Thông tư số 11-TC/CNACủa Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ phân phối lợi nhuận và trích lập quỹ xí nghiệp trong công nghiệp quốc doanh
- Số hiệu
- 11-TC/CNA
- Loại văn bản
- Thông tư
- Cơ quan ban hành
- Bộ Tài chính
- Ngày ban hành
- 10/03/1985
Toàn văn
BỘ TÀI CHÍNH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: 11-TC/CNA
Hà Nội, ngày 10 tháng 3 năm 1985 THÔNG TƯ CỦA BỘ TÀI CHÍNH SỐ 11-TC/CNA NGÀY 10 THÁNG 3 NĂM 1985 HƯỚNG DẪN CHẾ ĐỘ PHÂN PHỐI LỢI NHUẬN VÀ TRÍCH LẬP QŨY XÍ NGHIỆP TRONG CÔNG NGHIỆP QUỐC DOANH Thi hành Nghị quyết số 156-HĐBT ngày 30-11-1984 của Hội đồng Bộ trưởng về một số vấn đề cải tiến quản lý công nghiệp quốc doanh, Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ phân phối lợi nhuận và trích lập qũy xí nghiệp trong công nghiệp quốc doanh như sau: I- NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
-
Lợi nhuận định mức được xác định bằng tỷ lệ phần trăm (hoặc bằng số tuyệt đối) trên giá thành hợp lý của sản phẩm xí nghiệp để làm giá bán buôn xí nghiệp. Do đó về nguyên tắc lợi nhuận định mức được áp dụng ổn định cho nhiều năm cùng với việc ổn định giá bán buôn xí nghiệp của sản phẩm. Chế độ phân phối lợi nhuận được xây dựng phù hợp với cơ cấu và thành phần của lợi nhuận định mức. Việc thực hiện chế độ phân phối lợi nhuận hàng năm sẽ căn cứ vào số lợi nhuận định mức. Việc thực hiện chế độ phân phối lợi nhuận hàng năm sẽ căn cứ vào số lợi nhuận kế họach và lợi nhuận thực tế đạt được của đơn vị xí nghiệp. Lợi nhuận kế họach pháp lệnh hàng năm của xí nghiệp khác với lợi nhuận định mức, do hàng năm có sự thay đổi về kế họach sản lượng tiêu thụ, chất lượng sản phẩm, kết cầu mặt hàng, giá bán bình quân và giá thành sản phẩm. Trong lợi nhuận kế họach pháp lệnh hàng năm của xí nghiệp sẽ bao gồm lợi nhuận kế họach của phần sản xuất bằng vật tư do Nhà nước cung ứng và bằng vật tư do xí nghiệp tự tìm kiếm thêm. Lợi nhuận ngòai chỉ tiêu kế họach pháp lệnh là lợi nhuận của phần sản xuất những sản phẩm do xí nghiệp tìm kiếm và khai thác những nguồn khả năng mới để sản xuất thêm không thuộc những mặt hàng đã ghi trong kế họach pháp lệnh Nhà nước giao cho xí nghiệp. Lợi nhuận thực hiện thuộc chỉ tiêu pháp lệnh của xí nghiệp bao gồm lợi nhuận trong kế họach pháp lệnh và lợi nhuận vượt kế họach pháp lệnh của phần sản xuất bằng vật tư do Nhà nước cung ứng và bằng vật tư tìm kiếm. Lợi nhuận thực hiện của phần sản xuất sản phẩm ngòai chỉ tiêu pháp lệnh thì chủ yếu là bằng nguồn vốn vật tư tự tìm kiếm . Lợi nhuận thực hiện của phần sản xuất sản phẩm ngòai chỉ tiêu pháp lệnh thì chủ yếu là bằng nguồn vật tư tự tìm kiếm . Lợi nhuận thực hiện chỉ bao gồm khỏan chênh lệch giữa giá xí nghiệp được duyệt với giá thành thực tế. Các xí nghiệp không được tính vào lợi nhuận thực hiện các khỏan chênh lệch giá.
-
Các khỏan phải nộp phạt do vi phạm hợp đồng, vi phạm chế độ tín dụng ngân hàng và các khỏan chi phí bất hợp lý, bất hợp lệ... xí nghiệp không được hạch tóan vào giá thành mà phải trừ vào phần lợi nhuận để lại xí nghiệp sau khi thực hiện việc phân phối lợi nhuận giữa ngân sách và xí nghiệp.
-
Do cơ chế phân phối các phần lợi nhuận nói trên khác nhau, xí nghiệp phải hạch tóan rành mạch từng phần lợi nhuận nhằm đánh giá đúng kết quả họat động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp và bảo đảm phân phối được công bằng, hợp lý.
-
Lợi nhuận trong chỉ tiêu pháp lệnh của xí nghiệp (bao gồm lợi nhuận của phần sản xuất bằng vật tư do Nhà nước cung ứng và vật tư tự tìm kiếm thêm) đều phải được kế họach hóa trong một kế họach sản xuất kỹ thuật tài chính thống nhất của xí nghiệp. Nhà nước khuyến khích xí nghiệp tự tìm kiếm nguồn bổ sung vật tư đẻ tăng sản xuất sản phẩm kể cả trong và ngòai chỉ tiêu pháp lệnh bằng cách giành phần lợi nhuận để lại xí nghiệp cao hơn so với kế họach sản xuất bằng vật tư do Nhà nước cung ứng. Nhằm khuyến khích xí nghiệp lập kế họach pháp lệnh tích cực và chủ động cân đối trong kế họach, phần lợi nhuận thực hiện của cả kế họach sản xuất bằng vật tư do Nhà nước cung ứng và bằng vật tư tự tìm kiếm trong kế họach được tỷ lệ khuyển khích cao hơn. Phần vượt kế họach cũng được khuyến khích, nhưng với tỷ lệ thấp hơn.
-
Khuyến khích xí nghiệp hòan thành và hòan thành vượt mức các chỉ tiêu pháp lệnh chủ yếu của Nhà nước. Nếu không hòan thành thì sẽ phải trừ vào phần lợi nhuận để lại xí nghiệp, nhằm tránh tình trạng xí nghiệp chỉ chạy theo lợi nhuận, hạch tóan tăng lợi nhuận trong khi không hòan thành các chỉ tiêu sản phẩm giao nộp và chất lượng sản phẩm.
-
Xí nghiệp được thực hiện việc trích lập 3 qũy kịp thời ngay từng qúy trong năm, sau khi hòan thành nghĩa vụ thu nộp ngân sách Nhà nước.
-
Bảo đảm mối quan hệ hợp lý giữa tiền lương và tiền thưởng.
-
Mở rộng hơn phạm vi sử dụng lợi nhuận, phạm vi sử dụng qũy khuyến khích phát triển sản xuất, qũy phúc lợi và qũy khen thưởng nhằm giảm bớt bao cấp của ngân sách và nâng cao hơn quyền tự chủ của xí nghiệp trong việc sử dụng phần lợi nhuận để lại xí nghiệp. II- PHÂN PHỐI LỢI NHUẬN VÀ TRÍCH LẬP QŨY XÍ NGHIỆP Từ năm 1985, về cơ bản tất cả sản phẩm các xí nghiệp, các ngành đều phải xác định lại gia bán buôn xí nghiệp trên cơ sở giá thành hợp lý và lợi nhuận định mức quy định. Tuy nhiên có thể có một số sản phẩm xí nghiệp chưa kịp làm lại giá bán buôn xí nghiệp từ đầu năm 1985 và có thể còn một vài sản phẩm cá biệt phải chịu lỗ theo chính sách giá của Nhà nước. Do đó chế độ phân phối lợi nhuận có quy định riêng, cho tưng lọai xí nghiệp cho phù hợp. A. ĐỐI VỚI NHỮNG XÍ NGHIỆP ĐÃ XÁC ĐỊNH LẠI GIÁ BÁN BUÔN XÍ NGHIỆP
-
Kế họach hóa phân phối lợi nhuận Lợi nhuận kế họach pháp lệnh của sản phẩm sản xuất bằng vật tư do Nhà nước cung ứng được để lại xí nghiệp 50% và nộp ngân sách 50% và của sản phẩm sản xuất bằng vật tư tự tìm kiếm được để lại xí nghiệp 80% - đối với các ngành công nghiệp nhẹ, công nghệ chế biến lương thực, thực phẩm (gọi chung là CNB) và 80% - đối với các ngành công nghiệp nặng, khai thác gỗ, đánh cá biển (gọi chung là CNA). Phần còn lại (40% và 20%) nộp vào ngân sách Nhà nước. Phần để lại xí nghiệp theo kế họach đăng ký (50%, 60% và 80%) xí nghiệp được phân cho 3 qũy, theo những tỷ lệ quy định như sau: - Cho qũy khuyến khích phát triển sản xuất 35% - đối với các ngành CNB và 40% - đối với các ngành CNA. - Số còn lại trích vào 2 qũy khen thưởng và phúc lợi, trong đó 2/3 cho qũy khen thưởng và 1/3 cho qũy phúc lợi. Trường hợp xí nghiệp sản xuất lọai sản phẩm vừa bằng vật tư do Nhà nước cúng ứng, vừa bằng vật tư tự tìm kiếm thêm thì xí nghiệp xác định số sản phẩm của từng phần kế họach đó trên cơ sở tỷ lệ thuận với giá trị vật tư tham gia sản xuất ra sản phẩm (tính theo một giá đồng nhất - giá chỉ đạo Nhà nước - để xác định cho thống nhất). Số chênh lệch giá về vật tư tự tìm kiếm nói trên được phân bổ vào giá thành sản phẩm sản xuất bằng vật tư tự tìm kiếm. Trên cơ sở giá thành và giá bán của sản phẩm đó mà xác định lợi nhuận của phần sản xuất bằng vật tư tự tìm kiếm. - Đối với những sản phẩm nằm ngòai chỉ tiêu pháp lệnh, xí nghiệp phải thực hiện việc nộp thuế và thu quốc doanh kịp thời vào ngân sách Nhà nước khi giao sản phẩm. Mức thu thuế và thu quốc doanh do Bộ Tài chính quy định trên cơ sở tương ứng với những sản phẩm cùng lọai nằm trong chỉ tiêu pháp lệnh.
-
Thực hiện việc phân phối lợi nhuận: Kế họach về tổng số lợi nhuận phát sinh và số lợi nhuận phải nộp ngân sách của những sản phẩm trong chỉ tiêu pháp lệnh của xí nghiệp nói ở điểm 1, mục A, phần II được duyệt và trở thành chỉ tiêu pháp lệnh của Nhà nước giao cho xí nghiệp. Số lợi nhuận phải nộp ngân sách Nhà nước, xí nghiệp có nhiệm vụ nộp đều đặn hàng tháng (hoặc theo định kỳ do đặc điểm chu kỳ sản xuất sản phẩm) vào ngân sách Nhà nước trên cơ sở số kế họach đã xác định và thực tế phát sinh. Số được trích 3 qũy theo kế họach nói trên được phân ra làm 4 qúy và xí nghiệp được tạm trích 70% hàng qúy và mỗi qũy theo kế họach được duyệt sau khi đã hòan thành việc nộp lợi nhuận vào ngân sách Nhà nước từng tháng (hoặc theo định kỳ do đặc điểm chu kỳ sản xuất sản phẩm) theo kế họach và có ý kiến xác nhận của cơ quan tài chính (Chi cục thu quốc doanh và quản lý tài chính xí nghiệp trung ương - đối với các đơn vị xí nghiệp trung ương; hoặc tài chính địa phương - đối với các xí nghiệp địa phương. Hết năm, khi xét duyệt quyết tóan (bao gồm việc xét duyệt để trích lập chính thức các qũy xí nghiệp) xí nghiệp sẽ được tính tóan dầy đủ số trích lập 3 qũy theo chế độ quy định, sau khi lọai trừ các khỏan chênh lệch giá, lợi nhuận thực hiện trong phạm vi của số kế họach đã duyệt được phân phối như quy định ở mục 1 phần A nói trên (50% nộp ngân sách Nhà nước, 50% để lại xí nghiệp - dói với phần sản xuất bằng vật tư do Nhà nước cung ứng; và từ 20% đến 40% nộp ngân sách Nhà nước từ 60% đến 80% để lại xí nghiệp - đối với phần sản xuất bằng vật tư tự tìm kiếm). Phần để lại xí nghiệp được phân phối cho 3 qũy theo tỷ lệ quy định sau khi trừ đi các khỏan phải nộp phạt về vi phạm hợp đồng kinh tế, phạt nợ ngân hàng quá hạn, chi trả các khỏan bất hợp lý, bất hợp lệ không dược hạch tóan vào giá thành như các khỏan chi phí tiêu cực, lãng phí, sử dụng sản phẩm sản xuất ra không đúng chế độ quy định, v.v... Phần lợi nhuận vượt kế họach pháp lệnh bao gồm cả phần kế họach sản xuất bằng vật tư do Nhà nước cung ứng và phần sản xuất bằng vật tư do xí nghiệp tự tìm kiếm được phân phối 60% nộp ngân sách Nhà nước, 40% để lại xí nghiệp, phần để lại xí nghiệp được phân phối cho 3 qũy cũng theo các tỷ lệ tương ứng nói trên. Nếu xí nghiệp không hòan thành hai chỉ tiêu kế họach pháp lệnh chủ yếu cả năm nói sau đây thì cứ mỗi phần trăm không hòan thành về một chỉ tiêu, phải trừ đi 2% số tiền được trích cho mỗi qũy (3 qũy): -Giá trị sản lượng hàng hóa thực hiện , trong đó có phần cho xuất khẩu . -Sản phẩm giao nộp theo chủng lọai , chất lượng do nhà nước quy định và theo hợp đồng đã ký kết , trong đó có phần cho xuất khẩu . Nếu xí nghiệp vi phạm chế độ chính sách quản lý kinh tế của Nhà nước kê dưới đây thì cứ mỗi vi phạm sẽ tùy theo mức độ vi phạm mà giảm trừ từ 2 đến 5% số tiền được trích cho mỗi qũy (3 qũy ) Nộp không đầy đủ và kịp thời theo kế họach hàng qũy các khỏan nộp ngân sách như lợi nhuận, thu quốc doanh, khấu hao cơ bản phải nộp và các khỏan phải nộp khác như chênh lệch giá, v.v... Vi phạm các chế độ báo cáo thống kế kế tóan. Các số phạt trừ nói trên vào 3 qũy xí nghiệp phải nộp vào ngân sách Nhà nước. Điều kiện về thời điểm xí nghiệp được trích đủ (100%) số lợi nhuận để lại xí nghiệp lập 3 qũy theo những quy định nói trên là xí nghiệp phải hòan thành 100% số phải nộp lợi nhuận vào ngân sách Nhà nước theo quy định trên cơ sở số liệu xét duyệt quyết tóan hàng năm cho xí nghiệp. Đối với sản phẩm sản xuất bằng vật tư tự tìm kiếm, ngòai việc nộp lợi nhuận, xí nghiệp vẫn phải nộp khỏan thu quốc doanh theo quy định của Bộ Tài chính. Mức thu quốc doanh này là mức thu ổn định của ngân sách Nhà nước không phụ thuộc vào giá thành sản phẩm do xí nghiệp thực hiện hàng năm. Xí nghiệp phải tính tóan hiệu quả để quyết định việc sản xuất sản phẩm bằng vật tư tự tìm kiếm. Đối với lợi nhuận thực hiện của sản phẩm ngòai chỉ tiêu pháp lệnh xí nghiệp được dùng tòan bộ để trích lập 3 qũy theo những tỷ lệ quy định nói trên (từ 35 đến 40% cho qũy khuyến khích phát triển sản xuất. Số còn lại trích 2/3 cho qũy khen thưởng và 1/3 cho qũy phúc lợi) sau khi hòan thành việc nộp thuế và thu quốc doanh theo quy định đối với sản phẩm đó. Nếu xí nghiệp đầu tư mua sắm tài sản cố định bằng nguồn vốn vay ngân hàng, xí nghiệp phải bảo đảm việc sử dụng tài sản cố định đó có hiệu quả và bảo đảm việc trả nợ ngân hàng bằng nguồn khấu hao cơ bản tài sản cố định đi vay. Trường hợp xí nghiệp phải sử dụng thêm một phần lợi nhuận để trả nợ ngân hàng, xí nghiệp phải có kế họach được duyệt và trừ vào lợi nhuận thực hiện trước khi phân phối giữa ngân sách Nhà nước và xí nghiệp theo các tỷ lệ quy định. B. ĐỐI VỚI NHỮNG XÍ NGHIỆP CHƯA CÁC ĐỊNH LẠI GIÁ BÁN BUÔN XÍ NGHIỆP CỦA SẢN PHẨM Đối với những xí nghiệp chưa xác định lại được giá bán buôn xí nghiệp của sản phẩm, cần tích cực khẩn trương tính tóan giá thành hợp lý sản phẩm lợi nhuận định mức theo chế độ quy định và trình cơ quan có thẩm quyền xét duyệt giá bán buôn xí nghiệp sản phẩm. Trường hợp chưa kịp xét duyệt giá bán buôn xí nghiệp mới thì xí nghiệp được áp dụng tạm thời phương thức phân phối lợi nhuận như sau: Xí nghiệp được hưởng mức trích cơ bản vào 2 qũy khen thưởng và phúc lợi được tính tối da từ 10% đến 15% qũy lương cơ bản thực hiện trong năm, bao gồm cả phần kế họach sản xuất bằng vật tư Nhà nước cung ứng và phần kế họach sản xuất bằng vật tư tự kiếm, trong đó 2/3 cho qũy khen thưởng và 1/3 cho qũy phúc lợi (10% cho các ngành thuộc khối công nghiệp B và 15% cho các ngành thuộc khối công nghiệp A). Mức trích cơ bản vào qũy khuyến khích phát triển sản xuất của xí nghiệp được tính bằng 1% nguyên giá tài sản cố định bình quân đang dùng trong năm và tài sản lưu động trong định mức. Nếu xí nghiệp không hòan thành 3 chỉ tiêu kế họach pháp lệnh chủ yếu cả năm nói sau đây thì cử mỗi phần trăm không hòan thành về một chỉ tiêu phải trừ đi 2% số tiền được trích nói trên cho mỗi qũy (3 qũy): - Giá trị sản lượng hàng hóa thực hiện, trong đó có phần cho xuất khẩu. - Sản phẩm giao nộp theo chủng lọai, chất lượng do Nhà nước quy định và theo ký kết trong hợp đồng, trong đó có phần cho xuất khẩu. - Lợi nhuận thực hiện *sau khi trừ đi các khỏan tiền phạt do vi phạm hợp đồng kinh tế, phạt nợ ngân hàng quá hạn, các khỏan chi bất hợp lý, bất hợp lệ không được hạch tóan vào giá thành như các khỏan chi phí tiêu cực, lãng phí, các khỏan sử dụng sản phẩm sản xuất ra không đúng chế độ quy định v.v...). Nếu xí nghiệp vi phạm chế độ chính sách quản lý kinh tế tài chính của Nhà nước kê dưới đây thì cử mỗi vi phạm sẽ tùy theo mức độ vi phạm mà giảm trừ từ 2 đến 5% số tiền được trích cho mỗi qũy (3 qũy).: Nộp không đầy đủ và kịp thời các khỏan nộp ngân sách như lợi nhuận, thu quốc doanh, khấu hao cơ bản phải nộp và các khỏan phải nộp khác như chênh lệch giá v.v... - Vi phạm các chế độ báo cáo thống kê, kế tóan. Nếu xí nghiệp hòan thành vượt mức kế họach pháp lệnh về chỉ tiêu lợi nhuận thực hiện (kể cả lợi nhuận sản xuất bằng vật tư tự tìm kiếm) thì cừ mỗi phần trăm hòan thành vượt kế họach xí nghiệp được trích thêm vào 3 qũy 2% mức trích cơ bản của mỗi qũy; nhưng tổng số trích thêm đó vào 3 qũy không vượt quá 40% tổng số lợi nhuận vượt kế họach. Nếu xí nghiệp tự tìm kiếm thêm vật tư để sản xuất thêm sản phẩm thì cứ mỗi phần trăm lợi nhuận thực hiện của phần sản xuất bằng vật tư tự tìm kiếm chiếm trong tổng số lợi nhuận thực hiện của xí nghiệp, xí nghiệp được trích thêm vào 3 qũy 2% mức trích cơ bản mỗi qũy nhưng tổng số trích thêm đó vào 3 qũy không vượt quá 60% tổng số lợi nhuận của phần kế họach sản xuất bằng vật tư tự kiếm. Lợi nhuận thực hiện của sản phẩm ngòai chỉ tiêu pháp lệnh, xí nghiệp được dùng tòan bộ để trích lập 3 qũy theo những tỷ lệ quy định nói trên. Các xí nghiệp lọai này cũng được tạm trích 70% số trích vào 3 qũy theo kế họach, sau khi hòan thành việc nộp lợi nhuận vào ngân sách Nhà nước từng tháng (hoặc theo định kỳ quy định) theo kế họach và có ý kiến xác nhận của cơ quan tài chính địa phương. Điều kiện về thời điểm xí nghiệp được trích đủ (100%) số lợi nhuận để lại xí nghiệp lập 3 qũy theo những quy định nói trên là xí nghiệp phải hòan thành (100%) số phải nộp lợi nhuận vào ngân sách Nhà nước theo quy định, trên cơ sở số liệu xét duyệt quyết tóan hàng năm cho xí nghiệp. III- NHỮNG QUY ĐỊNH BỔ SUNG VỀ VIỆC SỬ DỤNG 3 QŨY Ngòai những quy định hiện hành về nội dung sử dụng qũy khen thưởng, qũy phúc lợi và qũy khuyến khích phát triển sản xuất, nay bổ sung thêm những nội dung sử dụng sau đây: - Dành 1% qũy phúc lợi và qũy khen thưởng của xí nghiệp để lập qũy Bộ trưởng. Nếu cấp trên trực thuộc của xí nghiệp là liên hiệp các xí nghiệp, tổng công ty không phải là những đơn vị hạch tóan kinh tế tập trung thì 1% đó để lập qũy tổng giám đốc liên hiệp các xí nghiệp, tổng giám đốc công ty. Trường hợp liên hiệp các xí nghiệp, tổng công ty là những đơn vị hạch tóan kinh tế tập trung thì phải dành 1% qũy phúc lợi và qũy khen thưởng của mình để lập qũy Bộ trưởng (Có thông tư hướng dẫn riêng về việc lập và sử dụng qũy Bộ trưởng). - Dành từ 1 đến 3% qũy khuyến khích phát triển sản xuất của các xí nghiệp để lập qũy dự trữ tài chính tập trung ở các cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp như tổng công ty, liên hiệp các xí nghiệp, Bộ hoặc Sở chủ quản. Mức cụ thể (từ 1-3%) do các cơ quan quản lý cấp trên đó quy định căn cứ vào nhu cầu cụ thể từng ngành. ở cấp Bộ hoặc Sở được lập qũy dự trữ tài chính tập trung đối với những đơn vị hạch tóan kinh tế độc lập trực tiếp trực thuộc có trích lập 3 qũy (Sẽ có thông tư hướng dẫn riêng về việc trích lập và sử dụng qũy này). Xí nghiệp được sử dụng qũy khuyến khích phát triển sản xuất để bổ sung cho nhu cầu tăng vốn lưu động, đầu tư xây dựng cơ bản theo chiều sâu, phát triển mặt hàng mới, mở rộng sản xuất chính và sản xuất phụ... theo kế họach hàng năm của xí nghiệp. - Không hạn chế mức tối đa qũy khen thưởng, nhưng khi tổng số trích vào qũy đó vượt quá30% qũy lương cơ bản bình quân thực hiện cả năm của công nhân viên xí nghiệp, thì số trích vượt tính từ trên mức 30% qũy lương cơ bản trở đi được phân phối như sau: Từ trên 30 đến 50% qũy lương cơ bản thực hiện xí nghiệp phải nộp ngân sách Nhà nước 40% và 20% nộp lên cơ quan quản lý cấp trên để lập qũy dự trữ tài chính, số còn lại 40% bổ sung vào các qũy xí nghiệp, vào qũy nào, bao nhiêu do giám đốc xí nghiệp quyết định. Từ trên 50% qũy lương cơ bản thực hiện trở đi, xí nghiệp phải nộp ngân sách Nhà nước 60% và 10% nộp lên cơ quan quản lý cấp trên để lập qũy dự trữ tài chính, số còn lại 30% để bổ sung vào các qũy xí nghiệp và do giám đốc xí nghiệp quyết định. IV- ĐIỀU KHỎAN THI HÀNH
Căn cứ vào kế họach sản xuất sản phẩm, ngay từ cuối năm trước hoặc đầu năm kế họach, Bộ chủ quản (và Sở chủ quản đối với các xí nghiệp địa phương) phải duyệt kế họach tài chính cho các đơn vị cơ sở trực thuộc, trong đó có kế họach phân phối lợi nhuận là số lợi nhuận phải nộp ngân sách, số trích lập 3 qũy v.v... Các số đó phải không được thấp hơn tổng số kế họach thu chi ngân sách của Nhà nước đã giao cho ngành chủ quản, nếu thấp hơn thì phải phạt trừ vào các qũy dự trữ tài chính hoặc qũy Bộ trường (qũy Tổng giám đốc) của cơ quan quản lý cấp trên. Mức phạt trừ cụ thể do Bộ Tài chính quy định trong các thông tư hướng dẫn về sử dụng qũy Bộ trưởng và qũy dự trữ tài chính. Kế họach nộp lợi nhuận của Nhà nước giao cho ngành chủ quản cũng phải được tính tóan từ cơ sở và cân đối với kế họach tiêu thụ sản phẩm của đơn vị.
-
Các đơn vị cơ sở phải đăng ký kế họach trích lập 3 qũy có phân bổ ra từng qúy với cơ quan ngân hàng địa phương như đăng ký qúy lương và được trích hàng qúy như quy định ở điểm 1 mục A, phần II Thông tư này.
-
Khi duyệt quyết tóan chính thức hàng năm cho đơn vị cơ sở, cơ quan quản lý cấp trên với sự tham gia của cơ quan tài chính cùng cấp duyệt số chính thức về lợi nhuận để lại xí nghiệp trích lập 3 qũy và các nhu cầu khác như quy định ở điểm 2 mục A, phần II Thông tư này và xác định số lợi nhuận phải nộp ngân sách Nhà nước. Nếu xí nghiệp sử dụng quá số lợi nhuận để lại được duyệt thì phải trừ vào số trích của năm sau và ngược lại nếu thiếu được trích thêm.
-
Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 1 năm 1985 và áp dụng cho các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh trung ương và địa phương thuộc tất cả các ngành kinh tế. Những quy định trước đây trái với Thông tư này đều bãi bỏ. Việc trích lập 3 qũy xí nghiệp cho năm 1984 vẫn thi hành như quyết định số 146-HĐBT ngày 25-8-1982 của Hội đồng Bộ trưởng và Thông tư hướng dẫn số 21-TC/CNA ngày 1-9-1982 của Bộ Tài chính.
TM. BỘ TÀI CHÍNH BỘ TRƯỞNG (Đã ký) Hồ Tế
Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/thong-tu-so-11-tc-cna-cua-bo-tai-chinh-huong-dan-che-do-phan-phoi-loi-nhuan-va-trich-lap-quy-xi-nghiep-trong-cong-nghiep-quoc-doanh--3092.
Dịch vụ liên quan
Văn bản liên quan
- Bãi bỏ của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật và của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số Điều của
- Quy định mức thu, chế độ thu, nộp phí thuộc lĩnh vực đường sắt
- Sửa đổi, bổ sung một số điều của của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán được sửa đổi, bố sung bởi và BTC, của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định giao dịch cổ phiếu niêm yết, đăng ký giao dịch và chứng chỉ quỹ, trái phiếu doanh nghiệp, chứng quyền có bảo đảm niêm yết trên hệ thống giao dịch chứng khoán đưực sửa đổi, bổ sung bởi, của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về hoạt động của công ty chứng khoán đưực sửa đổi, bổ sung bởi
- Sửa đổi, bố sung một số điều của của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về kiểm tra, giám sát, tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; kiểm soát hàng giả và hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được sửa đổi, bổ sung bởi
- Hướng dẫn bố trí nguồn kinh phí, lập dự toán, quản lý, sử dụng, quyết toán kinh phí thực hiện ký kết hợp đồng thực hiện nhiệm vụ của công chức
- Hướng dẫn mức chi tổ chức thực hiện công tác thi đua, khen thưởng tại khoản 1 Điều 48 của Chính phủ quy định về phận cấp, phân quyền trong lĩnh vực thi đua, khen thưởng; quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng
- Quy định mức thu, chế độ thu, nộp phí sát hạch lái xe, lệ phí cấp bằng, chứng chỉ được hoạt động trên các loại phuong tiện và lệ phí đăng ký, cấp biển xe máy chuyên dùng
- Quy định mức thu, chế độ thu, nộp một số khoản phí, lệ phí thuộc lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch