầu hoặc người khai thác tầu để thanh tóan các khỏan nợ đó, thì quyền cầm giữ hàng hải vẫn còn hiệu lực. 4- Khi tòa án không thể thực hiện việc kê biên tầu trong phạm vi nội thủy hoặc lãnh hải Việt Nam để bảo vệ quyền lợi của chủ nợ thường trú hoặc có trụ sở chính tại Việt Nam, thì thời hiệu quy định tại các khỏan 1, 2 và 3 Điều này kết thúc sau ba mươi ngày, tính từ ngày tầu về đến cảng biển Việt Nam đầu tiên, nhưng tối đa không được quá hai năm, tính từ ngày phát sinh khỏan nợ.

Điều 35. 1- Theo yêu cầu của chủ nợ, Giám đốc cảng vụ có quyền tạm giữ trong vòng bẩy mươi hai giờ các tài sản sau đây:

a) Tầu biển, để bảo đảm cho các khiếu nại đối với tầu về cảng phí hoặc tiền bồi thường thiệt hại cho thiết bị cảng, cầu bến, luồng lạch, vũng đậu tầu, ụ tầu;

b) Xác tầu đắm hoặc các vật thể khác đã cản trở các họat động hàng hải, để bảo đảm cho các khiếu nại liên quan đến việc thải chúng. 2- Chủ nợ phải chịu hòan tòan trách nhiệm về yêu cầu tạm giữ nói tại khỏan 1, Điều này. Thời hiệu khiếu nại về việc tạm giữ nói tại khỏan 1, Điều này là hai năm, tính từ ngày phát sinh vụ việc. 3- Sau bảy mươi hai giờ, tài sản bị tạm giữ theo quy định tại khỏan 1, Điều này được giải phóng, nếu không có quyết định khác của tòa án.

Điều 36. 1- Trong trường hợp cần thiết, để bảo đảm cho việc giải quyết các tranh chấp đã được thụ lý, Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đơn vị hành chính tương đương có quyền ra lệnh bắt giữ tầu biển. 2- Tầu biển nước ngòai có thể bị bắt giữ tại Việt Nam theo yêu cầu của tòa án nước ngòai để bảo đảm cho việc giải quyết việc kiện mà tòa án đó thụ lý. 3- Sau thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày thuyền trưởng nhận được lệnh bắt giữ mà chủ tầu không thực hiện các biện pháp bảo đảm thay thế, thì tòa án đã ra lệnh bắt giữ có quyền quyết định bán đấu giá tầu biển.

Điều 37. 1- Sau khi chủ tầu hoặc người khai thác tầu đã thực hiện những biện pháp bảo đảm thay thế hoặc đã thanh tóan đủ các khỏan nợ, thì tầu biển đang bị cầm giữ, bị tạm giữ, bị bắt giữ hàng hải phải được giải phóng ngay. Những người khiếu nại không có quyền thực hiện bất cứ hành động nào xâm phạm tài sản hoặc quyền lợi khác của chủ tầu hoặc người khai thác tầu. 2- Tầu biển cũng có thể được giải phóng theo yêu cầu của chính những người đã yêu cầu cầm giữ, tạm giữ, bắt giữ hàng hải tầu biển đó. Mọi phí tổn liên quan do người yêu cầu chịu trách nhiệm thanh tóan. CHƯƠNG III THUYỀN BỘ

Điều 38. Thuyền bộ của tầu gồm thuyền trưởng, các sĩ quan và những người khác làm việc trong định biên của tầu, sau đây gọi chung là thuyền viên.

Điều 39. Thuyền viên làm việc trên tầu biển Việt Nam phải là công dân Việt Nam. Trong các trường hợp do Bộ trưởng Bộ giao thông - Vận tải và Bưu điện quy định, thuyền viên là công dân Việt Nam được phép làm việc trên tầu biển nước ngòai và thuyền viên là công dân nước ngòai được phép làm việc trên tầu biển Việt Nam.

Điều 40. Thuyền viên làm việc trên tầu biển Việt Nam phải có đủ tiêu chuẩn sức khỏe, tiêu chuẩn chuyên môn và chứng chỉ chuyên môn theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện.

Điều 41. 1- Thuyền viên làm việc trên tầu biển Việt Nam có nghĩa vụ thực hiện trách nhiệm theo chức danh. 2- Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện quy định chức danh, trách nhiệm theo chức danh và chế độ kỷ luật đối với thuyền viên làm việc trên tầu biển Việt Nam; đối với thuyền viên làm việc trên các tầu biển chuyên dùng để khai thác, chế biến hải sản, thì do Bộ trưởng Bộ thủy sản quy định. 3- Chủ tầu quy định chức danh, trách nhiệm theo chức danh của thuyền viên chưa được Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện hoặc Bộ trưởng Bộ Thủy sản quy định.

Điều 42. 1- Chế độ lao động, nghĩa vụ và quyền lợi của thuyền viên Việt Nam làm việc trên tầu biển Việt Nam được xác định trên cơ sở pháp luật Việt Nam. 2- Trong trường hợp chủ tầu hoặc thuyền trưởng yêu cầu thuyền viên Việt Nam phải rời tầu, thì chủ tầu có nghĩa vụ chu cấp mọi chi phí sinh họat và đi đường cần thiết để đưa thuyền viên về đúng nơi quy định trong hợp đồng lao động hoặc về đến cảng đã tiếp nhận thuyền viên vào làm việc, nếu trong hợp đồng lao động không có thỏa thuận khác. 3- Trong trường hợp tài sản riêng hợp pháp của thuyền viên Việt Nam bị tổn thất do tầu bị tai nạn, thì chủ tầu phải bồi thường tài sản đó theo giá trị thị trường ở nơi và thời điểm giải quyết tại nạn. Thuyền viên có lỗi trực tiếp gây ra tai nạn không có quyền đòi bồi thường tài sản của mình đã bị tổn thất. 4- Chế độ lao động, nghĩa vụ và quyền lợi của thuyền viên Việt Nam làm việc trên tầu biển nước ngòai và của thuyền viên nước ngòai làm việc trên tầu biển Việt Nam được xác định trên cơ sở hợp đồng thuê thuyền viên.

Điều 43. Thuyền trưởng là người có quyền chỉ huy cao nhất ở trên tầu. Mọi người có mặt trên tầu đều phải chấp hành mệnh lệnh của thuyền trởng.

Điều 44. 1- Thuyền trưởng không được phép rời tầu khi tầu đang hành trình hoặc đang gặp nguy hiểm, trừ trường hợp việc thuyền trưởng rời tầu là hết sức cần thiết. 2- Thuyền trưởng có nghĩa vụ trực tiếp điều khiển tầu ra, vào cảng, kênh đào, luồng sông và khi tầu họat động trong vùng nước cảng hoặc khi xảy ra các tình huống đặc biệt khó khăn, nguy hiểm. 3- Thuyền trưởng có nghĩa vụ sử dụng hoa tiêu, tầu lai dắt trong các trường hợp do pháp luật quy định hoặc để bảo đảm an tòan cho tầu. Việc sử dụng hoa tiêu không miễn giảm nghĩa vụ của thuyền trưởng nói tại khỏan 2, Điều này.

Điều 45. 1- Thuyền trưởng có nghĩa vụ thực hiện mẵn cán các nhiệm vụ thuộc chức trách của mình theo đúng lương tâm nghề nghiệp. 2- Trước và trong khi tầu đang hành trình, thuyền trưởng có nghĩa vụ chăm sóc chu đáo để tầu có đủ các điều kiện an tòan hàng hải cần thiết, phù hợp với tiêu chuẩn nghề nghiệp, các quy định về trang thiết bị, vỏ tầu, dự trữ, chất lượng thuyền bộ và các vấn đề khác có liên quan đến an tòan hàng hải cho tầu và người ở trên tầu. 3- Thuyền trưởng có quyền từ chối không cho tầu hành trình, nếu xét thấy chưa đủ điều kiện an tòan hàng hải cần thiết. 4- Thuyền trưởng có quyền áp dụng các biện pháp khen thưởng hoặc kỷ luật đối với thuyền viên thuộc quyền; có quyền từ chối tiếp nhận hoặc buộc phải rời khỏi tầu những thuyền viên không đủ trình độ chuyên môn theo chức danh hoặc có hành vi vi phạm kỷ luật.

Điều 46. 1- Thuyền trưởng có nghĩa vụ quan tâm thích đáng để hàng được bốc lên tầu, sắp xếp và bảo quản trên tầu, dỡ khỏi tầu một cách hợp lý, mặc dù các công việc này đã được giao cho những người có trách nhiệm thực hiện. 2- Thuyền trưởng có nghĩa vụ chăm sóc chu đáo để hàng hóa trên tầu không bị hư hỏng hoặc mất mát; áp dụng biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền lợi của những người có lợi ích liên quan đến hàng hóa; phải tận dụng mọi khả năng thông báo cho những người có lợi ích liên quan biết về những sự kiện đặc biệt, liên quan đến hàng hóa.

Điều 47. 1- Thuyền trưởng có nghĩa vụ áp dụng mọi biện pháp cần thiết để bảo vệ tầu, người và các tài sản trên tầu. 2- Trong trưởng hợp cảng đích bị chiến tranh đe dọa hoặc bị phong tỏa, thuyền trưởng có nghĩa vụ đưa tầu vào cảng an tòan gần nhất và thực hiện mọi biện pháp cần thiết để bảo vệ tầu, người, tài sản trên tầu, tài liệu của tầu. 3- Trong trường hợp tầu có nguy cơ bị chìm đắm hoặc bị phá hủy, thuyền trưởng có nghĩa vụ tận dụng mọi khả năng cho phép để trước hết cứu hành khách và sau đó cứu thuyền viên. Thuyền trưởng phải là người cuối cùng rời tầu, sau khi đã tìm mọi cách cứu nhật ký hàng hải, hải đồ, tài liệu khác của tầu, đồ vật có giá trị cao và qũy của tầu.

Điều 48. 1- Thuyền trưởng có nghĩa vụ tìm kiếm và cứu nạn những người đang trong tình trạng nguy hiểm trên biển, nếu việc thực hiện nghĩa vụ này không gây nguy hiểm nghiêm trọng cho tầu và những người đang trên tầu của mình. Chủ tầu không chịu trách nhiệm về việc thuyền trưởng vi phạm nghĩa vụ này. 2- Thuyền trưởng của tầu đang trong tình trạng nguy hiểm trên biển có quyền yêu cầu cứu nạn và sau khi thỏa thuận với các tầu đến cứu nạn, có quyền chỉ định tầu thực hiện hành động cứu hộ.

Điều 49. 1- Thuyền trưởng là người đại diện của chủ tầu và của những người có lợi ích liên quan đến hàng hóa khi giải quyết những công việc thông thường trong việc điều khiển tầu, quản trị tầu và hàng hóa. 2- Trong phạm vi các công việc nói tại khỏan 1, Điều này, thuyền trưởng có quyền nhân danh chủ tầu và người có lợi ích liên quan đến hàng hóa thực hiện các hành vi pháp lý, có thể khởi kiện hoặc tham gia tố tụng trước tòa án khi tầu ở ngòai cảng đăng ký, trừ trường hợp chủ tầu hoặc người có lợi ích liên quan đến hàng hóa tuyên bố hạn chế một phần hoặc tòan bộ quyền đại diện đó. Tuyên bố này còn có hiệu lực pháp lý đối với người thứ ba, nếu người đó biết về sự hạn chế này.

Điều 50. 1- Trong trường hợp cần thiết, khi tầu ở ngòai cảng đăng ký, thuyền trưởng có quyền vay tín dụng hoặc nhân danh chủ tầu để vay tiền mặt, nhưng chỉ trong giới hạn đủ để sửa chữa tầu, bổ sung thuyền viên, cung ứng cho tầu hoặc vì nhu cầu khác để có thể tiếp tục chuyến đi. 2- Trong thời hạn nói tại khỏan 1, Điều này, thuyền trưởng còn có quyền đem bán một phần tài sản hoặc phần dự trữ dư thừa của tầu, nếu việc chờ nhận tiền hoặc chỉ thị của chủ tầu không có lợi hoặc không hiện thực. 3- Trong thời gian thực hiện chuyến đi, nếu không còn cách nào khác để có đủ các điều kiện cần thiết cho việc kết thúc chuyến đi, thì thuyền trưởng có quyền cầm cố hoặc đem bán một phần hàng hóa sau khi đã tìm mọi cách xin chỉ thị của người thuê vận chuyển và chủ tầu mà không được. 4- Khi lựa chọn biện pháp để có khỏan tiền cần thiết cho việc kết thúc chuyến đi, thuyền trưởng có nghĩa vụ giảm tới mức thấp nhất sự thiệt hại của chủ tầu và những người có lợi ích liên quan đến hàng hóa.

Điều 51. 1- Trong khi đang hành trình mà trên tầu không còn lương thực, thực phẩm dự trữ, thuyền trưởng có quyền trưng dụng một phần hàng hóa là lương thực, thực phẩm vận chuyển trên tầu; nếu thật cần thiết, thì có quyền trưng dụng lương thực, thực phẩm của những người đang ở trên tầu. Việc trưng dụng này phải được lập thành biên bản. 2- Chủ tầu có nghĩa vụ bồi thường số lương thực, thực phẩm bị trưng dụng.

Điều 52. 1- Thuyền trưởng có trách nhiệm ghi vào nhật ký hàng hải và lập biên bản với sự tham gia của nhân viên y tế của tầu và hai nhân chứng về các trường hợp sinh, tử xẩy ra trên tầu và các sự kiện có liên quan. Thuyền trưởng có nghĩa vụ lập bản kê và bảo quản tài sản của người chết để lại trên tầu. 2- Thuyền trưởng có trách nhiệm thông báo về các trường hợp sinh, tử xảy ra ở trên tầu và chuyển di chúc, bản kê tài sản của người chết cho cơ quan hộ tịch có thẩm quyền ở cảng Việt nam đầu tiên mà tầu ghé vào hoặc cho cơ quan đại diện ngọai giao hoặc lãnh sự có thẩm quyền của Việt nam, nếu tầu đến cảng nước ngòai . 3- Sau khi đã cố gắng tìm mọi cách để xin chỉ thị của chủ tầu và hỏi ý kiến của thân nhân người chết, thuyền trưởng nhân danh chủ tầu làm thủ tục và tổ chức mai táng. Mọi chi phí liên quan được thanh tóan theo quy định của pháp luật.

Điều 53. 1- Khi xảy ra hành vi phạm tội ở trên tầu, thì thuyền trưởng có trách nhiệm:

a) áp dụng các biện pháp ngăn chặn cần thiết, lập hồ sơ theo qui định của pháp luật;

b) Bảo vệ chứng cứ và tùy theo điều kiện cụ thể, chuyển giao người có hành vi phạm tội và hồ sơ cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ở cảng Việt Nam đầu tiên mà tầu ghé vào hoặc cho tầu thuộc các lực lượng vũ trang Việt Nam gặp ở trên biển khi tầu đang hành trình hoặc thông báo cho cơ quan đại diện ngọai giao hoặc lãnh sự có thẩm quyền của Việt Nam và làm theo chỉ thị của cơ quan này, nếu tầu đến cảng nước ngòai. 2- Trong trường hợp cần thiết để bảo đảm an tòan, trật tự cho tầu, người ở trên tầu và hàng hóa vận chuyển trên tầu, thuyền trưởng có quyền giữ bất cứ người nào có liên quan đang ở trên tầu tại một phòng dành riêng.

Điều 54. 1- Khi tầu đến cảng nước ngòai, thuyền trưởng có trách nhiệm thông báo ngay cho cơ quan đại diện ngọai giao hoặc lãnh sự có thẩm quyền của Việt Nam biết về việc tầu đến cảng, trừ trường hợp không có điều kiện thực hiện trách nhiệm này. 2- Thuyền trưởng có trách nhiệm xuất trình các tài liệu của tầu, nếu cơ quan đại diện ngọai giao hoặc lãnh sự yêu cầu.

Điều 55. 1- Ngay sau khi xảy ra các tai nạn hàng hải, phát hiện các tai nạn hàng hải hoặc sự kiện đặc biệt liên quan đến an tòan hàng hải tại khu mực mà tầu họat động, thuyền trưởng có nghĩa vụ thông báo ngay cho nhà chức trách nơi gần nhất biết. 2- Sau khi tầu ghé vào cảng Việt Nam đầu tiên trong chuyến đi xảy ra tai nạn hàng hải hoặc khi xảy ra tổn thất tòan bộ, thuyền trưởng có nghĩa vụ báo cáo cho các cơ quan quản lý an tòan hàng hải Việt Nam một cách đầy đủ về sự kiện đó. Thuyền trưởng và những người liên quan có thể bị cơ quan này thẩm vấn, nếu xét thấy cần thiết. 3- Tai nạn hàng hải nói tại Bộ luật này là tai nạn do đâm va và các sự cố liên quan đến tầu, gây hậu quả chết người, gậy thương tích, làm cho tầu bị hư hỏng, chìm đắm, phá hủy, bị cháy, bị mắc cạn hoặc gây ô nhiễm môi trường.

Điều 56. 1- Trong trường hợp tầu, người ở trên tầu hoặc hàng hóa vận chuyển trên tầu bị tổn thất do gặp tai nạn hoặc nghi ngờ là có tổn thất, thì thuyền trưởng có nghĩa vụ làm "Kháng nghị hàng hải" và chậm nhất là hai mươi bốn giờ sau khi xảy ra tai nạn hoặc kể từ khi tầu ghé vào cảng đầu tiên sau khi xảy ra tai nạn, phải trình cơ quan có thẩm quyền để xác nhận việc trình kháng nghị này. 2- Bộ trưởng Bộ giao thông - Vận tải và Bưu điện quy định cơ quan có thẩm quyền xác nhận việc trình "Kháng nghị hàng hải" tại các cảng biển Việt Nam, trình tự và thủ tục xác nhận vào "Kháng nghị hàng hải". 3- Khi tầu họat động ở nước ngòai, thuyền trưởng trình "Kháng nghị hàng hải" tại cơ quan đại diện ngọai giao hoặc lãnh sự có thẩm quyền của Việt Nam hoặc trình cho cơ quan có thẩm quyền ở địa phương để xác nhận việc trình kháng nghị này. CHƯƠNG IV CẢNG BIỂN VÀ CẢNG VỤ

Điều 57. 1- Cảng biển nói tại Bộ luật này là cảng được mở ra để tầu biển ra, vào họat động. Cảng biển bao gồm các khu vực sau đây:

a) Kho bãi, cầu cảng, nhà xưởng, khu hành chính và dịch vụ hàng hải, sau đây gọi chung là vùng đất cảng;

b) Vùng nước trước cầu cảng, vùng neo đậu - chuyển tải, luồng ra, vào cảng, vùng tránh bão, sau đây gọi chung là vùng nước cảng. 2- Khu vực hàng hải nói tại Bộ luật này bao gồm vùng nước của nhiều cảng gần kề nhau và luồng quá cảng. 3- Hội đồng bộ trưởng quy định việc mở các cảng biển. Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện công bố việc mở cảng biển, việc tạm thời cấm tầu ra, vào cảng và ban hành Quy chế họat động hàng hải trong từng vùng nước cảng biển hoặc khu vực hàng hải.

Điều 58. 1- Cơ quan thực hiện chức năng quản lý Nhà nước chuyên ngành về hàng hải tại các khu vực hàng hải và vùng nước cảng biển là cảng vụ. 2- Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện công bố khu vực trách nhiệm của cảng vụ, sau khi tham khảo ý kiến của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đơn vị hành chính tương đương; quy định về tổ chức và chỉ đạo họat động của cảng vụ.

Điều 59. Người có quyền chỉ huy cao nhất của cảng vụ là Giám đốc cảng vụ, Giám đốc cảng vụ có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: 1- Tổ chức thực hiện quy chế họat động của cảng vụ, kiểm tra việc chấp hành các quy định bảo đảm an tòan hàng hải, phòng ngừa ô nhiễm môi trường, vệ sinh và trật tự hàng hải; 2- Không cho phép tầu vào hoặc rời cảng khi tầu không có đủ các điều kiện an tòan hàng hải cần thiết hoặc chưa thanh tóan xong các khỏan nợ, tiền phạt vi phạm quy chế họat động tại cảng; 3- Thực hiện yêu cầu tạm giữ, bắt giữ hàng hải đối với tầu biển hoặc lệnh bắt giữ tầu biển của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; 4- Cấp giấy phép họat động cho tầu thuyền và người họat động trong khu vực trách nhiệm; thu hồi giấy phép đã cấp, nếu xét thấy không đủ điều kiện bảo đảm an tòan hàng hải; 5- Tổ chức tìm kiếm và cứu nạn tầu, người trong khu vực trách nhiệm; 6- Xử phát hành chính các hành vi vi phạm quy định về an tòan hàng hải, ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, vệ sinh và trật tự hàng hải.

Điều 60. 1- Trong phạm vi quyền hạn và trách nhiệm của mình, các cơ quan quản lý Nhà nước về hàng hải, an ninh, kiểm dịch, hải quan, thuế, văn hóa, phòng chống cháy - nổ, bảo vệ môi trường và các cơ quan quản lý Nhà nước khác họat động tại cảng biển theo quy định của pháp luật. 2- Các cơ quan quản lý Nhà nước có trách nhiệm họat động thường xuyên tại cảng có quyền đặt trụ sở làm việc trong cảng, Giám đốc xí nghiệp cảng có nghĩa vụ tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan này thực hiện nhiệm vụ. 3- Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quy chế phối hợp công tác giữa các cơ quan quản lý Nhà nước họat động tại cảng biển. CHƯƠNG V HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN HÀNG HÓA MỤC A QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 61. 1- Hợp đồng vận chuyển hàng hóa là hợp đồng được ký kết giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyển mà theo đó người vận chuyển thu tiền cước vận chuyển do người thuê vận chuyển trả và dùng tầu biển để vận chuyển hàng hóa từ cảng bốc hàng đến cảng đích. Hợp đồng vận chuyển được ký kết theo các hình thức do các bên thỏa thuận và là cơ sở để xác định quan hệ pháp luật giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyển. 2- Người vận chuyển là người dùng tầu biển thuộc sở hữu của mình hoặc thuê tầu thuộc sở hữu của người khác để thực hiện dịch vụ vận chuyển hàng hóa. Người thuê vận chuyển là người nhân danh mình hoặc nhân danh người khác ký hợp đồng để thuê người vận chuyển vận chuyển hàng hóa. 3- Người thuê vận chuyển có quyền chỉ định một người khác thay mặt mình thực hiện nghĩa vụ giao hàng cho người vận chuyển, sau đây gọi là người giao hàng. Các quy định tại Chương này đối với người giao hàng cũng được áp dụng đối với người thuê vận chuyển, nếu trong thực tế người thuê vận chuyển tự mình giao hàng cho người vận chuyển.

Điều 62. 1- Hợp đồng vận chuyển hàng hóa có thể được ký kết với điều kiện người vận chuyển phải dành cho người thuê vận chuyển nguyên tầu hoặc một phần tầu cụ thể để vận chuyển hàng hóa theo chuyến hoặc trong thời hạn nhất định, sau đây gọi là hợp đồng thuê tầu. 2- Hợp đồng vận chuyển hàng hóa cũng có thể được ký kết với điều kiện người vận chuyển không phải dành cho người thuê vận chuyển nguyên tầu hoặc một phần tầu cụ thể mà chỉ căn cứ vào chủng lọai, số lượng, kích thước hoặc trọng lượng của hàng hóa để vận chuyển, sau đây gọi là hợp đồng lưu khoang.

Điều 63. Người thuê vận chuyển có thể chuyển giao quyền theo hợp đồng của mình cho người thứ ba mà không cần người vận chuyển đồng ý, nhưng vẫn phải có trách nhiệm về việc thực hiện hợp đồng vận chuyển hàng hóa theo nguyên tắc cộng đồng trách nhiệm với người thứ ba đã được chuyển giao quyền.

Điều 64. Người vận chuyển có nghĩa vụ dùng tầu đã được chỉ định trong hợp đồng để vận chuyển hàng hóa, trừ những trường hợp sau đây:

a) Đối với hợp đồng thuê tầu, thì người vận chuyển chỉ được thay thế tầu đã được chỉ định trong hợp đồng bằng tầu khác, sau khi người thuê vận chuyển đồng ý;

b) Đối với hợp đồng lưu khoang, thì người vận chuyển có quyền thay thế tầu đã được chỉ định trong hợp đồng bằng một tầu khác cùng lọai, có đủ điều kiện cần thiết để vận chuyển hàng hóa, nếu hợp đồng không cấm việc thay thế tầu và phải thông báo cho người thuê vận chuyển biết.

Điều 65. 1- Thời hiệu khiếu nại liên quan đến việc thực hiện hợp đồng vận chuyển hàng hóa là một năm, tính từ ngày thanh tóan tiền cước vận chuyển. 2- Thời hiệu khiếu nại về hư hỏng hoặc mất mát hàng hóa vận chuyển theo vận đơn hoặc chứng từ vận chuyển hàng hóa tương đương là một năm, tính từ ngày trả hàng hoặc lẽ ra phải trả hàng cho người nhận hàng.

Điều 66. Các quy định tại Chương này không áp dụng đối với việc vận chuyển bưu phẩm, bưu kiện. Hội đồng bộ trưởng quy định việc vận chuyển bưu phẩm, bưu kiện bằng tầu biển. MỤC B BỐC HÀNG

Điều 67. 1- Người vận chuyển có nghĩa vụ đưa tầu đến cảng bốc hàng trong trạng thái sẵn sàng để nhận hàng, đúng thời điểm và địa điểm; lưu tầu tại nơi bốc hàng theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa. 2- Người vận chuyển có nghĩa vụ chăm sóc chu đáo để trước và khi bắt đầu chuyến đi, tầu có đủ khả năng đi biển; có thuyền bộ thích hợp; được cung ứng đầy đủ trang thiết bị và vật phẩm dự trữ; các hầm hàng, hầm lạnh và khu vực khác dùng để vận chuyển hàng hóa có đủ các điều kiện nhận, vận chuyển và bảo quản hàng hóa phù hợp với tính chất của hàng hóa.

Điều 68. 1- Nếu trong hợp đồng không có thỏa thuận cụ thể về nơi bốc hàng tại cảng bốc hàng, thì người vận chuyển đưa tầu đến địa điểm được tập quán địa phương coi là nơi bốc hàng. 2- Nếu việc vận chuyển được thực hiện theo hợp đồng thuê tầu, thì người vận chuyển đưa tầu đến nơi bốc hàng do người thuê vận chuyển chỉ định. Nơi bốc hàng này phải an tòan, không gây trở ngại cho việc tầu vào, ra, chờ đợi cùng với hàng hóa. Trong trường hợp có nhiều người thuê vận chuyển mà họ không thỏa thuận được về nơi bốc hàng hoặc khi người thuê vận chuyển không chỉ định rõ nơi bốc hàng, thì người vận chuyển đưa tầu đến địa điểm được tập quán địa phương coi là nơi bốc hàng. 3- Người thuê vận chuyển trong trường hợp thuê tầu, trừ tầu chuyên tuyến, có thể yêu cầu người vận chuyển thay đổi vị trí tầu, mặc dù nơi bốc hàng đã được ghi rõ trong hợp đồng. Người thuê vận chuyển phải thanh tóan đầy đủ các chi phí liên quan đến việc thực hiện yêu cầu này. 4- Người thuê vận chuyển trong hợp đồng lưu khoang chỉ được yêu cầu người vận chuyển thay đổi vị trí tầu, nếu đã có thỏa thuận trong hợp đồng hoặc được tập quán địa phương cho phép.

Điều 69. 1- Nếu việc vận chuyển hàng hóa được thực hiện theo hợp đồng thuê tầu, thì người vận chuyển có nghĩa vụ thông báo bằng văn bản cho người thuê vận chuyển hoặc người giao hàng về việc tầu đã đến cảng bốc hàng và sẵn sàng để nhận hàng, sau đây gọi là "Thông báo sẵn sàng". Ngày, giờ có hiệu lực của "Thông báo sẵn sàng" do các bên thỏa thuận trong hợp đồng; nếu không có thỏa thuận, thì được xác định theo tập quán địa phương. Người vận chuyển phải bồi thường mọi thiệt hại phát sinh do nội dung của "Thông báo sẵn sàng" không dúng với sự thật ở thời điểm người thuê vận chuyển hoặc người giao hàng nhận được văn bản này. 2- Nếu việc vận chuyển hàng hóa được thực hiện theo hợp đồng lưu khoang, thì người vận chuyển có nghĩa vụ thông báo trong thời gian hợp lý cho người thuê vận chuyển hoặc người giao hàng biết trước về nơi bốc hàng lên tầu, thời điểm mà tầu sẵn sàng nhận hàng và thời hạn tập kết hàng hóa. Trách nhiệm thông báo này không áp dụng đối với tầu chuyên tuyến, trừ trường hợp lịch tầu có sự thay đổi.

Điều 70. 1- Thời hạn bốc hàng do các bên thỏa thuận trong hợp đồng thuê tầu; nếu không có thỏa thuận, thì áp dụng tập quán địa phương. 2- Thời gian gián đọan do người thuê vận chuyển hoặc người giao hàng gây ra, cũng như thời gian tầu thay đổi vị trí theo yêu cầu của người thuê vận chuyển đều được tính vào thời hạn bốc hàng. 3- Thời gian gián đọan do người vận chuyển gây ra hoặc do các nguyên nhân bất khả kháng hoặc do điều kiện thời tiết làm ảnh hưởng đến việc bốc hàng đúng kỹ thuật hoặc có thể gây nguy hiểm cho việc bốc hàng đều không được tính vào thời hạn bốc hàng. 4- Người thuê vận chuyển hoặc người giao hàng có thể thỏa thuận với người vận chuyển về chế độ thưởng cho việc bốc hàng xong trước thời hạn hoặc phạt đối với việc bốc hàng quá thời hạn bốc hàng đã thỏa thuận.

Điều 71. 1- Các bên tham gia hợp đồng thuê tầu có thể thỏa thuận trong hợp đồng về thời gian cho phép kéo dài thêm ngòai thời hạn bốc hàng nói tại Điều 70 của Bộ luật này, sau đây gọi là thời hạn dôi nhật. Nếu trong hợp đồng không quy định cụ thể số ngày, giờ, thì thời hạn dôi nhật được các bên liên quan xác định theo tập quán địa phương. 2- Tiền thanh tóan về thời hạn dôi nhật do các bên thỏa thuận trong hợp đồng; nếu không có thỏa thuận, thì xác định theo tập quán địa phương. Nếu tập quán địa phương cũng không có quy ước, thì khỏan tiền này được xác định trên cơ sở tổng chi phí thực tế để duy trì tầu và thuyền bộ trong thời hạn dôi nhật. 3- Thời gian tầu phải lưu lại cảng bốc hàng sau thời hạn bốc hàng và thời hạn dôi nhật do người thuê vận chuyển hoặc người giao hàng gây ra gọi là thời gian lưu tầu. Người vận chuyển có quyền đòi bồi thường các thiệt hại phát sinh do lưu tầu.

Điều 72. Người thuê vận chuyển có quyền thay thế hàng hóa đã được ghi trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng lọai hàng hóa khác có tính chất tương đương, không ảnh hưởng đến quyền lợi của người vận chuyển và những người thuê vận chuyển khác. Tiền cước vận chuyển đối với lọai hàng hóa thay thế không được thấp hơn giá cước đã thỏa thuận đối với lọai hàng hóa bị thay thế.

Điều 73. 1- Hàng hóa phải được sắp xếp trên tầu theo "Sơ đồ hàng hóa" do thuyền trưởng quyết định. Việc xếp hàng hóa trên boong phải được người giao hàng đồng ý bằng văn bản. 2- Người vận chuyển có nghĩa vụ chăm sóc chu đáo tới việc bốc hàng; sắp xếp, chằng buộc và ngăn cách hàng hóa ở trên tầu. Các chi phí liên quan do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng.

Điều 74. Người vận chuyển có quyền cho tầu rời nơi bốc hàng sau khi thời hạn bốc hàng và thời hạn dôi nhật trong hợp đồng thuê tầu hoặc thời hạn tập kết hàng hóa trong hợp đồng lưu khoang đã kết thúc, mặc dù tòan bộ hàng hóa hoặc một phần hàng hóa được thuê vận chuyển chưa được bốc lên tầu do những nguyên nhân thuộc về người thuê vận chuyển. Trong trường hợp này, người vận chuyển vẫn được thu đủ tiền cước vận chuyển, kể cả tiền cước của số hàng hóa chưa được bốc lên tầu, cước thu đối với số hàng hóa đó gọi là cước khống.

Điều 75. 1- Trong trường hợp cho thuê nguyên tầu, người vận chuyển có quyền thu đủ cước, nhưng phải thực hiện các yêu cầu sau đây của người thuê vận chuyển:

a) Cho tầu khởi hành trước thời hạn;

b) Bốc lên tầu số hàng hóa đã tập kết ở nơi bốc hàng, mặc dù thời hạn dôi nhật đã kết thúc, nếu việc bốc số hàng đó chỉ làm lưu tầu trong thời hạn không quá mười bốn ngày và vẫn được hưởng quyền lợi nói tại khỏan 3, Điều 71 của Bộ luật này. 2- Trong trường hợp cho thuê một phần tầu, người vận chuyển có quyền thu đủ cước và từ chối bốc lên tầu số hàng hóa được đưa đến sau thời hạn bốc hàng hoặc sau thời hạn dôi nhật đã thỏa thuận do nguyên nhân thuộc về người thuê vận chuyển hoặc người giao hàng.

Điều 76. 1- Chỉ được xếp hàng vào những khu vực dành riêng cho việc vận chuyển hàng hóa ở trên tầu, ngay cả khi người thuê vận chuyển thuê nguyên tầu. 2- Người thuê vận chuyển có quyền đòi người vận chuyển giảm tiền cước vận chuyển và bồi thường các thiệt hại phát sinh do không nhận đủ phần tầu đã thuê theo hợp đồng thuê tầu.

Điều 77. 1- Hàng hóa phải được đóng gói và đánh dấu ký, mã hiệu hàng hóa theo quy định hiện hành. 2- Người vận chuyển có quyền từ chối bốc lên tầu những hàng hóa không bảo đảm các tiêu chuẩn đóng gói cần thiết. 3- Đối với hàng hóa dễ nổ, dễ cháy và các lọai hàng hóa nguy hiểm khác hoặc lọai hàng hóa cần phải có biện pháp đặc biệt khi bốc, vận chuyển, bảo quản và dỡ hàng, thì ngòai trách nhiệm nói tại khỏan 1, Điều này, người thuê vận chuyển còn có nghĩa vụ cung cấp trong một thời gian thích hợp cho người vận chuyển các tại liệu và chỉ dẫn cần thiết về hàng hóa. Người thuê vận chuyển phải bồi thường các tổn thất phát sinh do việc cung cấp chậm trễ, thiếu chính xác hoặc không hợp lệ các tài liệu và chỉ dẫn cần thiết.

Điều 78. 1- Người thuê vận chuyển dù cố ý hoặc vô ý đều phải chịu trách nhiệm đối với người vận chuyển, hành khách, thuyền viên và các chủ hàng khác về những tổn thất phát sinh do khai báo hàng hóa không chính xác hoặc không đúng sự thật. 2- Người giao hàng cũng phải chịu trách nhiệm theo quy định tại khỏan 1, Điều này, nếu có lỗi gây ra tổn thất. 3- Người thuê vận chuyển hoặc người giao hàng chỉ chịu trách nhiệm về tổn thất nói tại khỏan 1, Điều này, nếu người vận chuyển chứng minh được là họ có lỗi gây ra tổn thất đó.

Điều 79. 1- Người vận chuyển có quyền dỡ khỏi tầu, hủy bỏ hoặc làm mất khả năng gây hại của hàng hóa dễ nổ, dễ cháy hoặc hàng hóa nguy hiểm khác mà không phải bồi thường và vẫn được thu đủ cước, nếu số hàng hóa đó đã được khai báo sai hoặc do người vận chuyển không được thông báo trước và cũng không thể nhận biết về những đặc tính nguy hiểm của hàng hóa khi bốc hàng qua sự hiểu biết nghiệp vụ thông thường. Người thuê vận chuyển phải chịu trách nhiệm về các tổn thất phát sinh. 2- Trong trường hợp người vận chuyển đã nhận bốc lên tầu những hàng hóa nguy hiểm, mặc dù đã được thông báo trước hoặc đã nhận biết tính chất nguy hiểm của hàng hóa đó qua sự hiểu biết nghiệp vụ thông thường và đã thực hiện các biện pháp bảo quản theo đúng quy định, nhưng khi hàng hóa đó đe dọa sự an tòan của tầu, người và hàng hóa trên tầu, thì người vận chuyển cũng có quyền xử lý như quy định tại khỏan 1, Điều này. Trong trường hợp này, người vận chuyển chịu trách nhiệm về tổn thất phát sinh theo các nguyên tắc về tổn thất chung và chỉ được thu cước cự ly. MỤC C VẬN ĐƠN

Điều 80. 1- Theo yêu cầu của người giao hàng, người vận chuyển có nghĩa vụ ký phát cho người giao hàng một bộ vận đơn. 2- Người vận chuyển và người giao hàng có thể thỏa thuận việc thay thế vận đơn bằng giấy gửi hàng hoặc chứng từ vận chuyển hàng hóa tương đương và thỏa thuận về nội dung, giá trị của các chứng từ này theo tập quán hàng hải quốc tế.

Điều 81. 1- Vận đơn là bằng chứng về việc người vận chuyển đã nhận lên tầu số hàng hóa với số lượng, chủng lọai, tình trạng như ghi rõ trong vận đơn để vận chuyển đến nơi trả hàng. 2- Vận đơn gốc là chứng từ có giá trị, dùng để định đọat và nhận hàng. 3- Vận đơn xác định mối quan hệ pháp luật giữa người vận chuyển và người nhận hàng. Các quy định trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa chỉ có tác dụng ràng buộc người nhận hàng, nếu trong vận đơn có ghi rõ điều đó.

Điều 82. 1- Vận đơn phải bao gồm nội dung cơ bản sau:

a) Tên người vận chuyển và trụ sở giao dịch chính;

b) Tên người giao hàng;

c) Tên người nhận hàng hoặc ghi rõ vận đơn được ký phát dưới dạng vận đơn theo lệnh hoặc vận đơn vô danh;

d) Tên tầu;

e) Sự mô tả về chủng lọai, kích thước, thể tích, số lượng đơn vị, trọng lượng hoặc giá trị, nếu xét thấy cần thiết;

g) Sự mô tả tình trạng bên ngòai hoặc bao bì hàng hóa;

h) Ký, mã hiệu và đặc điểm nhận biết hàng hóa mà người giao hàng đã thông báo bằng văn bản trước khi bốc hàng và được đánh dấu trên từng đơn vị hàng hóa hoặc bao bì;

i) Tiền cước vận chuyển và các khỏan thu khác của người vận chuyển; ghi chú phương thức thanh tóan;

k) Nơi bốc hàng và cảng bốc hàng;

l) Cảng đích hoặc chỉ dẫn thời gian, địa điểm sẽ chỉ định cảng đích;

m) Số bản vận đơn gốc đã ký phát cho người giao hàng;

n) Thời điểm và địa điểm ký phát vận đơn;

o) Chữ ký của người vận chuyển hoặc của thuyền trưởng hoặc đại diện khác có thẩm quyền của người vận chuyển. 2- Nếu tên người vận chuyển không được xác định cụ thể trong vận đơn, thì chủ tầu được coi là người vận chuyển. Trong trường hợp vận đơn được lập theo quy định tại khỏan 1, Điều này ghi không chính xác hoặc không đúng sự thật về người vận chuyển, thì chủ tầu chịu trách nhiệm bồi thường các tổn thất phát sinh và sau đó được đòi người vận chuyển bồi hòan.

Điều 83. 1- Vận đơn có thể được ký phát dưới các dạng sau đây:

a) Ghi rõ tên người nhận hàng, gọi là vận đơn đích danh;

b) Ghi rõ người giao hàng hoặc những người do người giao hàng chỉ định sẽ phát lệnh trả hàng, gọi là vận đơn theo lệnh;

c) Không ghi rõ tên người nhận hàng hoặc người phát lệnh trả hàng, gọi là vận đơn xuất trình. 2- Nếu trong vận đơn theo lệnh không ghi rõ tên người phát lệnh trả hàng, thì người giao hàng mặc nhiên được coi là người có quyền đó.

Điều 84. Vận đơn có thể được chuyển nhượng theo các nguyên tắc sau đây:

a) Vận đơn đích danh được chuyển nhượng bằng cách sang tên quyền sở hữu theo thủ tục do pháp luật quy định. Người có tên trong vận đơn đích danh là người nhận hàng hợp pháp;

b) Vận đơn theo lệnh được chuyển nhượng bằng cách ghi vào ô ký hậu của vận đơn về người có quyền phát lệnh trả hàng. Người cuối cùng có quyền phát lệnh trả hàng trong vận đơn theo lệnh là người nhận hàng hợp pháp, mặc dù vẫn còn ô ký hậu để trống;

c) Vận đơn vô danh được chuyển nhượng bằng cách trao cho người được chuyển nhượng. Người xuất trình vận đơn vô danh là người nhận hàng hợp pháp.

Điều 85. 1- Các đặc điểm của hàng hóa được ghi vào vận đơn theo "Giấy khai hàng" của người giao hàng. 2- Người giao hàng phải chịu trách nhiệm đối với người vận chuyển về tổn thất phát sinh do đã khai không chính xác hoặc không đúng sự thật về chủng lọai, kích thước, thể tích, số lượng đơn vị, trọng lượng, ký, mã hiệu của hàng hóa. Người vận chuyển vẫn phải chịu trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ theo hợp đồng vận chuyển đối với những người khác, không phải là người thuê vận chuyển hoặc người giao hàng.

Điều 86. 1- Người vận chuyển có quyền ghi chú vào vận đơn các nhận xét của mình về tình trạng bên ngòai hoặc bao bì hàng hóa, nếu có nghi vấn. 2- Người vận chuyển có quyền từ chối ghi vào vận đơn sự mô tả về hàng hóa, nếu có đủ căn cứ nghi ngờ tính chính xác về lời khai báo của người giao hàng ở thời điểm bốc hàng hoặc khi không có điều kiện xác minh. 3- Người vận chuyển có quyền từ chối ghi vào vận đơn ký, mã hiệu hàng hóa, nếu chúng chưa được đánh dấu rõ ràng trên từng kiện hàng hoặc bao bì, bảo đảm dễ nhận thấy khi chuyến đi kết thúc. 4- Nếu hàng hóa được đóng gói trước khi giao cho người vận chuyển, thì người vận chuyển có quyền ghi vào vận đơn là không biết rõ nội dung bên trong.

Điều 87. 1- Việc vận chuyển hàng hóa được thực hiện với sự tham gia của người vận chuyển đường bộ, đường sông hoặc đường không, gọi là liên hiệp vận chuyển. Vận đơn được ký phát cho cả quá trình vận chuyển hàng hóa trong liên hiệp vận chuyển, gọi là vận đơn suốt. 2- Các quy định về vận đơn nói tại Bộ luật này cũng được áp dụng đối với lọai vận đơn suốt do người vận chuyển đường biển ký phát, trừ trường hợp có những văn bản pháp luật khác qui định cụ thể.

Điều 88. 1- Người vận chuyển đã ký phát vận đơn suốt có nghĩa vụ tổ chức việc vận chuyển hàng hóa và chịu trách nhiệm về hàng hóa trong cả quá trình vận chuyển theo vận đơn suốt, cho đến khi hàng đã được trả cho người nhận hàng hợp pháp. 2- Phạm vi trách nhiệm giữa người ký phát vận đơn suốt và những người vận chuyển khác trong liên hiệp vận chuyển do các bên thỏa thuận theo nguyên tắc cộng đồng trách nhiệm. 3- Người vận chuyển nào đã phải bồi thường tổn thất liên quan đến vận đơn suốt theo nguyên tắc cộng đồng trách nhiệm, thì có quyền yêu cầu những người vận chuyển khác hòan trả số tiền bồi thường theo tỉ lệ tiền cước vận chuyển tương ứng với quãng vận chuyển do họ thực hiện. Người vận chuyển nào chứng minh được mình đã không có lỗi, thì không phải hòan trả số tiền đó. 4- Người vận chuyển tham gia liên hiệp vận chuyển có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ các trách nhiệm của mình và tận tâm chuẩn bị cho các quãng vận chuyển khác được thực hiện có kết quả. Người vận chuyển trong quãng cuối cùng của liên hiệp vận chuyển có nghĩa vụ bảo vệ các quyền của những người vận chuyển khác, đặc biệt là quyền cầm giữ hàng hóa. MỤC D THỰC HIỆN VẬN CHUYỂN HÀNG HÓA

Điều 89. 1- Người vận chuyển phải thực hiện việc vận chuyển hàng hóa trong thời gian hợp lý, theo đúng tuyến đường quy định trong hợp đồng hoặc theo tuyến đường thường lệ, nếu trong hợp đồng không có thỏa thuận khác. 2- Người vận chuyển không bị coi là vi phạm hợp đồng, nếu tầu phải đi trệch đường để cứu người, tài sản trên biển hoặc do các nguyên nhân chính đáng khác mà không ảnh hưởng đến hợp đồng vận chuyển. Người vận chuyển không phải chịu trách nhiệm bồi thường các tổn thất hàng hóa phát sinh do tầu phải đi trệch đường trong các trường hợp này.

Điều 90. 1- Trong trường hợp tầu không vào được cảng đích do những nguyên nhân không thể vượt qua được và cũng không có khả năng chờ đợi để vào cảng đích sau một thời gian hợp lý, thì người vận chuyển được phép đưa tầu vào một cảng an tòan gần nhất và phải thông báo cho người thuê vận chuyển biết để xin chỉ thị. 2- Trong trường hợp cho thuê nguyên tầu, thì tùy theo điền kiện cụ thể, thuyền trưởng phải xin chỉ thị và hành động theo chỉ thị của người thuê vận chuyển. Nếu không có khả năng thực hiện chỉ thị của người vận chuyển hoặc sau một thời gian chờ đợi hợp lý mà vẫn không nhận được chỉ thị của người thuê vận chuyển, thì thuyền trưởng có thể dỡ hàng lên khỏi tầu hoặc vận chuyển hàng quay lại cảng bốc hàng, tùy theo sự suy xét của mình, sao cho quyền lợi của người thuê vận chuyển được bảo vệ chính đáng. Người thuê vận chuyển phải trả cho người vận chuyển cước cự ly và chi phí liên quan. 3- Trong trường hợp không cho thuê nguyên tầu, thì thuyền trưởng cũng có quyền hành động như quy định tại khỏan 1, Điều này, nếu năm ngày sau khi gửi thông báo xin chỉ thị mà vẫn không nhận được chỉ thị của người thuê vận chuyển. Người thuê vận chuyển phải trả cho người vận chuyển đủ cước và chi phí liên quan. MỤC E DỠ HÀNG VÀ TRẢ HÀNG

Điều 91. Các quy định tại Chương này liên quan đến việc bốc hàng cũng được áp dụng tương tự đối với việc dỡ hàng và trả hàng.

Điều 92. 1- Người thuê vận chuyển có quyền định đọat hàng hóa cho tới khi hàng được trả cho người nhận hợp pháp, nếu chưa chính thức giao quyền này cho người khác; có quyền yêu cầu dỡ hàng trước khi tầu bắt đầu chuyến đi, thay đổi người nhận hàng hoặc cảng đích sau khi chuyến đi đã bắt đầu với điều kiện phải bồi thường mọi tổn thất và chi phí liên quan. 2- Trong trường hợp hàng hóa được vận chuyển theo vận đơn, thì các quyền nói tại khỏan 1, Điều này thuộc về người nhận hàng hợp pháp nào có vận đơn gốc. Người vận chuyển chỉ có nghĩa vụ thực hiện các chỉ thị của người đó sau khi đã thu lại tòan bộ số vận đơn gốc đã ký phát. 3- Các quyền nói tại khỏan 1, Điều này, không được áp dụng, nếu việc thực hiện gây ra sự chậm chễ đáng kể cho việc bắt đầu chuyến đi, trừ khi người vận chuyển đồng ý.

Điều 93. Khi tầu đến cảng đích, người vận chuyển có nghĩa vụ trả hàng cho người nhận hàng hợp pháp nào có ít nhất một bản vận đơn gốc hoặc giấy gửi hàng hoặc chứng từ vận chuyển hàng hóa tương đương có giá trị để nhận hàng quy định tại khỏan 2, Điều 80 của Bộ luật này. Sau khi hàng đã được trả, các bản khác không còn giá trị để nhận hàng.

Điều 94. 1- Khi nhận hàng, người nhận hàng phải thanh tóan cho người vận chuyển tiền cước vận chuyển, tiền bồi thường do lưu tầu hoặc các khỏan chi phí khác liên quan đến việc vận chuyển hàng hóa, nếu các khỏan tiền đó chưa được thanh tóan trước. Trong trường hợp hàng hóa được vận chuyển theo vận đơn, thì người nhận hàng chỉ phải thanh tóan các chi phí quy định trong vận đơn. 2- Người vận chuyển có quyền từ chối trả hàng và có quyền lưu giữ hàng, nếu người thuê vận chuyển và người nhận hàng chưa thanh tóan đủ các khỏan nợ hoặc khi chưa nhận được sự bảo đảm thỏa đáng. Các khỏan nợ không trả đúng hạn được tính thêm lãi, theo lãi suất áp dụng tại ngân hàng giao dịch liên quan. Các khỏan nợ này bao gồm cả các chi phí đóng góp vào tổn thất chung và tiền công cứu hộ được phân bổ cho hàng hóa. 3- Người vận chuyển mất quyền khiếu nại người thuê vận chuyển, nếu hàng đã được trả cho người nhận hàng.

Điều 95. 1- Trước khi trả hàng, người nhận hàng và người vận chuyển đều có thể yêu cầu giám định hàng hóa. Người yêu cầu phải thanh tóan giám định phí. Người vận chuyển phải thanh tóan giám định phí, ngay cả khi người nhận hàng yêu cầu giám định, nếu không chứng minh được rằng hàng hóa bị mất mát, hư hỏng ngòai phạm vi trách nhiệm của mình. 2- Hàng hóa được coi là đã trả đủ và đúng như ghi trong vận đơn, nếu người nhận hàng không thông báo bằng văn bản cho người vận chuyển về các mất mát, hư hỏng hàng hóa ngay khi nhận hàng hoặc chậm nhất là ba ngày tính từ ngày nhận hàng, nếu không thể phát hiện thiệt hại từ bên ngòai. Đối với hàng hóa đã giám định nói tại khỏan 1, Điều này, thì không cần thông báo bằng văn bản. Mọi thỏa thuận trái với quy định này đều không có giá trị.

Điều 96. 1- Nếu người nhận hàng không đến nhận hoặc từ chối nhận hàng hoặc trì hõan việc dỡ hàng, thì người vận chuyển có quyền dỡ hàng và ký gửi vào một nơi an tòan, thích hợp và thông báo cho người thuê vận chuyển biết. Mọi chi phí và tổn thất phát sinh do người nhận hàng chịu trách nhiệm bồi thường. 2- Người vận chuyển có quyền hành động theo quy định tại khỏan 1, Điều này, nếu có nhiều người cùng xuất trình vận đơn gốc hoặc giấy gửi hàng hoặc chứng từ vận chuyển hàng hóa tương đương có giá trị để nhận hàng. 3- Việc bồi thường tổn thất do lưu tầu để dỡ hàng và ký gửi hàng nói tại khỏan 1, Điều này cũng được giải quyết tương tự như trường hợp lưu tầu để bốc hàng. 4- Trong thời hạn sáu mươi ngày, tính từ ngày tầu đến cảng đích, nếu không có người nhận số hàng ký gửi hoặc người nhận hàng không thanh tóan hết các khỏan nợ hoặc không đưa ra một bảo đảm cần thiết, thì người vận chuyển có quyền bán đấu giá số hàng đó để trừ nợ; nếu là hàng hóa mau hỏng hoặc việc ký gửi là quá tốn kém so với giá trị thực tế của hàng, thì người vận chuyển có quyền bán đấu giá trước thời hạn đó. Người vận chuyển có nghĩa vụ thông báo cho người thuê vận chuyển biết về những trường hợp nói tại khỏan 1, 2 và 4, Điều này và dự định bán hàng để trừ nợ theo quy định tại khỏan 4, Điều này. 5- Hội đồng bộ trưởng quy định cụ thể thủ tục bán đấu giá các lọai hàng hóa nói tại Điều này.

Điều 97. 1- Sau khi khấu trừ các khỏan nợ của người nhận hàng và các chi phí liên quan đến việc ký gửi và bán đấu giá hàng hóa nói tại Điều 96 của Bộ luật này, số tiền còn thừa phải được gửi vào ngân hàng để trả lại cho người có quyền nhận số tiền đó. 2- Nếu tiền bán hàng không đủ để thanh tóan các khỏan tiền nói tại khỏan 1, Điều này, thì người vận chuyển có quyền tiếp tục khiếu nại đòi những người liên quan phải trả đủ. 3- Trong thời hạn một trăm tám mươi ngày, kể từ ngày bán đấu giá hàng hóa mà không có ai yêu cầu nhận lại số tiền còn thừa, thì người vận chuyển đem nộp vào kho bạc Nhà nước theo thủ tục do pháp luật quy định. MỤC G CƯỚC PHÍ VÀ PHỤ PHÍ VẬN CHUYỂN

Điều 98. 1- Giá cước và phụ phí vận chuyển hàng hóa được xác định trên cơ sở biểu giá do Hội đồng bộ trưởng quy định. Nếu giá cước và phụ phí vận chuyển hàng hóa không được Hội đồng bộ trưởng quy định, thì do các bên tự thỏa thuận trong hợp đồng. 2- Thời hạn, phương thức thanh tóan tiền cước và phụ phí vận chuyển do các bên thỏa thuận trong hợp đồng.

Điều 99. 1- Đối với số hàng hóa bị thiệt hại do có tai nạn trong khi tầu đang hành trình, thì dù với bất cứ nguyên nhân nào cũng được miễn tiền cước vận chuyển; nếu đã thu thì phải hòan trả lại. Trong trường hợp hàng hóa lại được cứu thóat hoặc được hòan trả lại, thì người vận chuyển chỉ được thu cước cự ly, nếu người có quyền lợi liên quan đến hàng hóa đó không thu được lợi ích gì từ quãng đường mà hàng hóa đó đã được tầu vận chuyển. 2- Cước cự ly là tiền cước vận chuyển được tính trên cơ sở tỉ lệ giữa quãng đường mà hàng hóa được vận chuyển trong thực tế so với tòan bộ quãng đường vận chuyển đã thỏa thuận trong hợp đồng, cũng như trên cơ sở tỷ lệ giữa sự đầu tư chi phí, thời gian, sự rủi ro hoặc khó khăn thông thường liên quan đến quãng vận chuyển đã thực hiện so với quãng vận chuyển còn lại. 3- Trong trường hợp hàng hóa hư hỏng hoặc hao hụt do đặc tính riêng hoặc hàng hóa là súc vật mà bị chết trong khi vận chuyển, thì người vận chuyển vẫn có quyền thu đủ tiền cước vận chuyển.

Điều 100. 1- Trong trường hợp hàng hóa được bốc lên tầu vượt qúa khối lượng đã thỏa thuận trong hợp đồng, thì người vận chuyển cũng chỉ có quyền thu tiền cước vận chuyển theo giá cước đã thỏa thuận đối với số hàng hóa đó. 2- Trong trường hợp hàng hóa được bốc lậu lên tầu, thì người vận chuyển có quyền thu gấp đôi tiền cước vận chuyển từ cảng bốc hàng đến cảng đích và được bồi thường các tổn thất phát sinh do việc xếp số hàng hóa bốc lậu đó trên tầu. Người vận chuyển còn có quyền dỡ số hàng hóa bốc lậu đó tại bất cứ cảng nào, nếu xét thấy cần thiết. MỤC H CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG

Điều 101. 1- Người thuê vận chuyển có quyền rút khỏi hợp đồng trong các trường hợp sau đây:

a) Người vận chuyển không đưa tầu đến nơi bốc hàng đúng thời điểm thỏa thuận hoặc chậm trễ trong việc bốc hàng hoặc bắt đầu chuyến đi; người thuê vận chuyển có quyền được bồi thường các tổn thất phát sinh;

b) Khi hàng đã xếp xong mà vẫn chưa bắt đầu chuyến đi hoặc khi tầu đang thực hiện chuyến đi, người thuê vận chuyển có quyền yêu cầu dỡ hàng và phải trả đủ tiền cước vận chuyển, chi phí liên quan cho người vận chuyển. 2- Người vận chuyển có quyền từ chối, không thực hiện yêu cầu dỡ hàng của người thuê vận chuyển nói tại điểm b, khỏan 1, Điều này, nếu xét thấy việc đó làm chậm trễ chuyến đi hoặc ảnh hưởng đến quyền lợi của những người liên quan do phải thay đổi lịch trình đã định.

Điều 102. 1- Trong trường hợp thuê nguyên tầu, người thuê vận chuyển có quyền rút khỏi hợp đồng trước khi tầu bắt đầu chuyến đi, nhưng phải bồi thường các chi phí liên quan, ngòai ra tùy theo thời điểm rút khỏi hợp đồng, người thuê vận chuyển còn phải trả tiền cước theo các nguyên tắc sau:

a) Phải trả một nửa tiền cước vận chuyển, nếu rút khỏi hợp đồng trước khi tính thời hạn bốc hàng;

b) Phải trả đủ tiền cước vận chuyển, nếu rút khỏi hợp đồng sau khi tính thời hạn bốc hàng hoặc rút khỏi hợp đồng sau khi tính thời hạn dôi nhật, nếu hợp đồng chỉ ký kết cho một chuyến;

c) Phải trả đủ tiền cước vận chuyển của cả chuyến đi mà người thuê vận chuyển rút khỏi hợp đồng trước khi bắt đầu chuyến đi cộng thêm một nửa tiền cước vận chuyển của tất cả các chuyến đi tiếp theo, nếu hợp đồng được ký kết cho nhiều chuyến. 2- Trong trường hợp người thuê vận chuyển rút khỏi hợp đồng theo quy định tại khỏan 1, Điều này, thì người vận chuyển có nghĩa vụ lưu tầu tại nơi bốc hàng cho đến khi hàng hóa đã được dỡ xong, mặc dù việc đó vượt quá thời hạn bốc hàng và thời hạn dôi nhật.

Điều 103. Trong trường hợp không thuê nguyên tầu, thì người thuê vận chuyển có quyền rút khỏi hợp đồng và phải bồi thường các chi phí liên quan, ngòai ra tùy theo thời điểm rút khỏi hợp đồng, người thuê vận chuyển còn phải trả tiền cước vận chuyển theo các nguyên tắc sau đây:

a) Phải trả một nửa tiền cước vận chuyển, nếu rút khỏi hợp đồng sau thời hạn tập kết hàng hóa đã thỏa thuận;

b) Phải trả đủ tiền cước vận chuyển, nếu rút khỏi hợp đồng trong khi tầu đang thực hiện chuyến đi.

Điều 104. Người vận chuyển có quyền rút khỏi hợp đồng trước khi bắt đầu chuyến đi, nếu số hàng hóa đã bốc lên tầu chưa đủ theo hợp đồng và tổng giá trị của số hàng hóa đó không đủ để bảo đảm cho tiền cước vận chuyển và các chi phí liên quan mà người vận chuyển phải chi cho hàng hóa, trừ khi người thuê vận chuyển đã trả đủ tiền cước vận chuyển hoặc có một sự bảo đảm thỏa đáng. Người thuê vận chuyển phải trả mọi chi phí liên quan đến việc dỡ hàng và một nửa tiền cước vận chuyển đã thỏa thuận.

Điều 105. 1- Các bên tham gia hợp đồng đều có quyền rút khỏi hợp đồng mà không phải bồi thường, nếu trước khi tầu bắt đầu rời khỏi nơi bốc hàng đã xẩy ra các sự kiện sau đây:

a) Chiến tranh đe dọa sự an tòan của tầu hoặc hàng hóa; cảng bốc hàng hoặc cảng đích được công bố là bị phong tỏa;

b) Tầu bị giữ lại theo lệnh của nhà chức trách địa phương mà không do lỗi của các bên tham gia hợp đồng;

c) Tầu bị Nhà nước trưng dụng;

d) Có lệnh cấm vận chuyển hàng hóa ra khỏi cảng bốc hàng hoặc vào cảng đích. 2- Bên rút khỏi hợp đồng trong các trường hợp nói tại khỏan 1, Điều này, phải chịu mọi chi phí dỡ hàng. 3- Các bên cũng có quyền rút khỏi hợp đồng, nếu các sự kiện nói tại khỏan 1, Điều này xảy ra trong khi tầu đang hành trình; người thuê vận chuyển có nghĩa vụ trả tiền cước cự ly và chi phí đỡ hàng.

Điều 106. 1- Hợp đồng mặc nhiên chấm dứt, không bên nào phải bồi thường thiệt hại, nếu sau khi hợp đồng đã ký kết và trước khi tầu rời khỏi nơi bốc hàng mà không bên nào có lỗi gây ra các trường hợp sau đây:

a) Tầu được chỉ định trong hợp đồng bị chìm đắm, mất tích, bị cưỡng đọat hoặc được coi là hư hỏng không thể sửa chữa được hoặc việc sửa chữa là không kinh tế.

b) Hàng hóa ghi cụ thể trong hợp đồng bị mất. 2- Trong trường hợp tầu đang hành trình, mà xẩy ra các trường hợp nói tại khỏan 1, Điều này, thì người vận chuyển chỉ có quyền thu cước cự ly. Nếu chỉ có tầu bị tổn thất mà hàng hóa được cứu thóat hoặc được hòan trả, thì người vận chuyển có quyền thu cước cự ly đối với số hàng hóa đó.

Điều 107. Trong trường hợp hợp đồng chấm dứt theo các quy định tại Mục này, người vận chuyển vẫn phải có nghĩa vụ chăm sóc hàng hóa cho đến khi chuyển giao lại. MỤC I TRÁCH NHIỆM BỒI THƯƠNG TỔN THẤT HÀNG HÓA

Điều 108. 1- Người vận chuyển có trách nhiệm chăm sóc chu đáo hàng hóa và chịu trách nhiệm về các tổn thất do hư hỏng, mất mát hàng hóa từ khi nhận bốc lên tầu cho đến khi giao cho người nhận hàng. Người vận chuyển có nghĩa vụ bồi thường tổn thất hàng hóa, nếu không chứng minh được rằng mình không có lỗi gây ra các tổn thất đó. 2- Người vận chuyển được miễn hòan tòan trách nhiệm, nếu tổn thất hàng hóa xẩy ra do:

a) Hành động, sự sơ suất hoặc sai lầm của thuyền trưởng, thuyền viên khác, hoa tiêu hoặc những người làm công cho người vận chuyển trong việc điều khiển hoặc quản trị tầu;

b) Hỏa họan mà bản thân người vận chuyển không gây ra;

c) Tai họa hoặc tai nạn hàng hải trên biển và vùng nước liên quan đến biển mà tầu biển được phép họat động;

d) Thiên tai bất khả kháng;

e) Chiến tranh;

g) Hành động xâm phạm trật tự và an tòan công cộng;

h) Hành động bắt giữ hoặc các hành động cưỡng chế khác của nhà chức trách, nhân dân hoặc tòa án;

i) Hạn chế về phòng dịch;

k) Hành động hoặc sự sơ suất của người giao hàng, chủ sở hữu hàng, đại lý hoặc đại diện của họ;

l) Đình công, đóng cửa xí nghiệp hoặc các hành động tương tự khác làm hạn chế hòan tòan hoặc một phần công việc do bất cứ nguyên nhân nào;

m) Bạo động hoặc gây rối;

n) Hành động cứu hoặc nhằm mục đích cứu tính mạng con người hoặc tài sản trên biển;

o) Hao hụt về khối lượng, trọng lượng hoặc bất cứ mất mát, hư hỏng nào khác của hàng hóa xảy ra do chất lượng, khuyết tật ẩn hoặc khuyết tật khác của hàng hóa;

p) Hàng hóa không được đóng gói đúng quy cách;

q) Hàng hóa không được đánh dấu ký, mã hiệu đúng quy cách hoặckhông phù hợp;

r) Khuyết tật ẩn của tầu mà những người có trách nhiệm không phát hiện được, mặc dù đã thực hiện nhiệm vụ một cách mẵn cán;

s) Bất kỳ nguyên nhân nào khác xảy ra mà người vận chuyển không có lỗi hoặc không đồng tình với việc gây ra tổn thất hoặc không phải do đại lý và những người làm công khác cho người vận chuyển có lỗi hoặc sơ suất gây nên tổn thất. Trong trường hợp có người được hưởng quyền miễn hòan tòan trách nhiệm của người vận chuyển theo quy định của pháp luật hoặc theo sự thỏa thuận ghi trong hợp đồng, thì người đó phải chứng minh rằng người vận chuyển đã không có lỗi, không đồng tình hoặc đại lý và những người làm công khác cho người vận chuyển cũng không có lỗi hoặc sơ suất gây ra sự mất mát, hư hỏng của hàng hóa.

Điều 109. Người thuê vận chuyển không chịu trách nhiệm bồi thường về các mất mát hoặc hư hỏng xảy ra đối với người vận chuyển hoặc tầu, nếu chứng minh được rằng bản thân mình hoặc đại lý và những người làm công cho mình đã không có hành động, sự sơ suất hoặc sai lầm gây ra tổn thất đó.

Điều 110. 1- Trong trường hợp chủng lọai và giá trị của hàng hóa không được người giao hàng khai báo trước khi bốc hàng hoặc không được ghi rõ vào vận đơn, giấy gửi hàng hoặc chứng từ vận chuyển hàng hóa tương đương, thì người vận chuyển hoặc tầu chỉ có nghĩa vụ bồi thường mất mát, hư hỏng hàng hóa hoặc tổn thất khác liên quan đến hàng hóa trong giới hạn tối đa tương đương với mười nghìn Frăng vàng cho mỗi kiện hoặc đơn vị hàng hóa quy ước hoặc ba mươi Frăng vàng cho mỗi kilôgam trọng lượng cả bì của số hàng hóa bị mất mát, hư hỏng tùy theo giá trị nào là cao nhất. Tiền bồi thường được chuyển đổi thành tiền Việt Nam theo tỉ giá chính thức do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố ở thời điểm thanh tóan bồi thường. Tổng số tiền bồi thường được xác định trên cơ sở tham khảo giá trị hàng hóa đó tại nơi và thời điểm dỡ hàng quy định trong hợp đồng hoặc lẽ ra phải được dỡ hàng. Giá trị của hàng hóa được xác định theo giá giao dịch thương mại, nếu không xác định được giá đó, thì xác định theo giá thị trường. Trong trường hợp cả hai giá trên đều không xác định được, thì căn cứ vào giá hàng cùng lọai, cùng chất lượng tại nơi giải quyết bồi thường. 2- Trong trường hợp chủng lọai và giá trị hàng hóa được người giao hàng khai báo trước khi bốc hàng và được người vận chuyển chấp nhận, ghi vào vận đơn, giấy gửi hàng hoặc chứng từ vận chuyển hàng hóa tương đương, thì người vận chuyển chịu trách nhiệm bồi thường mất mát, hư hỏng của hàng hóa trên cơ sở giá trị đó theo nguyên tắc sau đây:

a) Đối với hàng hóa bị mất mát, thì bồi thường bằng giá trị đã khai báo;

b) Đối với hàng hóa bị hư hỏng, thì bồi thường bằng mức chênh lệch giữa giá trị khai báo và giá trị còn lại của hàng hóa. Giá trị còn lại của hàng hóa được xác định trên cơ sở giá thị trường ở nơi và thời điểm dỡ hàng hoặc lẽ ra phải dỡ hàng; nếu không xác định được, thì căn cứ vào giá thị trường ở nơi và thời điểm tầu bốc hàng cộng thêm chi phí vận chuyển đến cảng đích.

Điều 111. Trong mọi trường hợp, người vận chuyển hoặc tầu đều không chịu trách nhiệm bồi thường các mất mát, hư hỏng hàng hóa hoặc tổn thất liên quan đến hàng hóa, nếu người giao hàng đã cố tình khai gian về chủng lọai, giá trị của hàng hóa khi bốc hàng và khai báo đó đã được ghi nhận vào vận đơn, giấy gửi hàng hoặc chứng từ vận chuyển hàng hóa tương đương.

Điều 112. 1- Trong trường hợp hàng hóa được vận chuyển theo vận đơn, thì mọi thỏa thuận nhằm mục đích giảm các nghĩa vụ và trách nhiệm của người vận chuyển nói tại các Điều 67, 108 và 110 của Bộ luật này, đều không có giá trị. 2- Nếu vận đơn được ký phát theo hợp đồng thuê tầu, thì quy định tại khỏan 1, Điều này được áp dụng từ khi vận đơn được chuyển nhượng cho người thứ ba. 3- Các bên tham gia hợp đồng vận chuyển chỉ có quyền thỏa thuận về việc giảm trách nhiệm của người vận chuyển, khác với quy định tại khỏan 1, Điều này trong các trường hợp liên quan đến:

a) Quãng thời gian từ khi nhận hàng đến trước khi bốc hàng và quãng thời gian từ khi kết thúc dỡ hàng đến khi trả xong hàng;

b) Vận chuyển súc vật sống;

c) Vận chuyển hàng hóa trên boong theo hợp đồng. MỤC K CẦM GIỮ HÀNG HÓA

Điều 113. 1- Chủ nợ có quyền sử dụng quyền cầm giữ hàng hóa theo luật định để bảo đảm cho các khỏan nợ ưu tiên, mặc dù hàng hóa đó đã được cầm giữ, cầm cố hoặc thế chấp để bảo đảm cho các khỏan nợ khác trên cơ sở hợp đồng hoặc quyết định của tòa án. 2- Các khỏan nợ ưu tiên được giải quyết theo thứ tự sau đây:

a) Các lọai án phí và chi phí hành án; chi phí bảo quản, bán và chia tiền bán hàng hóa; thuế và các khỏan chi phí công cộng khác;

b) Tiền phân bổ hàng hóa để trả công cứu hộ hoặc đóng góp vào tổn thất chung;

c) Tiền bồi thường các tổn thất do hàng hóa gây ra;

d) Quyền lợi của người vận chuyển.

Điều 114. 1- Các chủ nợ còn có quyền cầm giữ các khỏan tiền bồi thường cho tổn thất hàng hóa đã xảy ra, nhưng chưa được phục hồi và tiền phân bổ cho hàng hóa trong trường hợp xảy ra tổn thất chung. 2- Các chủ nợ không có quyền cầm giữ các khỏan tiền do người bảo hiểm bồi thường cho hàng hóa.

Điều 115. 1- Quyền cầm giữ hàng hóa chấm dứt hiệu lực, kể từ khi hàng hóa được trả cho người nhận hàng hợp pháp. 2- Quyền cầm giữ các khỏan tiền liên quan đến hàng hóa chấm dứt hiệu lực, kể từ khi thanh tóan các khỏan tiền đó cho người nhận hợp pháp. CHƯƠNG VI HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH VÀ HÀNH LÝ

Điều 116. 1- Hợp đồng vận chuyển hành khách và hành lý là hợp đồng được ký kết giữa người vận chuyển và hành khách mà theo đó người vận chuyển thu tiền công vận chuyển hành khách, tiền cước hành lý do hành khách trả và dùng tầu biển để vận chuyển hành khách từ cảng nhận khách đến cảng đích. Hợp đồng là cơ sở để xác định quan hệ pháp luật giữa người vận chuyển và hành khách. Vé đi tầu là bằng chứng về việc ký kết hợp đồng. 2- Hành khách có nghĩa vụ trả tiền công vận chuyển hành khách, tiền cước hành lý và phí dịch vụ khác cho người vận chuyển. 3- Những thỏa thuận nhằm hạn chế quyền của hành khách hoặc miễn giảm trách nhiệm của người vận chuyển quy định tại Bộ luật này đều không có giá trị. 4- Người vận chuyển có quyền thay thế vé bằng lọai chứng từ tương đương, nếu hành khách được vận chuyển trên tầu biển không chuyên dùng chở khách.

Điều 117. 1- Hành khách có nghĩa vụ phục tùng sự chỉ huy của thuyền trưởng và phải chấp hành mọi nội quy, chỉ dẫn trên tầu. 2- Hành khách được hưởng mọi quyền lợi theo đúng hạng vé và không phải trả tiền cước vận chuyển đối với hành lý xách tay trong phạm vi trọng lượng và chủng lọai do người vận chuyển quy định.

Điều 118. 1- Người vận chuyển có nghĩa vụ chuẩn bị cho tầu có đủ khả năng đi biển và an tòan vận chuyển cần thiết tương tự như quy định tại Điều 67 của Bộ luật này. 2- Người vận chuyển có nghĩa vụ chăm sóc và bảo vệ chu đáo hành khách và hành lý của họ từ khi nhận khách lên tầu cho đến khi hành khách và hành lý của họ rời cầu tầu ở cảng đích an tòan; chịu mọi phí tổn để đưa đón, chu cấp ăn uống, phục vụ sinh họat và giải trí trong các trường hợp đặc biệt xảy ra ngòai dự kiến, trong thời gian tầu thực hiện chuyến đi.

Điều 119. Người vận chuyển không chịu trách nhiệm về việc hành khách bị các nhà chức trách tại cảng mà tầu ghé vào trong thời gian thực hiện chuyến đi bắt giữ do những nguyên nhân mà bản thân hành khách tự gây ra.

Điều 120. 1- Hành khách lậu vé có nghĩa vụ trả đủ tiền công vận chuyển cho quãng đường đi tầu và một khỏan tiền phạt tương đương. 2- Thuyền trưởng có quyền đưa hành khách lậu vé lên bờ hoặc chuyển sang một tầu khác để đưa về cảng, nơi hành khách đó đã lên tầu và phải thông báo cho nhà chức trách có thẩm quyền biết về tên, tuổi, quốc tịch của hành khách lậu vé, nơi hành khách lên tầu và trốn trên tầu. Hành khách lậu vé vẫn phải thực hiện nghĩa vụ nói tại khỏan 1, Điều này.

Điều 121. 1- Nếu hành khách không có mặt tại tầu đúng thời điểm quy định, kể cả khi tầu ghé vào cảng trong thời gian thực hiện chuyến đi, thì người vận chuyển có quyền không trả lại tiền công vận chuyển đã thu. 2- Nếu hành khách bị ốm đau nguy hiểm đến tính mạng mà không thể đi tầu được hoặc bị chết trong vòng ít nhất là hai mươi bốn giờ trước khi tầu bắt đầu chuyến đi hoặc trong khi tầu đang hành trình và khi hành khách từ chối tiếp tục đi tầu vì những nguyên nhân do người vận chuyển gây ra, thì hành khách được quyền nhận lại tòan bộ hoặc một phần tiền công vận chuyển tương ứng với quãng đường còn lại. 3- Trong trường hợp tầu không thể đến cảng đích hoặc không đến được cảng đích đúng thời gian quy định vì những nguyên nhân khách quan không thuộc trách nhiệm của người vận chuyển, thì người vận chuyển có nghĩa vụ hòan trả cho hành khách số tiền công vận chuyển tương ứng với quãng đường còn lại hoặc phải chịu phí tổn đưa hành khách quay lại cảng nhận khách hoặc đến cảng đích tùy theo ý muốn của hành khách, bằng tầu biển hoặc các phương tiện vận chuyển khác, nếu không có điều kiện vận chuyển bằng tầu biển chở khách.

Điều 122. 1- Hành khách có thể rút khỏi hợp đồng và yêu cầu được nhận lại tiền công vận chuyển, nếu đã thông báo ý định của mình cho người vận chuyển biết trước bảy ngày trong vận chuyển quốc tế hoặc một ngày trong vận chuyển nội địa, trước khi tầu bắt đầu chuyến đi. Người vận chuyển có quyền giữ lại 25% tiền công vận chuyển, nếu không bán lại được cho người khác vé đi tầu đó. 2- Hành khách có thể rút khỏi hợp đồng và nhận lại tòan bộ tiền vận chuyển, nếu ba ngày sau thời điểm lẽ ra tầu phải bắt đầu chuyến đi mà tầu vẫn không rời cảng, đối với lọai tầu không chuyên dùng chở khách, thì thời hạn đó là bảy ngày.

Điều 123. 1- Trong trường hợp vận chuyển hành khách bằng tầu không chuyên dùng chở khách, thì người vận chuyển có quyền rút khỏi hợp đồng và hòan trả tiền công vận chuyển cho hành khách vì không thể bắt đầu chuyến đi do những nguyên nhân không thuộc về mình. 2- Người vận chuyển cũng có quyền theo quy định tại khỏan 1, Điều này khi tầu đang thực hiện chuyến đi và có nghĩa vụ thực hiện các quy định tại khỏan 3, Điều 121 của Bộ luật này.

Điều 124. Trong trường hợp tầu chưa bắt đầu chuyến đi hoặc đang hành trình mà xảy ra các trường hợp nói tại khỏan 1, Điều 105 của Bộ luật này, thì các bên tham gia hợp đồng đều có quyền rút khỏi hợp đồng mà khồng phải bồi thường; người vận chuyển chỉ có nghĩa vụ hòan trả cho khách số tiền công vận chuyển tương ứng với quãng đường còn lại, ngay cả khi hành khách rút khỏi hợp đồng.

Điều 125. 1- Hợp đồng mặc nhiên chấm dứt trong các trường hợp tầu bị mất tích, bị chìm đắm, bị phá hủy hoặc được coi là hư hỏng không thể sửa chữa được hoặc việc sửa chữa là không có hiệu quả kinh tế. 2- Tiền công vận chuyển được hòan trả cho hành khách theo quy định tại Điều 124 của Bộ luật này.

Điều 126. 1- Người vận chuyển phải chịu trách nhiệm về mọi tổn thất liên quan đến tính mạng, thương tích và các tổn hại khác về sức khỏe của hành khách xảy ra trong thời gian thực hiện chuyến đi, nếu không chứng minh được rằng bản thân mình hoặc các đại diện, người làm công cho mình không có lỗi để xảy ra tai nạn liên quan đến các tổn thất đó do tầu bị đâm va, chìm đắm, phá hủy, mắc cạn, bị nổ hoặc cháy. Mọi thỏa thuận nhằm làm giảm nhẹ hoặc miễn trừ trách nhiệm này của người vận chuyển đều không có giá trị. 2- Nếu người vận chuyển chứng minh được hành khách cố ý hoặc vô ý gây ra tai nạn, thì người vận chuyển được giảm một phần trách nhiệm quy định tại khỏan 1, Điều này. 3- Thời gian thực hiện chuyến đi bao gồm thời gian hành khách ở trên tầu, thời gian hành khách lên tầu và rời tầu, thời gian người vận chuyển chở khách từ bờ đến tầu và ngược lại bằng đường thủy, nếu tiền công vận chuyển đã được tính vào giá vé chung hoặc khi phương tiện chuyển tải hành khách do người vận chuyển cung cấp.

Điều 127. 1- Người vận chuyển chỉ chịu trách nhiệm bồi thường các tổn thất liên quan đến tính mạng, thương tích và các tổn hại khác về sức khỏe của hành khách trong mức giới hạn do Hội đồng bộ trưởng quy định hoặc trên cơ sở điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc công nhận. 2- Người vận chuyển không có quyền hưởng mức giới hạn này, nếu bản thân có lỗi gây ra tổn thất hoặc các đại diện, người làm công cho người vận chuyển ở trên tầu có lỗi khi thực hiện các trách nhiệm do người vận chuyển ủy nhiệm.

Điều 128. 1- Người vận chuyển chịu trách nhiệm về sự mất mát, hư hỏng hành lý theo các nguyên tắc liên quan đến hàng hóa quy định tại Chương V của Bộ luật này. 2- Người vận chuyển chỉ chịu trách nhiệm về sự mất mát, hư hỏng hành lý xách tay của hành khách xảy ra do người vận chuyển hoặc những người làm công trên tầu cố ý hoặc vô ý gây ra hoặc khi nhận ký gửi để bảo quản đã không chăm sóc cho đáo. 3- Người vận chuyển chỉ chịu trách nhiệm bồi thường đồ vật qúy hiếm, tiền bạc, giấy tờ có giá trị, tác phẩm nghệ thuật và các tài sản có giá trị khác, nếu hành khách đã khai báo về tính chất và giá trị của các tài sản đó cho thuyền trưởng hoặc sĩ quan có trách nhiệm về hành lý biết khi ký gửi để bảo quản.

Điều 129. 1- Người vận chuyển có quyền lưu giữ hành lý của hành khách để bảo đảm quyền lợi của mình cho đến khi đã được thỏa mãn hoặc nhận được một sự bảo đảm thỏa đáng khác. 2- Hành lý không có người nhận được xử lý theo Điều 96 của Bộ luật này.

Điều 130. 1- Mọi tổn thất liên quan đến tính mạng, thương tích và các tổn hại khác về sức khỏe của hành khách phải được báo cho người vận chuyển biết ngay sau khi xảy ra và trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày rời tầu, người khiếu nại phải gửi cho người vận chuyển văn bản khiếu nại đòi bồi thường. 2- Yêu cầu đòi bồi thường mất mát, hư hỏng hành lý phải được thông báo bằng văn bản cho người vận chuyển trong thời hạn bảy ngày, kể từ khi hành lý được giao hoặc lẽ ra phải được giao cho người nhận. 3- Thời hiệu khiếu nại đòi bồi thường các tổn thất về tính mạng, thương tích và các tổn hại khác về sức khỏe của hành khách là hai năm, tính từ ngày hành khách rời tầu; nếu hành khách chết trên tầu thì thời hiệu đó tính từ ngày hành khách lẽ ra phải rời tầu. Trong trường hợp hành khách chết sau khi rời tầu thì thời hiệu khiếu nại là ba năm, tính từ ngày hành khách rời tầu. 4- Thời hiệu khiếu nại đòi bồi thường mất mát, hư hỏng hành lý là sáu tháng, tính từ ngày trả hành lý hoặc ngày lẽ ra phải trả hành lý cho người nhận. CHƯƠNG VII HỢP ĐỒNG CHO THUÊ TẦU

Điều 131. 1- Hợp đồng cho thuê tầu là hợp đồng được ký kết giữa chủ tầu và người thuê tầu, mà theo đó chủ tầu giao quyền sử dụng tầu biển của mình cho người thuê tầu trong một thời hạn hoặc một số chuyến đi liên tục vào các mục đích cụ thể được thỏa thuận trong hợp đồng để hưởng tiền thuê tầu do người thuê tầu trả. Hợp đồng cho thuê tầu là cơ sở để xác định quan hệ pháp luật giữa người thuê tầu và chủ tầu. 2- Hợp đồng cho thuê tầu được ký kết theo các hình thức do hai bên thỏa thuận.

Điều 132. Hợp đồng cho thuê tầu quy định việc chủ tầu giao quyền sử dụng tầu biển cho người thuê tầu cùng với cả thuyền bộ, gọi là hợp đồng thuê tầu định hạn. Hợp đồng cho thuê tầu chỉ quy định việc chủ tầu giao quyền sử dụng tầu biển cho người thuê tầu mà không có thuyền bộ, gọi là hợp đồng thuê tầu trần.

Điều 133. 1- Nếu có thỏa thuận trong hợp đồng, thì người thuê tầu có thể cho người thứ ba thuê lại tầu, nhưng vẫn có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng đã ký kết với chủ tầu. 2- Các quyền và nghĩa vụ của chủ tầu quy định tại Chương này cũng được áp dụng đối với người cho thuê lại tầu.

Điều 134. 1- Chủ tầu có nghĩa vụ giao tầu biển cho người thuê tầu đúng địa điểm, thời điểm với trạng thái an tòan kĩ thuật cần thiết, có dủ dự trữ, phù hợp với mục đích sử dụng đã thỏa thuận trong hợp đồng và duy trì như vậy suốt thời gian cho thuê tầu. 2- Chủ tầu cho thuê tầu định hạn còn có nghĩa vụ cung cấp cùng với tầu một thuyền bộ có năng lực phù hợp với mục đích sử dụng tầu đã thỏa thuận trong hợp đồng, trả lương và bảo đảm các quyền lợi hợp pháp khác cho thuyền viên trong thời gian thuê tầu.

Điều 135 . 1- Người thuê tầu có tòan quyền sử dụng các khu vực chuyên dùng ở trên tầu để vận chuyển hàng hóa hoặc hàng khách. 2- Nếu chủ tầu không đồng ý, người thuê tầu không có quyền sử dụng các khu vực khác ở trên tầu để vận chuyển hàng hóa hoặc hành khách.

Điều 136. 1- Người thuê tầu không phải trả tiền thuê tầu cho thời gian tầu không đủ khả năng khai thác do hư hỏng, thiếu dự trữ hoặc do thuyền bộ không đủ năng lực cần thiết, nếu là tầu cho thuê định hạn. Trong trường hợp này, người thuê tầu được miễn trách nhiệm đối với các chi phí để duy trì tầu. 2- Nếu tầu không đủ khả năng khai thác do lỗi của người thuê tầu, thì chủ tầu vẫn được hưởng tiền thuê tầu và được bồi thường các thiệt hại liên quan.

Điều 137. 1- Trong thời gian tầu cho thuê định hạn, thuyền trưởng và các thuyền viên khác trong thuyền bộ của tầu vẫn thuộc quyền quản lý về lao động của chủ tầu. Chủ tầu hòan tòan chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến thuyền bộ. 2- Trong họat động khai thác tầu, thuyền trưởng là người đại diện của người thuê tầu và phải thực hiện các chỉ thị của người thuê tầu. 3- Chủ tầu chịu trách nhiệm với người thuê tầu về việc thuyền trưởng thực hiện quyền hạn nói tại khỏan 2, Điều này theo nguyên tắc cộng đồng trách nhiệm, trừ khi thuyền trưởng đã ghi rõ trong cam kết của mình là thực hiện quyền hạn đó nhân danh người thuê tầu.

Điều 138. Nếu tầu cho thuê định hạn tham gia cứu hộ trong thời gian cho thuê, thì tiền công cứu hộ được chia đều giữa chủ tầu và người thuê tầu, sau khi đã trừ lần lượt các tổn thất liên quan đến hành động cứu hộ và tiền thưởng công cứu hộ cho thuyền bộ.

Điều 139. 1- Người thuê tầu có nghĩa vụ sử dụng tầu đúng các mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng và phải chăm sóc chu đáo các quyền lợi của chủ tầu. 2- Sau khi đã hết hạn cho thuê tầu, người thuê tầu có nghĩa vụ giao trả tầu cho chủ tầu đúng địa điểm, thời điểm và trạng thái kĩ thuật như đã thỏa thuận. Người thuê tầu có trách nhiệm trả tiền thuê tầu cho đến ngày giao trả tầu cho chủ tầu. 3- Người thuê tầu có nghĩa vụ bảo dưỡng tầu và các trang thiết bị của tầu, nếu không có thỏa thuận khác trong hợp đồng. 4- Người thuê tầu trần còn có nghĩa vụ sửa chữa các hư hỏng của tầu trong thời gian thuê tầu và phải thông báo cho chủ tầu biết. Chủ tầu chịu trách nhiệm trả tiền sửa chữa, nếu các tổn thất phát sinh ngòai phạm vi trách nhiệm của người thuê tầu.

Điều 140. 1- Người thuê tầu có quyền rút khỏi hợp đồng và được đòi bồi thường các thiết hại liên quan, nếu chủ tầu có lỗi trong khi thực hiện nghĩa vụ quy định tại khỏan 1, Điều 134 của Bộ luật này. 2- Cả hai bên đều có quyền rút khỏi hợp đồng mà không phải bồi thường, nếu xảy ra chiến tranh, bạo lọan hoặc do các hành động cưỡng chế của chính quyền cản trở việc thực hiện hợp đồng mà các sự kiện đó không thể chấm dứt sau một thời gian chờ đợi hợp lý.

Điều 141. 1- Hợp đồng cho thuê tầu mặc nhiên chấm dứt, nếu tầu bị mất tích, bị chìm đắm, bị phá hủy hoặc bị coi là hư hỏng không sửa chữa được hoặc việc sửa chữa là không có hiệu quả kinh tế. 2- Trong trường hợp tầu cho thuê bị mất tích, thì tiền thuê tầu được tính đến ngày thực tế nhận được tin tức cuối cùng về tầu đó.

Điều 142. Thời hiệu khiếu nại đối với các vụ việc liên quan đến hợp đồng cho thuê tầu là hai năm, tính từ ngày hợp đồng đó chấm dứt. CHƯƠNG VIII ĐẠI LÝ TẦU BIỂN VÀ MÔI GIỚI HÀNG HẢI MỤC A ĐẠI LÝ TẦU BIỂN

Điều 143. 1- Người đại lý tầu biển là người đại diện thường trực của chủ tầu tại một cảng hoặc khu vực đại lý nhất định. 2- Chủ tầu và người đại lý ký kết hợp đồng đại lý cho từng chuyến tầu hoặc cho một thời hạn cụ thể, theo các hình thức do hai bên thỏa thuận. Trong hợp đồng phải ghi rõ phạm vi ủy thác của chủ tầu cho người đại lý. 3- Hợp đồng là cơ sở để xác định quan hệ pháp luật giữa hai bên và là bằng chứng về sự ủy nhiệm của chủ tầu cho người đại lý trong quan hệ đối với người thứ ba.

Điều 144. 1- Trên cơ sở hợp đồng, người đại lý nhân danh chủ tầu tiến hành các họat động liên quan đến việc kinh doanh hàng hải, bao gồm việc thực hiện các thủ tục cần thiết liên quan đến họat động của tầu tại cảng; ký kết các hợp đồng vận chuyển, hợp đồng bảo hiểm hàng hải, hợp đồng bốc xếp hàng hóa, hợp đồng cho thuê tầu, hợp đồng thuê thuyền viên; ký phát vận đơn hoặc chứng từ vận chuyển hàng hóa tương đương; thu chi các khỏan tiền liên quan đến họat động khai thác tầu; giải quyết tranh chấp về hợp đồng vận chuyển hoặc về tai nạn hàng hải. 2- Người đại lý có thể phục vụ cho quyền lợi của người thuê vận chuyển, người thuê tầu hoặc những người khác có quan hệ hợp đồng với chủ tầu, nếu được chủ tầu đồng ý. 3- Trong trường hợp người đại lý có hành động vượt quá phạm vi ủy thác của chủ tầu, thì chủ tầu vẫn phải chịu trách nhiệm về hành động đó, nếu ngay sau khi nhận được tin đã không tuyên bố cho những người liên quan biết là mình không công nhận hành động này của người đại lý.

Điều 145. 1- Người đại lý có trách nhiệm tiến hành các họat động cần thiết để chăm sóc và bảo vệ chu đáo các quyền lợi của chủ tầu; phải chấp hành các yêu cầu và chỉ dẫn của chủ tầu; nhanh chóng thông báo cho chủ tầu về các sự kiện liên quan đến công việc được ủy thác; tính tóan chính xác các khỏan thu và chi liên quan đến công việc được ủy thác. 2- Người đại lý phải bồi thường cho chủ tầu các thiệt hại do lỗi của mình gây ra.

Điều 146. Chủ tầu có trách nhiệm hướng dẫn người đại lý thực hiện công việc đã ủy thác khi cần thiết và phải ứng trước theo yêu cầu của người đại lý khỏan tiền dự chi cho công việc được ủy thác.

Điều 147. Các bên tham gia hợp đồng đại lý thỏa thuận về đại lý phí; nếu trong hợp đồng không có thỏa thuận, thì đại lý phí được xác định trên cơ sở tập quán địa phương.

Điều 148. Các bên tham gia hợp đồng đại lý đều có quyền rút khỏi hợp đồng theo các điều kiện đã thỏa thuận trước trong hợp đồng.

Điều 149. Thời hiệu khiếu nại về việc thực hiện hợp đồng đại lý là hai năm, tính từ ngày phát sinh vụ việc. MỤC B MÔI GIỚI HÀNG HẢI

Điều 150. 1- Người môi giới hàng hải là người làm trung gian trong việc ký kết hợp đồng vận chuyển, hợp đồng bảo hiểm hàng hải, hợp đồng cho thuê tầu, hợp đồng mua bán tầu, hợp đồng lai dắt, hợp đồng thuê thuyền viên và các hợp đồng khác liên quan đến họat động hàng hải, theo sự ủy thác từng vụ việc của người ủy thác. 2- Người môi giới hàng hải chỉ được hưởng hoa hồng môi giới khi hợp đồng được ký kết do họat động trung gian của mình. Người môi giới và người ủy thác thỏa thuận về hoa hồng môi giới; nếu không có thỏa thuận trước, thì hoa hồng môi giới được xác định trên cơ sở tập quán địa phương. 3- Trên cơ sở ủy thác, người môi giới hàng hải nhân danh người ủy thác ký kết hợp đồng hoặc thu các khỏan tiền liên quan, nếu không có sự hạn chế rõ ràng mà phía bên kia đã biết.

Điều 151. Người môi giới hàng hải có quyền phục vụ các bên tham gia hợp đồng với điều kiện phải thông báo cho tất cả các bên biết về việc đó và có nghĩa vụ quan tâm thích đáng đến quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan.

Điều 152. Thời hiệu khiếu nại về việc thực hiện họat động môi giới hàng hải giữa người môi giới và người ủy thác là hai năm, tính từ ngày phát sinh vụ việc. CHƯƠNG IX HOA TIÊU HÀNG HẢI

Điều 153. 1- Hoa tiêu là người cố vấn và giúp đỡ cho thuyền trưởng điều khiển tầu phù hợp với điều kiện hàng hải ở khu vực dẫn tầu của hoa tiêu. Việc sử dụng hoa tiêu không miễn giảm trách nhiệm chỉ huy tầu của thuyền trưởng, kể cả trong trường hợp việc sử dụng hoa tiêu là bắt buộc theo quy định của pháp luật. 2- Thuyền trưởng có quyền lựa chọn hoa tiêu hoặc đình chỉ họat động của hoa tiêu và yêu cầu thay thế hoa tiêu.

Điều 154. 1- Trong thời gian dẫn tầu, hoa tiêu thuộc quyền chỉ huy của thuyền trưởng tầu được dẫn. 2- Hoa tiêu có nghĩa vụ thường xuyên chỉ dẫn cho thuyền trưởng biết về các điều kiện hàng hải ở khu vực dẫn tầu; khuyến nghị thuyền trưởng về các hành động không phù hợp với các quy định bảo đảm an tòan hàng hải và các quy định pháp luật khác. Khi thuyền trưởng cố ý không thực hiện các chỉ dẫn hoặc khuyến nghị hợp lý của mình, thì với sự làm chứng của người thứ ba, hoa tiêu có quyền từ chối dẫn tầu. 3- Hoa tiêu có nghĩa vụ thông báo cho Giám đốc cảng vụ về tình hình dẫn tầu và những thay đổi có tính chất nguy hiểm về hàng hải mà mình phát hiện được trong khi dẫn tầu. 4- Hoa tiêu phải thực hiện mẵn cán nghĩa vụ của mình.

Điều 155. Thuyền trưởng có nghĩa vụ thông báo chính xác cho hoa tiêu tính năng và đặc điểm riêng của tầu; bảo đảm an tòan cho hoa tiêu khi lên và rời tầu; cung cấp cho hoa tiêu các tiện nghi làm việc, phục vụ sinh họat trong suốt thời gian hoa tiêu ở trên tầu.

Điều 156. Nhiệm vụ của hoa tiêu chỉ được coi là kết thúc sau khi tầu đã thả neo, cập cầu hoặc đã đến vị trí thỏa thuận một cách an tòan hoặc khi có hoa tiêu khác thay thế. Không có sự đồng ý của thuyền trưởng, hoa tiêu không được phép rời tầu. Trong trường hợp vì lý do bảo đảm an tòan, hoa tiêu không thể rời tầu sau khi kết thúc nhiệm vụ, thì thuyền trưởng phải ghé vào cảng gần nhất để hoa tiêu rời tầu. Chủ tầu phải chịu trách nhiệm đài thọ các chi phí liên quan và tổ chức đưa hoa tiêu trở về nơi đã tiếp nhận hoa tiêu.

Điều 157. 1- Trong trường hợp xảy ra tổn thất do lỗi của hoa tiêu, thì chủ tầu phải chịu trách nhiệm bồi thường các tổn thất đó như đối với tổn thất xảy ra do lỗi của thuyền viên. 2- Hoa tiêu chỉ phải chịu trách nhiệm hành chính hoặc hình sự trong trường hợp nói tại khỏan 1, Điều này.

Điều 158. 1- Hội đồng bộ trưởng quy định biểu phí hoa tiêu tại Việt Nam. 2- Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện quy định cụ thể về tổ chức hoa tiêu; tiêu chuẩn và chứng chỉ chuyên môn của hoa tiêu; vùng hoa tiêu bắt buộc hoặc không bắt buộc tại Việt Nam. CHƯƠNG X LAI DẮT TRÊN BIỂN

Điều 159. 1- Lai dắt trên biển là việc thực hiện tác nghiệp lai, kéo, đẩy hoặc hỗ trợ tầu biển và các phương tiện nổi khác trên biển và các vùng nước liên quan đến biển mà tầu biển được phép họat động, ngay cả khi tầu lai chỉ túc trực bên cạnh để hỗ trợ khi cần thiết. 2- Người thuê lai dắt và chủ tầu lai thỏa thuận về tiền công lai dắt trong hợp đồng lai dắt; nếu không có thỏa thuận trong hợp đồng, thì tiền công lai dắt được xác định trên cơ sở tập quán địa phương. 3- Hợp đồng lai dắt phải được làm thành văn bản, trừ trường hợp lai dắt tầu làm man-nơ trong cảng.

Điều 160. 1- Tầu lai và tầu biển hoặc các phương tiện được lai dắt khác hợp thành tập thể lai dắt. Tập thể lai dắt được hình thành kể từ khi tầu lai và các thành viên khác của tập thể lai dắt đã sẵn sàng thực hiện các tác nghiệp cần thiết theo lệnh của người chỉ huy tập thể lai dắt và được giải tán khi các tác nghiệp cuối cùng đã được thực hiện xong, các thành viên của tập thể lai dắt đã rời xa nhau ở một khỏang cách an tòan. 2- Các bên tham gia hợp đồng lai dắt trên biển thỏa thuận trong hợp đồng về người có quyền chỉ huy theo tập thể lai dắt; nếu không có thỏa thuận, thì xác định theo tập quán địa phương.

Điều 161. Chủ tầu lai có nghĩa vụ cung cấp tầu lai đúng địa điểm, thời điểm với điều kiện kĩ thuật thỏa thuận trong hợp đồng.

Điều 162. 1- Chủ tầu của tầu có thuyền trưởng giữ quyền chỉ huy tập thể lai dắt phải chịu trách nhiệm về các tổn thất về tầu, người và tài sản trên tầu của các thành viên khác trong tập thể lai dắt, nếu không chứng minh được rằng các tổn thất đó xảy ra ngòai phạm vi trách nhiệm của mình. 2- Các tầu dưới quyền chỉ huy của thuyền trưởng tầu khác không được miễn giảm trách nhiệm quan tâm đến sự an tòan chung của tập thể lai dắt và an tòan hàng hải; chủ tầu chịu trách nhiệm về các tổn thất về tầu, người và tài sản trên tầu của các thành viên khác, nếu tầu của mình có lỗi gây ra tổn thất.

Điều 163. Thời hiệu khiếu nại về việc thực hiện hợp đồng lai dắt trên biển là hai năm, tính từ ngày chấm dứt hợp đồng lai dắt. CHƯƠNG XI CỨU HỘ HÀNG HẢI

Điều 164. 1- Cứu hộ hàng hải là hành động cứu tầu biển hoặc các tài sản thuộc về tầu thóat khỏi nguy hiểm hoặc hành động cứu trợ tầu biển đang bị nguy hiểm, được thực hiện trên cơ sở hợp đồng cứu hộ hàng hải. 2- Hợp đồng cứu hộ hàng hải được ký kết theo các hình thức do các bên thỏa thuận.

Điều 165. 1- Mọi hành động cứu hộ hàng hải mang lại kết quả có ích đều được hưởng tiền công cứu hộ hợp lý. 2- Tiền công cứu hộ cũng phải được trả, kể cả trong các trường hợp: người cứu hộ có hành động trực tiếp hoặc gián tiếp giúp người được cứu hộ bảo vệ các quyền lợi liên quan đến tiền cước, tiền công vận chuyển hành khách; cứu hộ tầu biển thuộc cùng một chủ tầu; cứu hộ tầu sông hoặc thủy phi cơ trên biển hoặc các vùng nước nội địa 3- Hành động cứu hộ trái với sự chỉ định rõ ràng và hợp lý của thuyền trưởng tầu được cứu, thì không được trả tiền công cứu hộ.

Điều 166. 1- Người được cứu tính mạng không có nghĩa vụ trả bất cứ một khỏan tiền nào cho người đã cứu mình. 2- Người cứu tính mạng được hưởng một khỏan tiền thưởng hợp lý trong tiền công cứu hộ tài sản, nếu hành động đó liên quan đến cùng một tai nạn làm phát sinh hành động cứu hộ tài sản.

Điều 167. Người đang thực hiện nhiệm vụ hoa tiêu hoặc lai dắt trên biển được thưởng công cứu hộ, nếu đã có những sự giúp đỡ đặc biệt vượt quá phạm vi trách nhiệm theo hợp đồng để cứu hộ tầu mà mình đang phục vụ.

Điều 168. Các bên tham gia hợp đồng cứu hộ đều có quyền yêu cầu hủy bỏ hoặc thay đổi những thỏa thuận không hợp lý trong hợp đồng, nếu các thỏa thuận này được ký kết trong tình trạng nguy cấp và bị tác động bởi tình trạng đó hoặc chứng minh được là đã bị lừa dối, lợi dụng khi ký kết và khi tiền công cứu hộ quá thấp hoặc quá cao so với thực tế.

Điều 169. 1- Tiền công cứu hộ bao gồm tiền thưởng công cứu hộ, chi phí cứu hộ và chi phí vận chuyển, bảo quản tầu hoặc tài sản được cứu hộ. 2- Tiền công cứu hộ được thỏa thuận trong hợp đồng, nhưng phải hợp lý và không được vượt quá giá trị tầu hoặc tài sản được cứu hộ. 3- Trong trường hợp tiền công cứu hộ không được thỏa thuận trong hợp đồng hoặc không hợp lý và khi có nhiều người tham gia cứu hộ, thì tiền công cứu hộ được xác định trên cơ sở:

a) Kết quả cứu hộ;

b) Công sức và mức độ cố gắng của người cứu hộ;

c) Mức độ nguy hiểm đối với người trên tầu bị nạn, tầu hoặc tài sản bị nạn;

d) Mức độ nguy hiểm đối với người cứu hộ cũng như đối với các tầu và thiết bị cứu hộ mà người cứu hộ sử dụng;

e) Thời gian, chi phí và các tổn thất liên quan;

g) Rủi ro về trách nhiệm hoặc các rủi ro khác mà người cứu hộ phải gánh chịu;

h) Giá trị các thiết bị cứu hộ;

i) Sự điều chỉnh đặc biệt của tầu cứu hộ để phục vụ hành động cứu hộ;

k) Giá trị tài sản được cứu. 4- Tiền công cứu hộ có thể bị giảm hoặc không được công nhận, nếu người cứu hộ đã tự gây ra tình trạng phải cứu hộ hoặc có hành động trộm cắp, lừa đảo, gian lận khi thực hiện hợp đồng cứu hộ.

Điều 170. Giá trị tầu hoặc tài sản được cứu là giá trị thực tế tại nơi để tầu hoặc tài sản sau khi được cứu hộ hoặc tiền bán, định giá tài sản sau khi đã trừ chi phí ký gửi, bảo quản, tổ chức bán đấu giá và các chi phí tương tự khác.

Điều 171. Tầu hoặc tài sản được cứu hộ có thể bị cầm giữ hoặc tạm giữ để bảo đảm việc thanh tóan tiền công cứu hộ và các chi phí khác liên quan đến việc định giá, tổ chức bán đấu giá.

Điều 172. 1- Tiền công cứu hộ được chia đều giữa chủ tầu và thuyền bộ tầu cứu hộ, sau khi trừ chi phí, tổn thất của tầu và chi phí, tổn thất của chủ tầu hoặc của thuyền bộ liên quan đến hành động cứu hộ. Nguyên tắc này không áp dụng đối với tầu cứu hộ chuyên dùng. 2- Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện quy định cụ thể cách thức phân chia tiền công cứu hộ của thuyền bộ.

Điều 173. 1- Các quy định tại Chương này cũng được áp dụng đối với các lọai tầu thuộc các lực lượng vũ trang Việt Nam. 2- Bộ trưởng Bộ quốc phòng và Bộ trưởng Bộ nội vụ quy định cụ thể cách thức phân chia tiền công cứu hộ của thuyền bộ các tầu thuộc các lực lượng vũ trang Việt Nam.

Điều 174. Thời hiệu khiếu nại về việc thực hiện hợp đồng cứu hộ là hai năm, tính từ ngày kết thúc hành động cứu hộ. CHƯƠNG XII TRỤC VỚT TÀI SẢN CHÌM ĐẮM

Điều 175. 1- Tài sản chìm đắm nói tại Chương này là tầu, hàng hóa hoặc các vật thể khác chìm đắm ở nội thủy, lãnh hải Việt Nam hoặc trôi nổi trên biển hoặc dạt vào bờ biển Việt Nam. 2- Trong thời hạn chậm nhất là một trăm tám mươi ngày, kể từ ngày tài sản bị chìm đắm, chủ sở hữu tài sản đó phải thông báo cho Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện về ý định trục vớt và thời hạn dự kiến kết thúc hành động trục vớt. Trong thời hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày nhận được thông báo nói trên, Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện ra quyết định chấp nhận thời hạn dự kiến kết thúc họat động trục vớt hoặc quy định cụ thể thời hạn chủ sở hữu phải kết thúc họat động trục vớt. Thời hạn trục vớt không được quá một năm, kể từ ngày chủ sở hữu tài sản được giao quyết định này. 3- Trong trường hợp chủ sở hữu tài sản không tiến hành họat động trục vớt trong thời hạn nói tại khỏan 2, Điều này hoặc kéo dài họat động trục vớt quá một năm, kể từ ngày kết thúc thời hạn trục vớt, thì tài sản đó đương nhiên trở thành tài sản của Nhà nước Việt Nam.

Điều 176. Việc trục vớt tài sản chìm đắm trong khu vực quân sự và việc trục vớt trang thiết bị quân sự phải được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hoặc thủ trưởng cơ quan quân sự mà Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ủy nhiệm cấp giấy phép.

Điều 177. 1- Trong trường hợp tài sản bị chìm đắm gây nguy hiểm hoặc cản trở họat động hàng hải, khai thác cảng và tài nguyên biển; đe dọa tính mạng và sức khỏe con người; gây ô nhiễm môi trường biển, thì chủ tài sản có nghĩa vụ trục vớt ngay sau khi bị chìm đắm. Trong trường hợp chủ tài sản không thực hiện việc trục vớt, thì Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện tổ chức trục vớt và quy định rõ thời hạn chủ sở hữu tài sản phải thanh tóan các chi phí liên quan. Chủ sở hữu tài sản còn phải bồi thường các tổn thất liên quan và bị phạt theo quy định của pháp luật, ngay cả khi bị mất quyền sở hữu tài sản quy định tại khỏan 3, Điều 175 của Bộ luật này. 2- Trong trường hợp nói tại khỏan 1, Điều này, Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện có quyền chỉ định người trục vớt tài sản, nếu xét thấy người trục vớt do chủ sở hữu tài sản chỉ định không có khả năng bảo đảm trục vớt tài sản đúng thời hạn. 3- Sau một trăm tám mươi ngày, kể từ ngày nhận thông báo về việc tài sản đã được trục vớt, nếu chủ sở hữu tài sản không yêu cầu nhận lại tài sản hoặc không thanh tóan các chi phí liên quan trong thời hạn quy định, thì Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện hoặc cơ quan được Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện ủy nhiệm có quyền đem bán đấu giá tài sản. Sau khi thu lại chi phí trục vớt, chi phí bảo quản, tổ chức bán đấu giá và các chi phí khác, số tiền còn thừa phải được ký gửi vào ngân hàng để trả lại cho chủ sở hữu tài sản. 4- Chủ sở hữu tài sản chỉ chịu trách nhiệm thanh tóan các chi phí liên quan đến các trường hợp nói tại Điều này trong giới hạn giá trị thực tế của tài sản đã được trục vớt.

Điều 178. Các tổ chức và cá nhân Việt Nam được giành quyền ưu tiên trong việc ký kết hợp đồng trục vớt tài sản chìm đắm tại nội thủy, lãnh hải Việt Nam.

Điều 179. 1- Trong trường hợp ngẵu nhiên trục vớt được tài sản của người khác trong nội thủy, lãnh hải Việt Nam hoặc khi đưa tài sản ngẵu nhiên trục vớt được vào nội thủy, lãnh hải Việt Nam, người trục vớt phải thông báo ngay cho Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đơn vị hành chính tương đương, Hải quan nơi gần nhất và Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện biết về thời điểm, địa điểm và các sự kiện liên quan khác; phải bảo vệ tài sản đó đến khi giao lại; nếu có điều kiện cũng phải thông báo cho chủ sở hữu tài sản biết. 2- Trong trường hợp nói tại khỏan 1, Điều này, người trục vớt được hưởng tiền công trục vớt và nhận lại chi phí liên quan khác theo các nguyên tắc tương ứng về cứu hộ. 3- Trong trường hợp tài sản trục vớt nói tại khỏan 1, Điều này thuộc lọai mau hỏng hoặc khi việc bảo quản là quá tốn kém, thì người trục vớt có quyền xử lý tài sản theo quy định tại khỏan 3, Điều 177 của Bộ luật này. 4- Trong thời hạn mười bốn ngày, kể từ ngày được thông báo mà chủ sở hữu tài sản không yêu cầu nhận lại tài sản hoặc không thanh tóan các khỏan nợ và khi không xác định được chủ sở hữu tài sản, thì người trục vớt có nghĩa vụ giao nộp tài sản đó cho Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đơn vị hành chính tương đương quản lý. Trong thời hạn một trăm tám mươi ngày, kể từ ngày thông báo mà chủ sở hữu tài sản không có hành động gì để bảo vệ quyền lợi của mình, thì Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đơn vị hành chính tương đương có quyền xử lý tài sản theo quy định tại khỏan 3, Điều 177 của Bộ luật này.

Điều 180. 1- Người nào tìm thấy, cứu hoặc tham gia cứu được tài sản của người khác đang trôi nổi trên biển, thì có quyền hưởng tiền công theo nguyên tắc tương tự về cứu hộ, nếu đã thông báo cho chủ sở hữu tài sản biết về yêu cầu của mình, chậm nhất là khi trao trả tài sản. 2- Người tìm thấy, bảo quản tài sản dạt vào bờ biển, thì có quyền được hưởng một khỏan tiền thưởng và bồi hòan chi phí bảo quản không quá 30% giá trị thị trường của tài sản đó, nếu đã thông báo cho chủ sở hữu tài sản biết, chậm nhất là khi trao trả tài sản. 3- Các quy định tại các khỏan 1, 3 và 4 , Điều 179 của Bộ luật này cũng được áp dụng đối với các trường hợp nói tại khỏan 1 và khỏan 2, Điều này.

Điều 181. Hội đồng bộ trưởng quy định cụ thể việc xử lý tài sản chìm đắm ở biển. CHƯƠNG XIII TAI NẠN ĐÂM VA

Điều 182. 1- Tai nạn đâm va nói tại Bộ luật này là tai nạn xảy ra do đâm va giữa tầu biển với tầu biển, tầu biển với tầu sông, tầu biển với thủy phi cơ hoặc các phương tiện nổi khác trong các vùng nước mà tầu biển được phép họat động. 2- Tầu có lỗi gây ra tai nạn đâm va phải bồi thường mọi tổn thất về tầu, người và tài sản liên quan đến tai nạn đâm va đó. Khi chưa xác định được lỗi một cách rõ ràng, thì không ai có thể bị coi là đã có lỗi gây ra tai nạn đam va. 3- Tầu có lỗi gây ra tai nạn đâm va là tầu gây ra sự đâm va do có hành động hoặc sự sơ suất trong việc trang bị, điều khiển, quản trị tầu; trong việc chấp hành quy tắc phòng ngừa đâm va trên biển và quy định bảo đảm an tòan hàng hải; do không thực hiện những tập quán nghề nghiệp cần thiết.

Điều 183. 1- Trong trường hợp có hai hoặc nhiều tầu cùng có lỗi trong một tai nạn đâm va, thì trách nhiệm bồi thường được phân bổ tùy theo mức độ lỗi của mỗi bên. Trong trường hợp mức độ lỗi ngang nhau hoặc khi không xác định cụ thể mức độ lỗi của mỗi bên, thì trách nhiệm bồi thường được phân bổ đều cho tất cả các bên. 2- Đối với việc bồi thường tính mạng, thương tích hoặc tổn hại khác về sức khỏe con người, các tầu có lỗi phải chịu trách nhiệm theo nguyên tắc cộng đồng trách nhiệm. Tầu đã bồi thường quá trách nhiệm của mình có quyền đòi các tầu liên quan hòan trả số tiền quá mức đó. Thời hiệu khiếu nại về việc đòi hòan trả số tiền quá mức là một năm, tính từ ngày trả tiền bồi thường.

Điều 184. Trong trường hợp tai nạn đâm va xảy ra do các nguyên nhân bất khả kháng, ngẵu nhiên hoặc khi không xác định được tầu có lỗi, thì thiệt hại của tầu nào do tầu đó chịu, kể cả trường hợp tầu đang được neo, buộc hoặc cặp mạn một tầu khác thì xảy ra đâm va.

Điều 185. 1- Khi xảy ra tai nạn đâm va, thuyền trưởng các tầu liên quan có nghĩa vụ tiến hành cứu nạn tầu, người và tài sản trên tầu khác, nếu hành động đó không gây ra sự nguy hiểm đặc biệt cho tầu, người và tài sản trên tầu của mình. 2- Ngay sau khi đâm va, thuyền trưởng các tầu liên quan có nghĩa vụ trao đổi cho nhau biết tên tầu, hô hiệu, nơi đăng ký, cảng rời cuối cùng và cảng định đến của tầu mình. 3- Chủ tầu không chịu trách nhiệm về việc thuyền trưởng dưới quyền không thực hiện nghĩa vụ nói tại khỏan 1 và khỏan 2, Điều này.

Điều 186. 1- Các quy định tại Chương này cũng được áp dụng khi tầu có lỗi gây ra tổn thất cho tầu, người và tài sản trên tầu khác mà không có sự đâm va trực tiếp. 2- Các quy định tại Chương này cũng được áp dụng đối với các tầu thuộc các lực lượng vũ trang Việt Nam. Các tầu này chỉ được miễn trách nhiệm bồi thường nếu có lỗi gây ra tai nạn đâm va khi đang làm nhiệm vụ ở vùng diễn tập quân sự và vùng cấm họat động hàng hải đã được công bố, nhưng thuyền trưởng vẫn phải thực hiện nghĩa vụ quy định tại Điều 185 của Bộ luật này. CHƯƠNG XIV TỔN THẤT CHUNG

Điều 187. 1- Tổn thất chung bao gồm những hy sinh hoặc chi phí bất thường được thực hiện một cách có ý thức và hợp lý vì sự an tòan chung nhằm cứu tầu, hàng hóa, tiền cước vận chuyển hoặc tiền công vận chuyển hành khách thóat khỏi hiểm họa chung. 2- Tổn thất là hậu quả trực tiếp của hành động gây ra tổn thất chung mới được tính vào tổn thất chung. Tổn thất gián tiếp liên quan đến hành động gây ra tổn thất chung như tổn thất do lưu tầu hoặc do chênh lệch giá đều không được tính vào tổn thất chung. 3- Chi phí đặc biệt vượt quá mức cần thiết chỉ được tính vào tổn thất chung trong giới hạn hợp lý đối với từng trường hợp cụ thể.

Điều 188. 1- Tổn thất chung được phân bổ theo một tỉ lệ tương ứng với giá trị của tầu, hàng hóa, tiền cước vận chuyển, tiền công vận chuyển hành khách ở nơi và thời điểm mà tầu ghé vào lánh nạn sau khi xảy ra tổn thất chung. 2- Các quy định tại khỏan 1, Điều này cũng được áp dụng đối với trường hợp hiểm họa chung phát sinh do lỗi của người cùng có lợi ích trong tổn thất chung hoặc của người thứ ba. 3- Tổn thất chung cũng được phân bổ ngay cả khi đã phải hy sinh tầu hoặc tòan bộ hàng hóa mà không đạt được hiệu quả mong muốn. 4- Việc phân bổ tổn thất chung không lọai trừ quyền của người liên quan đòi người có lỗi phải bồi thường cho mình.

Điều 189. Tổn thất của số hàng hóa được bốc lậu lên tầu hoặc khai sai về chủng lọai và giá trị không được tính vào tổn thất chung; nếu hàng hóa đó cũng được cứu thóat khỏi hiểm họa chung, thì cũng phải chịu một giá trị phân bổ tương ứng.

Điều 190. Mọi tổn thất về tầu, hàng hóa, tiền cước vận chuyển không được tính vào tổn thất chung theo các nguyên tắc trên đây, được gọi là tổn thất riêng. Người bị thiệt hại không được bồi thường, nếu không chứng minh được tổn thất xảy ra do lỗi của người khác.

Điều 191. 1- Việc xác định tổn thất chung, giá trị tổn thất và phân bổ tổn thất chung do các chuyên viên phân bổ tổn thất chung thực hiện theo yêu cầu và chỉ định của chủ tầu. 2- Chủ tầu có nghĩa vụ chỉ định chuyên viên phân bổ tổn thất chung của mình chậm nhất là sau ba mươi ngày, kể từ ngày tầu ghé vào nơi lánh nạn, sau khi xảy ra tổn thất chung. Sau thời hạn đó mà chủ tầu chưa chỉ định được, thì bất cứ ai trong số những người liên quan cũng có quyền chỉ định chuyên viên phân bổ tổn thất chung. 3- Các nguyên tắc dùng để xác định cụ thể giá trị tổn thất và giá trị phân bổ tổn thất chung do các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Trong trường hợp không có thỏa thuận trước trong hợp đồng, thì chuyên viên phân bổ tổn thất chung căn cứ vào tập quán quốc tế để giải quyết.

Điều 192. Thời hiệu khiếu nại về tổn thất chung là hai năm, tính từ ngày xảy ra tổn thất chung. Thời hiệu này tạm dừng khi các chuyên viên phân bổ tổn thất chung bắt đầu tiến hành họat động xác định tổn thất chung và tiếp tục được tính từ ngày họat động đó chấm dứt.

Điều 193. Hội đồng bộ trưởng ban hành Quy chế về chuyên viên phân bổ tổn thất chung. CHƯƠNG XV TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ TẦU

Điều 194. 1- Chủ tầu có trách nhiệm bồi thường dân sự các tổn thất phát sinh trong việc sử dụng tầu biển, nếu không chứng minh được rằng đã không có lỗi gây ra tổn thất đó, sau đây gọi là trách nhiệm dân sự của chủ tầu. 2- Trách nhiệm bồi thường dân sự không lọai trừ trách nhiệm hành chính và hình sự.

Điều 195. 1- Chủ tầu được hạn chế trách nhiệm bồi thường theo mức giới hạn quy định tại Điều 196 của Bộ luật này khi bồi thường các tổn thất liên quan đến:

a) Bất cứ người nào có mặt ở trên tầu mà bị chết, bị thương hoặc bị tổn hại khác về sức khỏe con người; mọi tài sản ở trên tầu bị mất mát, hư hỏng;

b) Bất cứ người nào ở bên ngòai con tầu mà bị chết, bị thương hoặc bị tổn hại khác về sức khỏe con người; mọi tài sản hoặc các quyền lợi khác ở bên ngòai con tầu bị mất mát, hư hỏng hoặc bị xâm phạm do hành động, sự sơ suất, sai lầm của bất cứ ai đang ở trên tầu hoặc ở ngòai con tầu mà chủ tầu phải chịu trách nhiệm về hành động, sự sơ suất, sai lầm của họ. Trong trường hợp tổn thất do những người ở bên ngòai con tầu gây ra mà chủ tầu phải chịu trách nhiệm về hành động, sự sơ suất, sai lầm của họ, thì chủ tầu chỉ được hạn chế trách nhiệm bồi thường đối với các tổn thất phát sinh trong việc điều khiển, quản trị tầu, bốc hàng, vận chuyển và dỡ hàng; nhận hành khách, vận chuyển và trả hàng khách;

c) Mọi nghĩa vụ, trách nhiệm theo quy định của pháp luật về việc thanh thải xác tầu và các vật thể liên quan đến tầu khi trục vớt, di chuyển, phá hủy tầu bị đắm, bị mắc cạn hoặc bị bỏ lại; nghĩa vụ hoặc trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho thiết bị cảng, cầu bến, luồng lạch, vũng đậu tầu, ụ tầu; nghĩa vụ hoặc trách nhiệm bồi thường tổn thất ô nhiễm môi trường do tầu gây ra mà không phải là tổn thất ô nhiệm môi trường do phóng xạ nguyên tử. 2- Chủ tầu cũng được hạn chế trách nhiệm bồi thường trong các trường hợp nói tại điểm b, khỏan 1, Điều này, nếu trách nhiệm đó phát sinh từ việc sở hữu, chiếm hữu, quản lý, kiểm sóat tầu mà không cần phải chứng minh; lỗi của chủ tầu hoặc của những người khác mà chủ tầu phải chịu trách nhiệm. 3- Chủ tầu không được hạn chế trách nhiệm bồi thường trong các trường hợp xảy tổn thất liên quan đến:

a) Hành động cứu hộ hoặc chi phí để đóng góp vào tổn thất chung;

b) Ô nhiễm môi trường do phóng xạ nguyên tử;

c) Khiếu nại của thuyền trưởng, thuyền viên khác, người làm công cho chủ tầu ở trên tầu hoặc của những người làm công khác ở bên ngòai con tầu mà có nhiệm vụ liên quan đến tầu, kể cả khiếu nại của người thừa kế, người đại diện và người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng, nếu quy định pháp luật về hợp đồng lao động giữa chủ tầu và những người này không cho phép chủ tầu được hạn chế trách nhiệm bồi thường đối với những khiếu nại của họ hoặc chỉ cho phép chủ tầu giới hạn trách nhiệm bồi thường với mức cao hơn so với mức giới hạn quy định tại Điều 196 của Bộ luật này. 4- Trong trường hợp pháp luật về bảo vệ môi trường của Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc công nhận có quy định khác với Bộ luật này, thì mức giới hạn trách nhiệm bồi thường của chủ tầu được xác định và giải quyết trên cơ sở các văn bản đó.

Điều 196. 1- Chủ tầu chỉ có trách nhiệm bồi thường theo trách nhiệm dân sự trong các mức giới hạn:

a) Tổng giá trị của con tầu liên quan, tính theo đơn giá tương đương ba nghìn một trăm Frăng vàng cho mỗi tấn đăng ký dung tích tòan phần (GRT), nếu là để bồi thường tổn thất liên quan đến tính mạng, thương tích và các tổn hại khác về sức khỏe con người;

b) Tổng giá trị của con tầu liên quan, tính theo đơn giá tương đương một nghìn Frăng vàng cho mỗi tấn đăng ký dung tích tòan phần (GRT), nếu là để bồi thường mất mát, hư hỏng tài sản;

c) Tổng giá trị của con tầu liên quan, tính theo giá tương đương ba nghìn một trăm Frăng vàng cho mỗi tấn đăng ký dung tích tòan phần (GRT), nếu là để bồi thường tổn thất liên quan đến tính mạng, thương tích và các tổn thất khác về sức khỏe con người và mất mát, hư hỏng tài sản trong cùng một vụ việc. Trong đó, tổng số tiền tính theo đơn giá tương đương hai nghìn một trăm Frăng vàng cho mỗi tấn đăng ký dung tích tòan phần (GRT) dùng để bồi thường tổn thất liên quan tính mạng, thương tích và các tổn hại khác về sức khỏe con người; số còn lại dùng để bồi thường mất mát, hư hỏng tài sản. Trong trường hợp tổng số tiền dành để bồi thường tổn thất liên quan đến tính mạng, thương tích và các tổn hại khác về sức khỏe con người không đủ, thì phần còn thiếu được tính vào phần tiền dành để bồi thường mất mát, hư hỏng tài sản theo tỉ lệ thuận. 2- Mọi thỏa thuận nhằm giảm trách nhiệm bồi thường của chủ tầu dưới mức giới hạn nói tại khỏan 1, Điều này đều không có giá trị. 3- Số tấn đăng ký dung tích tòan phần (GRT) nói tại khỏan 1, Điều này là:

a) Tổng dung tích thực dụng cộng với dung tích buồng máy, nếu là tầu có động cơ;

b) Tổng dung tích thực dụng, nếu là tầu không có động cơ. 4- Khi xác định giới hạn trách nhiệm dân sự của chủ tầu, lọai tầu dưới ba trăm tấn đăng ký dung tích tòan phần được quy tròn là ba trăm.

Điều 197. 1- Mức giới hạn quy định tại Điều 196 của Bộ luật này chỉ được dùng để bồi thường các tổn thất phát sinh trong cùng một vụ việc, không liên quan đến các vụ việc khác. 2- Trong trường hợp chủ tầu có quyền đòi người khiếu nại mình bồi thường trong cùng một vụ việc, thì các quy định tại Chương này chỉ áp dụng để xác định khỏan tiền chênh lệch so với trách nhiệm của mỗi bên. 3- Mức giới hạn quy định tại Điều 196 của Bộ luật này được chuyển đổi thành tiền Việt Nam theo tỉ giá chính thức do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm thanh tóan.

Điều 198. 1- Trong trường hợp số tiền bồi thường vượt quá mức giới hạn quy định tại Điều 196 của Bộ luật này, thì chủ tầu có thể lập "Qũy bồi thường" để thỏa mãn các khiếu nại. 2- "Qũy bồi thường" này chỉ dành để giải quyết các khiếu nại đòi bồi thường mà chủ tầu được hưởng quyền giới hạn trách nhiệm dân sự. 3- "Qũy bồi thường" được lập bằng cách ký qũy hoặc bằng các hình thức bảo đảm khác ở tòa án nhận khiếu nại hoặc tại một cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác và phải được tòa án hoặc cơ quan đó công nhận là hợp lệ và bảo hộ. 4- Sau khi chủ tầu đã lập "Qũy bồi thường", không ai có quyền xâm phạm quyền lợi hoặc tài sản của chủ tầu. Tòa án hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nói ở khỏan 3, Điều này có quyền ra lệnh giải phóng tài sản bị cầm giữ, bắt giữ hoặc chấm dứt các bảo đảm tương tự. 5- "Qũy bồi thường" được phân chia cho những người khiếu nại theo tỉ lệ thích hợp giữa các khỏan tiền khiếu nại. 6- Việc lập "Qũy bồi thường" không có nghĩa là chủ tầu đã thừa nhận mọi trách nhiệm về mình.

Điều 199. Giới hạn trách nhiệm dân sự của chủ tầu cũng được áp dụng theo nguyên tắc tương tự đối với người khai thác tầu, người quản lý tầu, người cứu hộ chuyên nghiệp và những người mà bản thân chủ tầu hoặc những người nói trên phải chịu trách nhiệm về hành động, sự sơ suất, sai lầm của họ. CHƯƠNG XVI HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM HÀNG HẢI MỤC A QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 200. 1- Hợp đồng bảo hiểm hàng hải là hợp đồng được ký kết giữa người bảo hiểm và người được bảo hiểm mà theo đó, người bảo hiểm thu bảo hiểm phí do người được bảo hiểm trả và người được bảo hiểm được người bảo hiểm bồi thường tổn thất của đối tượng bảo hiểm do các hiểm họa hàng hải gây ra theo mức độ và điều kiện đã thỏa thuận với người bảo hiểm. 2- Hợp đồng bảo hiểm hàng hải có thể áp dụng đối với cả các hiểm họa có thể gây ra tổn thất cho đối tượng bảo hiểm hàng hải trên quãng vận chuyển đường không, đường thủy nội địa hoặc đường bộ trong liên hiệp vận chuyển. 3- Hợp đồng bảo hiểm hàng hải phải được làm bằng văn bản.

Điều 201. 1- Đối tượng bảo hiểm hàng hải có thể là bất kỳ quyền lợi vật chất nào liên quan đến các họat động hàng hải mà có thể quy ra tiền, bao gồm: tầu biển, hàng hóa, tiền cước vận chuyển, tiền công vận chuyển hành khách, tiền thuê tầu, tiền thuê - mua tầu, tiền lãi ước tính của hàng hóa, các khỏan hoa hồng, chi phí tổn thất chung, trách nhiệm dân sự và các khỏan tiền được bảo đảm bằng tầu, hàng hóa hoặc tiền cước vận chuyển. 2- Đối tượng bảo hiểm hàng hải còn có thể là tầu đang đóng.

Điều 202. 1- Người bảo hiểm có thể cho người khác tái bảo hiểm đối tượng bảo hiểm mà mình đã nhận bảo hiểm. 2- Hợp đồng tái bảo hiểm độc lập với hợp đồng bảo hiểm gốc.

Điều 203. 1- Theo yêu cầu của người được bảo hiểm, người bảo hiểm có nghĩa vụ cấp đơn bảo hiểm cho người được bảo hiểm. Đơn bảo hiểm là bằng chứng về việc ký kết hợp đồng. 2- Trước khi cấp đơn bảo hiểm, người bảo hiểm có nghĩa vụ cấp cho người được bảo hiểm giấy chứng nhận về việc ký kết hợp đồng, nếu người đó yêu cầu. 3- Đơn bảo hiểm có thể được cấp theo hình thức đơn bảo hiểm đích danh, đơn bảo hiểm theo lệnh hoặc đơn bảo hiểm vô danh. 4- Đơn bảo hiểm phải có những nội dung cơ bản sau đây:

a) Tên người được bảo hiểm hoặc người có quyền lợi được bảo hiểm;

b) Đối tượng bảo hiểm;

c) Các hiểm họa được bảo hiểm;

d) Số lượng chuyến đi hoặc thời hạn thực hiện hợp đồng bảo hiểm, tùy theo hợp đồng đó là hợp đồng bảo hiểm chuyến hoặc hợp đồng bảo hiểm thời hạn;

e) Số tiền bảo hiểm;

g) Nơi, ngày, tháng và giờ cấp đơn bảo hiểm;

h) Chữ ký và xác nhận của người bảo hiểm.

Điều 204. 1- Người được bảo hiểm có nghĩa vụ cung cấp cho người bảo hiểm biết tất cả các thông tin mà mình biết hoặc cần phải biết liên quan đến việc ký kết hợp đồng bảo hiểm, có thể ảnh hưởng đến việc xác định khả năng xảy ra hiểm họa hoặc quyết định của người bảo hiểm về việc nhận bảo hiểm và các điều kiện bảo hiểm, trừ lọai thông tin mà mọi người đều biết hoặc người bảo hiểm đã biết hoặc cần phải biết. 2- Nghĩa vụ của người được bảo hiểm quy định tại khỏan 1, Điều này cũng được áp dụng đối với các đại diện được ủy quyền của người được bảo hiểm. 3- Các nghĩa vụ quy định tại Điều này cũng được áp dụng đối với người thứ ba, nếu hợp đồng bảo hiểm được ký kết vì quyền lợi của người thứ ba, trừ trường hợp người thứ ba không biết về việc ký kết này.

Điều 205. 1- Hợp đồng bảo hiểm hàng hải có thể được ký kết vì quyền lợi của người thứ ba, sau đây gọi là người có quyền lợi được bảo hiểm. 2- Người có quyền lợi được bảo hiểm có quyền yêu cầu người bảo hiểm cấp đơn bảo hiểm; nếu đơn bảo hiển đã được giao cho người có quyền lợi được bảo hiểm, thì người đó được hưởng đầy đủ các quyền theo hợp đồng. Nghĩa vụ của người được bảo hiểm liên quan đến việc thực hiện hợp đồng, trừ nghĩa vụ nộp bảo hiểm phí, được chuyển sang cho người có quyền lợi được bảo hiểm từ khi người này nhận được đơn bảo hiểm.

Điều 206. 1- Hợp đồng bảo hiểm chấm dứt hiệu lực, nếu vào thời điểm ký kết hợp đồng, hiểm họa được bảo hiểm đã xảy ra hoặc không có khả năng xảy ra trong thực tế. Người bảo hiểm vẫn có quyền thu tiền phạt hủy hợp đồng, trừ trường hợp trước khi ký kết người bảo hiểm đã biết về sự kiện đó. 2- Hai bên thỏa thuận trong hợp đồng về mức tiền phạt hủy hợp đồng.

Điều 207. Trong trường hợp người được bảo hiểm vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều 204 của Bộ luật này, thì người bảo hiểm có quyền rút khỏi hợp đồng và vẫn được thu đầy đủ bảo hiểm phí. Nếu người được bảo hiểm không có lỗi trong việc khai báo không chính xác hoặc không khai báo theo quy định tại Điều 204 của Bộ luật này, thì người bảo hiểm không có quyền rút khỏi hợp đồng, nhưng có quyền thu thêm bảo hiểm phí ở mức độ hợp lý.

Điều 208. Người được bảo hiểm có quyền rút khỏi hợp đồng bảo hiểm vào bất kỳ lúc nào, trước khi xuất hiện hiểm họa được bảo hiểm và có nghĩa vụ trả tiền phạt hủy hợp đồng. Các bên tham gia hợp đồng thỏa thuận trong hợp đồng về tiền phạt hủy hợp đồng và điều kiện hòan trả bảo hiểm phí.

Điều 209. Thời hiệu khiếu nại liên quan đến hợp đồng bảo hiểm hàng hải là hai năm, tính từ ngày phát sinh vụ việc. MỤC B GIÁ TRỊ BẢO HIỂM VÀ SỐ TIỀN BẢO HIỂM

Điều 210. Giá trị bảo hiểm là giá trị thực tế của đối tượng bảo hiểm và được xác định như sau:

a) Giá trị bảo hiểm của tầu là tổng giá trị của tầu vào thời điểm bắt đầu bảo hiểm. Giá trị này còn bao gồm giá trị của máy móc, trang thiết bị, phụ tùng, dự trữ của tầu cộng với tòan bộ phí bảo hiểm phí. Tùy theo hợp đồng, giá trị tầu còn có thể bao gồm cả tiền lương ứng trước cho thuyền bộ và chi phí chuẩn bị chuyến đi;

b) Giá trị bảo hiểm của hàng hóa là giá trị hàng ghi trên hóa đơn ở nơi bốc hàng hoặc giá trị thị trường ở nơi và thời điểm bốc hàng cộng với phí bảo hiểm và có thể cả tiền lãi ước tính;

c) Giá trị bảo hiểm của tiền cước vận chuyển là tổng số tiền cước vận chuyển cộng với bảo hiểm phí. Trong trường hợp người thuê vận chuyển mua bảo hiểm cho tiền cước vận chuyển, thì số tiền cước này được tính gộp vào giá trị bảo hiểm của hàng hóa để bảo hiểm.

d) Giá trị bảo hiểm của các đối tượng bảo hiểm khác, trừ các trách nhiệm dân sự, là giá trị của đối tượng ở nơi và thời điểm bắt đầu bảo hiểm cộng với phí bảo hiểm.

Điều 211. 1- Khi ký kết hợp đồng bảo hiểm, người được bảo hiểm phải kê khai số tiền cần bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm, sau đây gọi là số tiền bảo hiểm. 2- Nếu số tiền bảo hiểm ghi trong hợp đồng bảo hiểm thấp hơn giá trị bảo hiểm, thì người bảo hiểm chịu trách nhiệm bồi thường tổn thất, theo tỉ lệ giữa số tiền bảo hiểm và giá trị bảo hiểm, kể cả chi phí khác thuộc phạm vi bảo hiểm. 3- Nếu số tiền bảo hiểm ghi trong hợp đồng bảo hiểm lớn hơn giá trị bảo hiểm, thì phần tiền vượt quá giá trị bảo hiểm không được thừa nhận.

Điều 212. Trong trường hợp đối tượng bảo hiểm được nhiều người bảo hiểm đối với cùng một hiểm họa và tổng số tiền bảo hiểm vượt quá giá trị bảo hiểm, thì tất cả những người bảo hiểm đó chỉ chịu trách nhiệm bồi thường trong phạm vi giá trị bảo hiểm và mỗi người chỉ chịu trách nhiệm theo tỉ lệ tương ứng với số tiền bảo hiểm mà mình đã nhận bảo hiểm. Bảo hiểm này gọi là bảo hiểm trùng. MỤC C CHUYỂN GIAO QUYỀN THEO HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM HÀNG HẢI

Điều 213. Các quyền theo hợp đồng bảo hiểm hàng hải chỉ được chuyển cho người đã được chuyển nhượng đối tượng bảo hiểm; nếu các quyền đó không được chuyển cho người được chuyển nhượng đối tượng bảo hiểm, thì hợp đồng mặc nhiên chấm dứt và người bảo hiểm vẫn có nghĩa vụ bồi thường các tổn thất liên quan, xảy ra trước khi đối tượng bảo hiểm được chuyển nhượng. Nghĩa vụ của người chuyển nhượng đối tượng bảo hiểm cũng đồng thời được chuyển cho người được chuyển nhượng đối tượng bảo hiểm. Kể cả trách nhiệm liên quan đến những khiếu nại do người bảo hiểm đã đưa ra trước đó đối với người chuyển nhượng đối tượng bảo hiểm.

Điều 214. 1- Việc chuyển quyền theo hợp đồng bảo hiểm hàng hải có cấp đơn bảo hiểm được thực hiện cùng với việc chuyển nhượng đơn bảo hiểm. 2- Việc chuyển nhượng đơn bảo hiểm được giải quyết theo nguyên tắc như chuyển nhượng vận đơn.

Điều 215. 1- Nếu đối tượng bảo hiểm là tầu biển, thì việc chuyển các quyền theo hợp đồng bảo hiểm phải được người bảo hiểm đồng ý trước. 2- Nếu tầu đang hành trình ở thời điểm được chuyển nhượng cho người khác, thì các quyền theo hợp đồng bảo hiểm tầu không được chuyển ngay cho người được chuyển nhượng tầu mà hợp đồng bảo hiểm vẫn giữ nguyên hiệu lực cho đến khi tầu đó vào neo đậu tại cảng đầu tiên, sau khi được chuyển nhượng. MỤC D BẢO HIỂM BAO

Điều 216. 1- Bảo hiểm bao là lọai bảo hiểm trọn gói, được áp dụng đối với đối tượng bảo hiểm là một lọai hàng hóa hoặc một số lọai hàng hóa mà người được bảo hiểm gửi đi hoặc nhận được trong một thời hạn nhất định. 2- Người bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm bao có nghĩa vụ cấp theo yêu cầu người được bảo hiểm đơn bảo hiểm hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm cho mỗi chuyến hàng hoặc cho từng đơn vị hàng hóa.

Điều 217. 1- Người được bảo hiểm trong bảo hiểm bao có nghĩa vụ thông báo ngay cho người bảo hiểm biết sau khi nhận được các thông tin liên quan đến việc gửi hàng hoặc nhận được hàng và mỗi lần đều phải thông báo tên tầu, tuyến hành trình, hàng hóa và số tiền bảo hiểm, kể cả khi người bảo hiểm nhận được thông báo, thì có thể hàng đã được gửi hoặc đã đến cảng đích. 2- Nếu người được bảo hiểm cố ý hoặc do cẩu thả mà không thực hiện nghĩa vụ quy định tại khỏan 1, Điều này, thì người bảo hiểm có quyền rút khỏi hợp đồng và vẫn được hưởng bảo hiểm phí tương tự như trong trường hợp hợp đồng được thực hiện đúng đắn.

Điều 218. Các bên có quyền yêu cầu hủy hợp đồng bảo hiểm bao với điều kiện phải thông báo cho nhau biết trước ba tháng về việc đó. MỤC E THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM HÀNG HẢI

Điều 219. Người được bảo hiểm có nghĩa vụ nộp bảo hiểm phí cho người bảo hiểm ngay sau khi ký kết hợp đồng hoặc ngay khi được cấp đơn bảo hiểm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Điều 220. 1- Người được bảo hiểm có nghĩa vụ báo ngay cho người bảo hiểm biết sau khi nhận được các thông tin liên quan đến sự thay đổi về các hiểm họa được bảo hiểm có khả năng đe dọa đối tượng bảo hiểm hoặc về tai nạn đã xảy ra đối với đối tượng bảo hiểm và phải làm theo các chỉ dẫn của người bảo hiểm. 2- Người bảo hiểm có quyền rút khỏi hợp đồng bảo hiểm, nếu người được bảo hiểm đã vi phạm quy định nói tại khỏan 1, Điều này.

Điều 221. 1- Trong trường hợp xảy ra tổn thất liên quan đến hiểm họa đã được bảo hiểm, người được bảo hiểm có nghĩa vụ tiến hành mọi biện pháp cần thiết để ngăn ngừa hoặc hạn chế tổn thất và bảo đảm cho việc thực hiện quyền khiếu nại của người bảo hiểm đối với người gây ra tổn thất. Khi thực hiện nghĩa vụ này, người được bảo hiểm phải thực hiện các chỉ dẫn của người bảo hiểm. 2- Người bảo hiểm không chịu trách nhiệm đối với tổn thất xảy ra do người được bảo hiểm quá cẩu thả hoặc cố ý không thực hiện nghĩa vụ quy định tại Điều này.

Điều 222. Người bảo hiểm có trách nhiệm bồi hòan cho người được bảo hiểm mọi chi phí hợp lý và cần thiết do người được bảo hiểm chi ra để ngăn ngừa hoặc hạn chế tổn thất thuộc trách nhiệm bảo hiểm, cũng như chi phí thực hiện những chỉ dẫn của người bảo hiểm quy định tại Điều 221 của Bộ luật này hoặc chi phí để xác định nguyên nhân và mức độ tổn thất thuộc phạm vi trách nhiệm của người bảo hiểm và chi phí đóng góp vào tổn thất chung. Các chi phí này phải được bồi hòan theo tỉ lệ giữa số tiền bảo hiểm và giá trị bảo hiểm.

Điều 223. Trong phạm vi số tiền bảo hiểm, người bảo hiểm chịu trách nhiệm bồi thường cho những tổn thất là hậu quả trực tiếp của hiểm họa được bảo hiểm và còn phải bồi hòan những chi phí quy định tại Điều 222 của Bộ luật này, mặc dù tổng số tiền phải trả cho người được bảo hiểm có thể vượt quá số tiền bảo hiểm.

Điều 224. Người bảo hiểm không chịu trách nhiệm đối với những tổn thất xảy ra do hành động cố ý hoặc quá cẩu thả của người được bảo hiểm, nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường các tổn thất phát sinh do sự sơ suất hoặc sai lầm của thuyền trưởng đồng thời cũng là người được bảo hiểm trong việc điều khiển, quản trị tầu và các tổn thất do lỗi của thuyền bộ, hoa tiêu.

Điều 225. Khi bảo hiểm tầu và tiền cước vận chuyển, người bảo hiểm không chịu trách nhiệm về các tổn thất phát sinh do:

a) Tầu không đủ khả năng an tòan đi biển vào lúc bắt đầu chuyến đi, trừ khi tầu có khuyết tật ẩn hoặc khi xảy ra các tình huống không thể tránh khỏi, mặc dù người được bảo hiểm đã có sự quan tâm thích đáng;

b) Tuổi của tầu hoặc thời gian sử dụng;

c) Bốc lên tầu những chất hoặc vật liệu dễ nổ, dễ cháy hoặc những hàng hóa nguy hiểm khác, không phù hợp với những quy định về việc vận chuyển lọai hàng này, nếu người được bảo hiểm biết nhưng người bảo hiểm lại không biết về việc đó.

Điều 226. Khi bảo hiểm hàng hóa, người bảo hiểm không chịu trách nhiệm về các tổn thất phát sinh do:

a) Tính chất tự nhiên của hàng hóa;

b) Hàng bị rò chảy, hao hụt hoặc hao mòn tự nhiên;

c) Bao bì không đúng quy cách hoặc không thích hợp;

d) Chậm trễ trong việc cung ứng hàng hóa.

Điều 227. Trừ trường hợp có thỏa thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm, người bảo hiểm không chịu trách nhiệm đối với những tổn thất của đối tượng bảo hiểm xảy ra do chiến tranh hoặc những họat động quân sự với bất kỳ tính chất nào và hậu quả của nó; bị cưỡng đọat; gây rối, đình công hoặc những tổn thất xảy ra do hành động tịch thu, trưng dụng, bắt giữ, phá hủy tầu hoặc hàng hóa theo mệnh lệnh quân sự hoặc lệnh của chính quyền dân sự.

Điều 228. Trong trường hợp bồi thường tổn thất liên quan đến các trách nhiệm trong tai nạn đâm va, thì ngòai trách nhiệm bồi thường các tổn thất của đối tượng bảo hiểm, người bảo hiểm còn có trách nhiệm bồi thường các tổn thất của người thứ ba, nếu người được bảo hiểm phải chịu trách nhiệm về các tổn thất do tai nạn đâm va, mặc dù tổng số tiền bồi thường có thể vượt quá số tiền bảo hiểm.

Điều 229. Trong trường hợp xảy ra hiểm họa thuộc phạm vi bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm, thì người bảo hiểm có thể bồi thường tòan bộ số tiền bảo hiểm để được miễn mọi trách nhiệm khác theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng. Tuy nhiên, người bảo hiểm phải thông báo ý định này cho người được bảo hiểm biết trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của người được bảo hiểm về hiểm họa đã xảy ra và hậu quả của nó. Trong trường hợp này người bảo hiểm không được đòi quyền sở hữu đối với đối tượng bảo hiểm, nếu số tiền bảo hiểm thấp hơn giá trị bảo hiểm. Ngòai việc bồi thường tòan bộ số tiền bảo hiểm, người bảo hiểm còn phải bồi hòan những chi phí nhằm mục đích ngăn ngừa, hạn chế tổn thất hoặc để sửa chữa, khôi phục đối tượng bảo hiểm mà người được bảo hiểm đã chi trước khi nhận được thông báo của người bảo hiểm.

Điều 230. 1- Trừ trường hợp có thỏa thuận khác trong hợp đồng, người bảo hiểm phải chịu trách nhiệm đối với các tổn thất xảy ra kế tiếp nhau, mặc dù tổng số giá trị tổn thất có thể vượt quá số tiền bảo hiểm. 2- Nếu đối tượng bảo hiểm bị tổn thất bộ phận mà vẫn chưa được sửa chữa hoặc bồi thường và tiếp sau đó lại xảy ra tổn thất tòan bộ, thì người được bảo hiểm chỉ được bồi thường tổn thất tòan bộ. 3- Những quy định tại khỏan 1 và khỏan 2, Điều này không lọai trừ trách nhiệm của người bảo hiểm đối với việc bồi hòan chi phí liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ nói tại Điều 221 của Bộ luật này. MỤC G THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG KHI CÓ NGƯỜI THỨ BA PHẢI CHỊU TRÁCH NHIỆM VỀ TỔN THẤT

Điều 231. Khi đã trả tiền bồi thường cho người được bảo hiểm, người bảo hiểm được quyền truy đòi người thứ ba về trách nhiệm bồi thường tổn thất trong phạm vi số tiền đã trả. Người bảo hiểm thực hiện quyền này theo đúng các thể thức quy định đối với người được bảo hiểm.

Điều 232. 1- Người được bảo hiểm có nghĩa vụ cung cấp cho người bảo hiểm mọi tin tức, tài liệu, bằng chứng và đồng thời phải áp dụng những biện pháp cần thiết để người bảo hiểm có thể thực hiện có hiệu quả quyền truy đòi người thứ ba. 2- Nếu người được bảo hiểm không thực hiện nghĩa vụ nói tại khỏan 1, Điều này hoặc có lỗi làm cho quyền truy đòi của người bảo hiểm không thể thực hiện được thì người bảo hiểm được miễn trả tòan bộ tiền bồi thường hoặc được giảm ở mức độ thích đáng. 3- Nếu người được bảo hiểm đã nhận tiền bồi thường tổn thất do người thứ ba trả, thì người bảo hiểm chỉ có nghĩa vụ trả phần tiền chênh lệch giữa số tiền phải bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm và số tiền mà người được bảo hiểm đã nhận từ người thứ ba.

Điều 233. 1- Theo yêu cầu của người được bảo hiểm, người bảo hiểm phải cam kết thanh tóan chi phí đóng góp vào tổn thất chung trong phạm vi số tiền bảo hiểm. 2- Khi lập bản phân bổ tổn thất chung, người được bảo hiểm có nghĩa vụ quan tâm thích đáng các quyền lợi của người bảo hiểm. MỤC H TỪ BỎ ĐỐI TƯỢNG BẢO HIỂM

Điều 234. 1- Người được bảo hiểm có quyền tuyên bố từ bỏ đối tượng bảo hiểm và chuyển cho người bảo hiểm quyền, nghĩa vụ của mình liên quan đến đối tượng bảo hiểm để được nhận tiền bồi thường tổn thất tòan bộ, nếu việc đối tượng bảo hiểm bị tổn thất tòan bộ là không thể tránh khỏi hoặc việc ngăn ngừa tổn thất đó sẽ gây ra các chi phí quá cao so với giá trị của đối tượng bảo hiểm. 2- Quyền từ bỏ đối tượng bảo hiểm có thể được áp dụng trong trường hợp tầu biển bị mất tích, bị cưỡng đọat, bị hư hỏng do tai nạn mà không thể sửa chữa được hoặc chi phí sửa chữa, phục hồi, chuộc tầu là không có hiệu quả kinh tế. 3- Quyền từ bỏ đối tượng bảo hiểm nói tại khỏan 2, Điều này cũng được áp dụng đối với hàng hóa, kể cả khi chi phí sửa chữa, vận chuyển hàng hóa đến cảng đích là quá cao so với giá trị thị trường của hàng hóa đó tại cảng đích.

Điều 235. 1- Tuyên bố từ bỏ đối tượng bảo hiểm phải làm bằng văn bản và phải ghi rõ căn cứ để áp dụng quyền từ bỏ đối tượng bảo hiểm. 2- Tuyên bố từ bỏ phải được gửi cho người bảo hiểm trong thời hạn hợp lý, nhưng không quá một trăm tám mươi ngày, kể từ ngày người được bảo hiểm biết về các sự kiện làm căn cứ để áp dụng quyền từ bỏ hoặc trong thời hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày hết hạn bảo hiểm trong các trường hợp tầu hoặc hàng hóa bị cưỡng đọat hoặc bị mất quyền chiếm hữu vì những nguyên nhân khác. Sau các thời hạn nói trên, thì người được bảo hiểm bị mất quyền từ bỏ đối tượng bảo hiểm, nhưng vẫn có quyền đòi bồi thường tổn thất. 3- Việc từ bỏ đối tượng bảo hiểm không được kèm theo bất kỳ điều kiện nào. Nếu việc từ bỏ đã được chấp nhận, thì người bảo hiểm và người được bảo hiểm đều không được thay đổi quyết định của mình.

Điều 236. Khi tuyên bố từ bỏ đối tượng bảo hiểm, người được bảo hiểm có nghĩa vụ cung cấp cho người bảo hiểm những thông tin liên quan đến quyền về tài sản đối với đối tượng bảo hiểm, các khỏan bảo hiểm và hạn chế khác mà người được bảo hiểm biết.

Điều 237. 1- Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được tuyên bố từ bỏ, người bảo hiểm có nghĩa vụ thông báo cho người được bảo hiểm biết là chấp nhận hoặc từ chối việc từ bỏ. Sau thời hạn này, người bảo hiểm bị mất quyền từ chối. 2- Quyền và nghĩa vụ liên quan đến đối tượng bảo hiểm được chuyển sang cho người bảo hiểm ngay sau khi người bảo hiểm thông báo chấp nhận từ bỏ; người bảo hiểm có thể không đòi quyền và nghĩa vụ này. 3- Nếu việc thông báo từ bỏ được thực hiện đúng quy định mà người bảo hiểm không chấp nhận việc từ bỏ, thì người được bảo hiểm vẫn có quyền đòi bồi thường.

Điều 238. 1- Trong trường hợp xảy ra tổn thất tòan bộ thực tế do tầu bị mất tích cùng với hàng hóa trên tầu, người được bảo hiểm có thể đòi người bảo hiểm bồi thường tòan bộ số tiền bảo hiểm mà không phải tuyên bố từ bỏ đối tượng bảo hiểm theo quy định tại Điều 235 của Bộ luật này. 2- Trong trường hợp tầu bị mất tích là tầu được bảo hiểm có thời hạn, người bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm bồi thường, nếu đã nhận được tin cuối cùng về tầu trước khi kết thúc thời hạn bảo hiểm. Người bảo hiểm không chịu trách nhiệm bồi thường, nếu chứng minh được tầu bị mất tích sau khi thời hạn bảo hiểm kết thúc.

Điều 239. Nếu người bảo hiểm đã trả tiền bồi thường mà sau đó tầu lại thóat khỏi hiểm họa, thì người bảo hiểm có quyền yêu cầu người được bảo hiểm tiếp tục sở hữu tầu đó và hòan lại số tiền đã được bồi thường, sau khi khấu trừ tiền bồi thường tổn thất bộ phận của tầu, với điều kiện tổn thất bộ phận đó là hậu quả trực tiếp của hiểm họa được bảo hiểm. MỤC I THANH TÓAN TIỀN BỒI THƯỜNG

Điều 240. Khi thanh tóan tiền bồi thường tổn thất của đối tượng bảo hiểm, người bảo hiểm có quyền yêu cầu người được bảo hiểm trình bày về sự kiện liên quan, xuất trình tài liệu, bằng chứng cần thiết cho việc đánh giá sự kiện và mức độ tổn thất. CHƯƠNG XVII GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HÀNG HẢI

Điều 241. 1- Các bên liên quan có thể giải quyết tranh chấp hàng hải bằng thương lượng hoặc thỏa thuận đưa tranh chấp ra giải quyết trước trọng tài hoặc khởi kiện trước tòa án. 2- Các tranh chấp hàng hải được trọng tài hoặc tòa án giải quyết theo thẩm quyền, thủ tục do pháp luật quy định.

Điều 242. Nếu hợp đồng hàng hải có ít nhất một bên là tổ chức hoặc cá nhân nước ngòai, thì các bên tham gia hợp đồng có thể thỏa thuận đưa tranh chấp ra giải quyết trước trọng tài hoặc tòa án ở nước ngòai. CHƯƠNG XVIII ĐIỀU KHỎAN CUỐI CÙNG

Điều 243. Bộ luật hàng hải Việt Nam có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1991.

Điều 244. Những quy định trước đây về họat động hàng hải trái với Bộ luật này đều bãi bỏ. Bộ luật đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 30 tháng 6 năm 1990.

Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/bo-luat-hang-hai-so-42-lct-hdnn8--2066.

Dịch vụ liên quan

Văn bản liên quan