Thông tư liên tịch số 01/TTLNHướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự
- Số hiệu
- 01/TTLN
- Loại văn bản
- Thông tư liên tịch
- Cơ quan ban hành
- Bộ Nội vụ
- Ngày ban hành
- 20/03/1993
- Lĩnh vực
- Hình sự - hành chính
Toàn văn
THÔNG TƯ LIÊN NGÀNH của Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự ___________________ Để áp dụng thống nhất các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự được Quốc hội khóa IX thông qua ngày 22-12-1992, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp hướng dẫn một số điểm như sau:
-
Về hiệu lực của luật: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự được Quốc hội thông qua ngày 22-12-1992, đã được Chủ tịch nước công bố ngày 2-1-1993, cho nên kể từ ngày 2-1-1993, các quy định của Luật này được áp dụng trong họat động điều tra, truy tố và xét xử.
-
Về việc dẫn giải người làm chứng: Khỏan 4 Điều 43 được bổ sung một khỏan mới như sau: "Người làm chứng đã được cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án triệu tập, nhưng cố ý không đến mà không có lý do chính đáng, thì có thể bị dẫn giải". Trường hợp người làm chứng "cố ý không đến mà không có lý do chính đáng" là trường hợp người làm chứng được triệu tập theo đúng quy định tại Điều 109, không gặp khó khăn, trở ngại đến mức không thể có mặt theo giấy triệu tập được (như không bị ốm đau, tai nạn hay rủi ro khác) và đã được báo trong giấy triệu tập của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án là nếu cố ý không có mặt theo giấy triệu tập mà không có lý do chính đáng thì có thể bị dẫn giải, nhưng vẫn cố ý không đến theo giấy triệu tập. Khi áp dụng quy định nói trên, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án cần chú ý là Bô luật hình sự cũng quy định việc có thể lấy lời khai của người làm chứng tại chỗ ở của người đó (khỏan 1 Điều 110), "nếu người làm chứng vắng mặt nhưng trước đó đã có lời khai ở cơ quan điều tra thì chủ tọa phiên tòa công bố những lời khai đó. Nếu người làm chứng về những vấn đề quan trọng vắng mặt thì tùy trường hợp, Hội đồng xét xử quyết định hõan phiên tòa hoặc vấn tiến hành xét xử" (Điều 167). Do đó, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án chỉ được ra quyết định dẫn giải người làm chứng khi người làm chứng cố ý không đến mà không có lý do chính đáng và nếu họ vắng mặt thì trở ngại cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc phải hõan phiên tòa. Trong trường hợp Viện kiểm sát hoặc Tòa án ra quyết định dẫn giải người làm chứng thì quyết định đó được gửi cho Thủ trưởng cơ quan Công an cung cấp. Cơ quan Công an có trách nhiệm dẫn giải người làm chứng đến đúng thời gian, địa điểm ghi trong quyết định dẫn giải và không được đối xử thô bạo với người làm chứng (như khóa tay hay có lời nói, việc làm xúc phạm đến nhân phẩm, danh dự... của người làm chứng). Cơ quan Công an có trách nhiệm bảo đảm sự có mặt của người làm chứng bị dẫn giải cho đến khi họ được lấy lời khai xong. Cơ quan ra lệnh dẫn giải người làm chứng có trách nhiệm thanh tóan tiền tàu xe, ăn ở (nếu có) cho người làm chứng và bảo đảm các quyền lợi hợp pháp khác của họ. Việc dẫn giải người làm chứng đến cơ quan điều tra trong quân đội, Viện kiểm sát quân sự, Tòa án quân sự do lực lượng cảnh vệ của Quân đội đảm nhiệm.
-
Về việc kê biên tài sản a) Trước đây, lệnh kê biên tài sản của những người được quy định tại điểm d khỏan 1 Điều 62 (như trưởng công an, Phó trưởng Công an cấp huyện...) phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Nay theo đọan 2 khỏan 1 Điều 121 mới được sửa đổi, thì lệnh kê biên tài sản của những người được quy định tại điểm d khỏan 1 Điều 62 phải được thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp trước khi thi hành mà không phải có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát cùng cấp như trước đây.
b) Khi điều tra các tội phạm mà Bộ luật hình sự có quy định hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung là phạt tiền hay có thể phạt tiền, tịch thu hay có thể tịch thu tài sản của người phạm tội, thì cơ quan điều tra cần kê biên tài sản của họ theo đúng quy định tại Điều 121, để Tòa án có căn cứ xem xét khi quyết định hình phạt và để bảo đảm cho việc thi hành án.
-
Về việc bắt giam người bị kết án tại phiên tòa phúc thẩm. Điều 215a được bổ sung một quy định mới như sau: "Đối với bị cáo không bị tạm giam, nhưng bị phạt tù thì Tòa án quyết định bắt giam ngay, trừ các trường hợp quy định tại Điều 231 của Bộ luật này". Do đó, từ nay về sau, đối với bị cáo không bị tạm giam và không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 231, thì trong bản án phúc thẩm, Hội đồng xét xử phải quyết định bắt giam bị cáo ngay sau khi tuyên án. Khi tuyên án xong, Tòa án cấp phúc thẩm phải giao ngay bản trích lục bản án phúc thẩm cho cơ quan Công an và người bị kết án để thi hành. Đồng thời, sau khi kết thúc phiên tòa án đã xử sơ thẩm vụ án đó biết là người bị kết án đã bị bắt giam, Tòa án cấp sơ thẩm ra ngay quyết định thi hành án theo quy định tại Điều 226. Để thực hiện quy định trên đây, khi nghiên cứu hồ sơ vụ án để chuẩn bị cho việc xét xử phúc thẩm, đối với bị cáo đang được tại ngọai, nếu thấy có đủ căn cứ để kết án phạt tù và bị cáo không thuộc trường hợp có thể được hưởng án treo, cũng không thuộc trường hợp có thể được hõan thi hành hình phạt tù theo quy định tại Điều 231, thì Tòa án cấp phúc thẩm cần trao đổi trước với cơ quan Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi Tòa án sẽ mở phiên tòa xét xử vụ án để cơ quan Công an chuẩn bị người, phương tiện cần thiết cho việc bắt giam ngay người bị kết án khi có quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm.
-
Về việc tiếp tục tạm giam bị cáo trong trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại, xét xử lại. Điều 222 mới được bổ sung khỏan 4 như sau: "Trong trường hợp hủy án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại mà thời hạn tạm giam đối với bị cáo đã hết và xét thấy việc tiếp tục tạm giam bị cáo là cần thiết, thì Tòa án cấp phúc thẩm ra lệnh tạm giam cho đến khi cơ quan điều tra hoặc Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý lại vụ án. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày hủy án sơ thẩm, hồ sơ vụ án phải được chuyển cho cơ quan điều tra hoặc Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết theo thủ tục chung". Theo quy định mới bổ sung này, từ nay về sau trong trường hợp Tòa án cấp phúc phẩm hủy án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại mà thời hạn tạm giam bị cáo đã hết, và xét thấy việc tạm giam bị cáo là cần thiết thì trong bản án phúc thẩm Hội đồng xét xử phải quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo cho đến khi cơ quan điều ta hoặc Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý lại vụ án. Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, Tòa án cấp phúc thẩm phải gửi ngay bản trích lục bản án phúc thẩm cho cơ quan công an và bị cáo để thi hành. Cơ quan điều tra hoặc Tòa án cấp sơ thẩm khi nhận được hồ sơ vụ án do Tòa án cấp phúc thẩm chuyển đến phải xem xét và có quyết định ngay việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn đối với bị cáo theo thủ tục chung.
6 . Về việc tiếp tục tạm giam bị cáo trong trường hợp Tòa án cấp giám đốc thẩm hủy án để điều tra lại, xét xử lại Điều 256 được bổ sung một đọan mới vào cuối điều như sau: "Trong trường hợp hủy bản án hoặc quyết định bị kháng nghị để điều tra lại hoặc để xét xử lại và xét thấy việc tiếp tục tạm giam bị cáo là cần thiết, thì Hội đồng giám đốc thẩm ra lệnh tạm giam cho đến khi Viện kiểm sát hoặc Tòa án thụ lý lại vụ án". Do đó, từ nay về sau trong trường hợp Tòa án cấp giám đốc thẩm hủy bản án hoặc quyết định để điều tra lại hay để xét xử lại vụ án mà thấy việc tiếp tục tạm giam bị cáo là cần thiết, thì trong quyết định giám đốc thẩm, Hội đồng giám đốc thẩm phải quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo cho đến khi Viện kiểm sát hoặc Tòa án thụ lý lại vụ án. Hội đồng giám đốc thẩm phải gửi ngay bản trích lục quyết định giám đốc thẩm cho Trại giam và cho bị cáo để thi hành.
7 . Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/thong-tu-lien-tich-so-01-ttln-huong-dan-ap-dung-mot-so-quy-dinh-cua-luat-sua-doi-bo-sung-mot-so-dieu-cua-bo-luat-to-tung-hinh-su--10617.
Dịch vụ liên quan
Văn bản liên quan
- Giải thích khoản 1 Điều 289 của Bộ luật Hình sự
- Quy định chi tiết trình tự, thủ tục, mức tiền pháp nhân thương mại phải nộp để bảo đảm thi hành án; việc tạm giữ, hoàn trả, nộp ngân sách nhà nước số tiền đã nộp
- Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự
- Quy định quy trình cung cấp, tiếp nhận, cập nhật thông tin và khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính
- Quy định việc kiểm tra tính pháp lý của Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện đối với hồ sơ đề nghị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
- Sửa đổi, bổ sung một số điểm của của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII Các tội phạm về ma túy của Bộ luật hình sự năm 1999
- Sửa đổi, bổ sung một số điều của của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
- Sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước liên quan đến hành vi đăng, phát, cung cấp, đưa tin, công bố thông tin sai sự thật