Thông tư số 34-TC/TNVTHướng dẫn bù giá 6 mặt hàng bán theo định lượng với giá bán lẻ chỉ đạo ổn định của Nhà nước cho công nhân, viên chức và hạch toán số tiền bù giá vào giá thành sản phẩm, phí lưu thông
- Số hiệu
- 34-TC/TNVT
- Loại văn bản
- Thông tư
- Cơ quan ban hành
- Bộ Tài chính
- Ngày ban hành
- 29/10/1986
Toàn văn
BỘ TÀI CHÍNH Số : 34 - TC/TNVT
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 29 tháng 10 năm 1986 THÔNG TƯ HƯỚNG DẪN BÙ GIÁ 6 MẶT HÀNG BÁN THEO ĐỊNH LƯỢNG VỚI GIÁ BÁN LẺ CHỈ ĐẠO ỔN ĐỊNH CỦA NHÀ NƯỚC CHO CÔNG NHÂN, VIÊN CHỨC VÀ HẠCH TÓAN SỐ TIỀN BÙ GIÁ VÀO GIÁ THÀNH SẢN PHẨM, PHÍ LƯU THÔNG. Thực hiện kết luận của Hội nghị Bộ chính trị (văn bản số 327/TLHN ngày 16/9/1986) và quyết định số 117/HĐBT nagỳ 4/10/86 của Hội đồng bộ trưởng về những biện pháp cấp bách về giá - lương - tiền; sau khi trao đổi thống nhất với các Bộ Lao động, Nội thương, Lương thực, Ngân hàng Nhà nước và Ủy ban vật giá Nhà nước, Bộ Tài chính hướng dẫn việc thực hiện bù chênh lệch giá hoặc bù giá vào lương (dưới đây gọi tắt là bù giá) 6 mặt hàng bán theo định lượng với giá bán lẻ chỉ đạo ổn định của Nhà nước và hạch tóan số tiền phải bù vào giá thành sản phẩm, phí lưu thông như sau: A. VỀ BÙ GIÁ I. ĐỐI TƯỢNG, MẶT HÀNG BÁN THEO ĐỊNH LƯỢNG VỚI GIÁ BÁN LẺ CHỈ ĐẠO ỔN ĐỊNH CỦA NHÀ NƯỚC: 1/ Đối tượng được mua hàng theo định lượng với giá bán lẻ chỉ đạo ổn định của Nhà nước bao gồm: - Công nhân viên chức Nhà nước (kể cả công nhân viên chức đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động và người làm theo hợp đồng được đãi ngộ như người trong biên chế Nhà nước, trừ những người làm hợp đồng theo việc, theo vụ). - Lực lượng vũ trang. - Học sinh các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp, các Trường dạy nghề. - Thương binh lọai 1 và lọai 2, bệnh binh nặng phải nuôi dưỡng các đối tượng chính sách xã hội khác do Nhà nước quy định. Đối với con công nhân viên chức được mua theo định lượng lương thực và chất đốt (ở nơi từ trước đến nay vẫn có bán) với giá bán lẻ chỉ đạo ổn định của Nhà nước cho 1 con theo chế độ lương hiện hành. Đối với những gia đình có đông người phải nuôi dưỡng, đời sống thực sự khó khăn thì được xét trợ cấp khó khăn theo chế độ hiện hành. Đối với một số địa phương do hòan cảnh đặc biệt, đến nay vẫn bán lương thực và chất đốt cho những người mà công nhân, viên chức phải nuôi dưỡng theo diện rộng hơn quy định trên thì tạm thời được tiếp tục thực hiện cho đến khi có quyết định mới. 2/ Mặt hàng bán theo định lượng với giá bán lẻ chỉ đạo ổn định của Nhà nước bao gồm: lương thực, thịt lợn (hoặc thay thế bằng thịt bò, thịt trâu, mỡ, trứng, đậu phụ...); nước mắm hoặc nước chấm, đường, chất đốt và xà phòng. Nơi nào đã quy định nhiều hơn 6 mặt hàng kể trên thì điều chỉnh lại cho phù hợp với nội dung Quyết định số 122/HĐBT ngày 4/10/1986 của Hội đồng Bộ trưởng. Các mặt hàng tiêu dùng khác đều bán theo giá kinh doanh thương nghiệp, Ngân sách Nhà nước (kể cả ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương) không bù giá. 3/ Định lượng đối với từng mặt hàng bán theo giá bán lẻ chỉo đạo ổn định của Nhà nước cho các đối tượng đưọc hưởng nói ở điểm 1, mục I trong Thông tư này được thực hiện theo phụ lục ban hành kèm theo Quyết định số 122/HĐBT ngày 4/10/1986 của Hội đồng Bộ trưởng, thông tư hướng dẫn của Bộ Nội thương và Bộ Lương thực. Địa phương nào đã quy định mức bán và bù giá cao hơn định lượng theo quyết định của Hội đồng Bộ trưởng thì điều chỉnh lại cho đúng. Đối với các mặt hàng bán cho lực lượng vũ trang (kể cả một số thực phẩm khô như đậu, lạc, vừng... theo chỉ tiêu kế họach được phân phối), thực hiện đúng kết luận Hội nghị lần thứ 10 Ban chấp hành Trung ương Đảng và Chỉ thị số 209/CT ngày 22 tháng 8 năm 1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng: phải đảm bảo cung cấp hiện vật theo đúng định lượng (đủ chỉ tiêu kế họach đã được thông báo) với giá bán lẻ chỉ đạo ổn định của Nhà nước quy định cho từng mặt hàng. II. GIÁ BÁN, GIÁ VỐN VÀ MỨC BÙ GIÁ 1/ Giá bán: 6 mặt hàng bán theo định lượng cho các đối tượng nói trên được bán theo giá bán lẻ chỉ đạo ổn định của Nhà nước do Hội đồng Bộ trưởng quy định tại Quyết định số 42/HĐBT ngày 15/4/1986 của Hội đồng Bộ trưởng. Địa phương nào có điều kiện về qũy hàng hóa và tiền mặt thực hiện bán một giá theo giá kinh doanh thương nghiệp các mặt hàng theo định lượng nói trên, thì phải bảo đảm bán và bù giá vào lương theo đúng định lượng, đúng gái kinh doanh thương nghiệp do Hội đồng Bộ trưởng duyệt theo đề nghị của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc kế họachư sau khi có sự thỏa thuận của Ủy ban Vật giá Nhà nước và các bộ có Liên quan. Giá kinh doanh thương nghiệp về lương thực và thịt lợn là giá vốn hoặc giá bảo đảm kinh doanh có tích lũy (dưới đây gọi tắt là giá vốn). 2/ Giá vốn:
a) Lương thực: Giá bán lẻ chỉ đạo ổn định ở từng vùng do Hội đồng Bộ trưởng quy định trong Quyết đinhj số 42a/HĐBT ngày 15/4/1986. Giá này được tính tóan, bảo đảm đủ bù đắp giá vốn hợp lý trên cơ sở giá mua thóc theo Quyết định số 238/HĐBT ngày 20/9/1985 (thóc mua theo hợp đồng kinh tế, thóc thuế nông nghiệp, thóc thu về dịch vụ sản xuất nông nghiệp dưới hình thức thủy lợi phí, công cày máy...), tính đủ thăng số thu mua, chiết khấu bán lẻ, chi phí xay xát và có trừ đi giá trị thu hồi phụ phẩm... nên không phát sinh chênh lệch giá phải bù. Trường hợp đặc biệt, đối với một số ít địa phương thiếu thương lực, phải đưa một phần lương thực mua theo giá thỏa thuận vào cung cấp cho các đối tượng được mua theo định lượng với giá bán lẻ chỉ đạo ổn định của Nhà nước, nếu có phát sinh bù giá thì địa phương phải căn cứ vào kế họach cân đối lương tực hàng năm để lạap kế họach xin bù phần lương thực mua theo giá thỏa thuận đưa bào bán định lượng. Bộ Lương thực phải tổng hợp kế họach bù lỗ mua thỏa thuận đưa vào cân đối chjo cả nước sau khi đã điều hòa cân đối chung và có tờ trình Hội đồng Bộ trưởng nêu rõ lý do phải bù; Bộ Tài chính kiểm tra trước khi cấp phát kinh phí bù giá.
b) Thịt lợn: Giá vốn thịt lợn được tính tóan bình quân gia quyền trên cơ sở giá mua từ các nguồn: mua theo hợp đồng có hàng 2 chiều hoặc gia công, mua thỏa thuận tại địa phương theo giá và khung giá do Trung ương quy định, mua của cấp I Nội thương giao; cộng với thặng số thu mua, chi phí giết môt, chiết khấu bán lẻ và trừ giá trị thu hồi phụ phẩm do Bộ Nội thương quy định.
c) Những mặt hàng khác (đường, nước mắm hoặc nước chấm, chất đốt và xà phòng): Giá vốn được tính tóan bình quân gia quyền trên cơ sở các nguồn thu mua: cấp I Trung ương điều về nhận tại các xí nghiệp sản xuất chế biến theo giá bán buôn công nghiệp, bán buôn vật tư; mua tại địa phương theo giá và khung giá do Trung ương quy định cộng với chiết khấu bán lẻ theo quy định đối với từng mặt hàng. 3/ Mức bù giá: Mức bù giá đối với từng mặt hàng là khỏan chênh lệch giữa giá kinh doanh thương nghiệp hoặc giá vốn được tính theo hướng dẫn trên so với giá bán lẻ chỉ đạo ổn định của Nhà nước cho các đối tượng được hươngr do Hội đồng Bộ trưởng quy định cho từng địa phương tại Quyết định số 42a/HĐBT ngày 15/4/1986 và theo hướng dẫn cụ thể tại mục B trong thông tư này. Trong trường hợp giá kinh doanh thương nghiệp của 6 mặt hàng nói trên chưa được Hội đồng Bộ trưởng phê duyệt, trước mắt tạm thời căn cứ vào giá kinh doanh thương nghiệp do Ủy ban Nhân dân địa phương đề nghị, nhưng bù theo giá nào thì phải bán theo giá đó để bảo đảm nguyên tắc bù đủ. Đối với những địa phương thực hiện bán một giá theo giá kinh doanh thương nghiệp, bù giá vào lương và ở những nơi Nhà nước có chủ trương bù giá bằng tiền (công nhân viên chức trên địa bàn huyện), thì mức bù giá phải đảm bảo cho công nhân viên chức có đủ tiền mua hiện vật theo tiêu chuẩn định lượng đã được quy định trong Quyết định số 122/HĐBT ngày 4/10/1986 của Hội đồng Bộ trưởng và theo giá kinh doanh thương nghiệp bán tại địa phương do cấp có thẩm quyền quy định. III. PHƯƠNG THỨC BÁN VÀ BÙ GIÁ, BÙ LƯƠNG: 1/ Đối với lực lượng vũ trang: Trong bất kỳ hòan cảnh nào, các ngành, các địa phưong cũng phải bảo đảm cung cấp bằng hiện vật đủ định lượng, theo đúng chỉ tiêu kế họach Nhà nước và theo đúng giá bán lẻ chỉ đạo ổn định của Nhà nước quy định cho từng mặt hàng; Ngân sách Nhà nước cấp bù cho đơn vị bán hàng. 2/ Đối với công nhân viên chức Nhà nước và các đối tượng chính sách được mua theo định lượng với giá bán lẻ chỉ đạo ổn định của Nhà nước:
a) Trường hợp địa phương thực hiện bán từ 1 đến 6 mặt hàng theo định lượng với gias bán lẻ chỉ đạo ổn định của Nhà nước thì Ngân sách Nhà nước cấp bù (khỏan chênh lệch giữa giá kinh doanh thương nghiệp hoặc giá vốn với gía bán lẻ chỉ đạo ổn định của Nhà nước) cho đơn vị bán hàng (Nội thương, Lương thực).
b) Địa phương nào có điều kiện về qũy hàng hóa và tiền mặt, thực hiện bán một giá từ 1 đến 6 mặt hàng định lượng theo giá kinh doanh thương nghiệp và bù vào lương, thì phải theo định định lượng, đúng giá kinh daonh thương nghiệp do Hội đồng Bộ trưởng duyệt. Mức bù vào lương là khỏan chênh lệch giữa giá kinh doanh thương nghiệp hoặc giá vốn với giá bán lẻ chỉ đạo ổn định của Nhà nước. Các cơ quan tài chính địa phương cấp bù trực tiếp cho các đối tượng được hưởng. 3/ Trường hợp phải bù bằng tiền thay hiện vật: Những trường hợp sau đây có thể bù bằng tiền thay hiện vật: + Không bảo đảm đủ 6 mặt hàng theo định lượng và không có mặt khác có giá trị sử dụng tương đương để bán thay thế. + Đối với công nhân viên chức trên địa bàn huyện có điều kiện tự tổ chức sản xuất và chăn nuôi hoặc được gia đình cung cấp không phải mua lương thực thực phẩm của Nhà nước thì bù bằng tiền theo Quyết định số 122/HĐBT ngày 4/10/1986 của Hội đồng Bộ trưởng. Mức bù bằng tiền thay hiện vật được quy định theo nguyên tắc tại điểm 3, mục II trong Thông tư hướng dẫn này. B. VỀ HẠCH TÓAN BÙ GIÁ VÀO GIÁ THÀNH SẢN PHẨM VÀ PHÍ LƯU THÔNG. Kết luận của Hội nghị Bộ Chính trị về những biện pháp cấp bách giải quyết vấn đề giá - lương - tiền đã nêu rõ: "Đối với khu vực sản xuất - kinh doanh phải chấm dứt việc bù lỗ qua Ngân sách. Phải hạch tóan đủ tiền lương (bao gồm cả các khỏan phụ cấp, bù giá có tính chất lượng) của công nhân, viên chức thuộc các tổ chức sản xuất - kinh doanh vào giá thành sản phẩm để các tổ chức sản xuất - kinh doanh đó tự trang trải theo nguyên tắc hạch tóan kinh tế". Vì vậy, 6 mặt hàng bán theo định lượng với giá bán lẻ chỉ đạo ổn định của Nhà nước đối với các tổ chức sản xuất kinh doanh đủ ở địa phương bán theo giá bán lẻ chỉ đạo ổn định của Nhà nước và bù giá qua ngành hàng hoặc bù bằng tiền thay hiện vật bán một giá theo giá kinh doanh thương nghiệp và bù vào lương đều phải tính và hạch tóan vào giá thành sản phẩm và phí lưu thông. Về nguyên tắc, khỏan bù giá đưa vào giá thành và phí lưu thông là khỏan chênh lệch giữa giá kinh doanh thương nghiệp họac giá vốn được tính theo hướng dẫn ở phần A mục II, điểm 2 nói trên với giá bán lẻ chỉ đạo ổn định của Nhà nước. Để thuận tiện cho việc hạch tóan khỏan bù giá có tính chất lương vào giá thành sản phẩm và phí lưu thông được tương đối ổn định và thống nhất trong cả nước và để tránh gây phiền hà cho công nhân viên chức, số tiền bù giá 6 mặt hàng bán theo định lượng với giá thành và phí lưu thông được tính bằng tỷ lệ % (do Bộ Tài chính quy định sau khi thống nhất với Ủy ban kế họach Nhà nước, Bộ Lao động và Ủy ban Vật giá Nhà nước) trên tổng qũy tiền lương cơ bản theo cấp bậc và chức vụ công nhân, viên chức của tổ chức sản xuất - kinh doanh. Tỷ lệ % trên được xác định trên cơ sở tính tóan số lượng từng mặt hàng bán theo định lượng với giá bán lẻ chỉ đạo ổn định của Nhà nước (kể cả công công nhân viên chức tính 1/1 được mua theo định lượng lương thực và chất đốt như đã nêu trở trên) và mức bù giá tình bình quân gia quyền cả nước so với giá bán lẻ chỉ đạo ổn định của Nhà nước. Từ dó, tính tổng qũy bù giá 6 mặt hàng bán theo định lượng với giá bán lẻ chỉ đạo ổn định của Nhà nước (riêng lương thực bán cho công nhân viên chức lấy từ các nguồn: thóc thuế nông nghiệp, thóc thu về công cày máy, thủy lợi phí và thóc mua theo hợp đồng kinh tế thì không phải bù giá, trừ trường hợp đưa thóc mua theo giá thỏa thuận vào cung cấp) so với tổng qũy tiền lương cơ bản của khu vực này, để xác định tỷ lệ % đưa vào giá thành sản phẩm và phí lưu thông. Trước mắt, từ nay đến hết năm 1986, số tiền bù giá được hạch tóan vào giá thành và phí lưu thông tạm thời quy định để áp dụng thống nhất trong cả nước bằng 60% trên tổng qũy tiền lương cơ bản của tổ chức sản xuất - kinh doanh. Tỷ lệ % đưa vào giá thành sản phẩm và phí lưu thông là tỷ lệ trích bắt buộc đối với tất cả các tổ chức sản xuất - kinh doanh kể cả Trung ương và địa phương. Nếu số trích theo tỷ lệ % nói trên nhiều hơn so với số chi bù giá thực tế, thì tổ chức sản xuất - kinh doanh phải nộp phần chênh lệch thừa dưới hình thức lợi nhuận nộp ngân sách; ngược lại nếu thiếu thì được trừ vào khỏan lợi nhuận nộp ngân sách của xí nghiệp. Các tổ chức sản xuất - kinh doanh, kể cả Trung ương và địa phương trên địa bàn tỉnh, thành phố và đặc khu trực thuộc trung ương, căn cứ vào tỷ lệ % tính trên lương cơ bản nói trên hàng tháng lập kế họach bù giá của đơn vị mình để làm cơ sở hạch tóan vào giá thành sản phẩm và phí lưu thông. Kế họach bù giá hàng tháng phải gửi cho cơ quan tài chính địa phương (Sở Tài chính, Phòng Tài chính, Tổ chức thu quốc doanh và quản lý tài chính các xí nghiệp) để kiểm tra, xét duyệt. - Ở các địa phương thực hiện bán theo giá bán lẻ chỉ đạo ổn định của Nhà nước và bù giá cho ngành hàng cung ứng, thì các tổ chức sản xuất - kinh doanh (kể cả xí nghiệp trung ương và xí nghiệp địa phương) phải trích nộp đầy đủ, kịp thời khỏan bù giá hạch tóan vào giá thành và phí lưu thông cho cơ quan tài chính địa phương để có nguồn bù giá cho các đơn vị bán hàng (lương thực, nội thương) hoặc bù tiền thay hiện vật cho các đối tượng được hưởng. - Địa phương nào thực hiện bù giá vào lương và bán một giá theo giá theo giá kinh doanh thương nghiệp cao hơn giá vốn bảo đảm kinh doanh thì phần chênh lệch giữa giá kinh doanh thương nghiệp với giá vốn (giá đảm bảo kinh doanh) không được tính vào giá thành, phí lưu thông... mà phải dùng số tiền chênh lệch về giá bán để bù. Thí dụ: giá bán lẻ chỉ đạo thịt lợn là 43đ/kg; giá vốn đảm bảo kinh doanh là 150đ/kg; giá bán lẻ kinh doanh thương nghiệp do địa phương quy định là 200đ/kg, thì chênh lệch giữa giá vốn và giá chỉ đạo 107đ/kg (150đ/kg - 43đ/kg) được tính vào giá thành, phí lưu thông. Phần chênh lệch giữa giá kinh doanh thương nghiệp đến giá vốn 50đ/kg (200đ/kg-150đ/kg) phải dùng tiền chênh lệch giá để bù lương, không được hạch tóan vào giá thành và phí lưu thông. Các tổ chức sản xuất - kinh doanh (kể cả xí nghiệp Trung ương và xí nghiệp địa phương) phải dùng khỏan tiền trích từ giá thành và phí lưu thông và khỏan chênh lệch do cơ quan tài chính cấp (nếu có) để có đủ nguồn cấp cho công nhân viên chức mua được hàng đủ theo định lượng của Nhà nước quy định. Khi hạch tóan khỏan bù giá vào giá thành và phí lưu thông. Các tổ chức sản xuất - kinh doanh phải phấn đấu hạ giá thành và phí lưu thông. Sau khi đã đã phấn đấu hạ giá thành và phí lưu thông mà vẫn bị lỗ, thì các tổ chức sản xuất - kinh doanh phải lập phương án báo cáo lên cơ quan có thẩm quyền xem xét điều chỉnh giá, tuyệt đối không tự động thay đổi giá chỉ đạo của Nhà nước. Trường hợp không điều chỉnh được giá và không có biện pháp để khắc phục lỗ, thì ngân sách Nhà nước (ngân sách trung ương, ngân sách địa phương) sẽ xem xét cấp bù kịp thời cho các tổ chức sản xuất - kinh doanh (bằng hình thức ghi thu, ghi chi). Bộ Tài chính sẽ có văn bản riêng hướng dẫn các tổ chức sản xuất - kinh doanh hạch tóan kế tóan các khỏan bù giá vào giá thành và phí lưu thông. C. VỀ NGUỒN KINH PHÍ ĐỂ BÙ GIÁ CHO CÁC ĐỐI TƯỢNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH, THÀNH PHỐ, ĐẶC KHU. 1/ Lực lượng vũ trang nếu nhận các mặt hàng định lượng ở các đơn bị cấp I (theo chỉ tiêu kế họach Nhà nước đã thông báo) thì Ngân sách trung ương cấp bù trực tiếp cho cấp 1 (lương thực, nội thương); nếu nhận ở các đơn vị cấp 2 thì Ngân sách trung ương cấp bù qua Sở Tài chính bằng hình thức "kinh phí ủy quyền". 2/ Các địa phương bán 6 mặt hàng định lượng theo giá bán lẻ chỉ đạo ổn định của Nhà nước và bù giá qua ngành hàng thì thực hiện như sau:
a) Đối với tổ chức sản xuất - kinh doanh (kể cả Trung ương và địa phương), phải nộp cho cơ quan tài chính địa phương số tiền bù giá tính vào giá thành, phí lưu thông theo đúng tỷ lệ % trên qũy lương cơ bản để có nguồn bù cho đơn vị bán hàng, Ngân sách Nhà nước (ngân sách trung ương và ngân sách địa phương) không cấp bù.
b) Công nhân, viên chức khu vực hành chính - sự nghiệp nếu do địa phương trực tiếp quản lý thì ngân sách địa phương cấp bù; nếu do Trung ương trực tiếp quản lý thì ngân sách Trung ương chuyển "Kinh phí ủy quyền" về Sở Tài chính để cấp bù.
- Các địa phương bán theo giá kinh doanh thương nghiệp từ 1 đến 6 mặt hàng bù giá vào lương thì thực hiện như sau:
a) Các tổ chức sản xuất - kinh doanh (kể cả trung ương và địa phương) phải bằng nguồn trích nộp của mình và nguồn thu chênh lệch giá giữa giá kinh doanh thương nghiệp bù vào lương với giá vốn được tính theo hướng dẫn trên do cơ quan tài chính địa phương cấp (nếu có) để có đủ nguồn kinh phí bảo đảm cho công nhân, viên chức được mua hàng theo định lượng và giá bán tại địa phương do cấp có thẩm quyền quy định.
b) Đối với các đối tượng là công nhân viên chức khu vực hành chính - sự nghiệp (kể cả công nhân, viên chức đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động và người làm theo hợp đồng được đãi ngộ như người trong biên chế Nhà nước, trừ những người làm hợp đồng theo việc, theo vụ); lực lượng vũ trang; học sinh các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, các trường dạy nghề; thương binh lọai 1 và 2, bệnh binh nặng phải nuôi dưỡng và các đối tượng chính sách xã hội khác thì ngân sách Nhà nước (ngân sách Trung ương và ngân sách địa phưong) bù khỏan chênh lệch giữa gaas kinh doanh thương nghiệp hoặc giá vốn với giá bán lẻ chỉ đạo ổn định của Nhà nước. Trường hợp, nếu giá kinh doanh thương nghiệp tính bù vào lương cao hơn giá vốn, cơ quan tài chính địa phương phải dùng nguồn thu chênh lệch giá do các đơn vị bán hàng (lương thực, nội thương) nộp để bảo đảm cấp bù giá vào lương cho công nhân, viên chức, kể cả trung ương và địa phương quản lý). D. HẠCH TÓAN KẾ TÓAN VÀ QUYẾT TÓAN NGÂN SÁCH KHỎAN THU CHÊNH LỆCH GIÁ VÀ CHI BÙ GIÁ. I. Về hạch tóan kế tóan và quyết tóan ngân sách: 1/ Để theo dõi và quản lý rtiêng khỏan thu để chi về bù giá cho các đối tượng của trung ương và địa phương quản lý, sau khi trao đổi thống nhất với Ngân hàng Nhà nước, các Sở Tài chính và Phòng Tài chính các quận, huyện được mở một tài khỏan tiêng tại Ngân hàng tỉnh, thành phố và quận, huyện để tập trung các khỏan thu chênh lệch giá (trường hợp giá vốn thấp hơn giá bán kinh doanh thương nghiệp bù vào lương) của hàng bán theo định lượng với giá lẻ chỉ đạo ổn định của Nhà nước và khỏan bù giá của các tổ chức sản xuất - kinh doanh hạch tóan vào giá thành và phí lưu thông phải trích nộp cho cơ quan tài chính địa phương.
a) Đối với khỏan thu chênh lệch giá (trường hợp giá vốn thấp hơn giá bán kinh doanh thương nghiệp bù vào lương) do các đơn vị kinh doanh thương nghiệp và lương thực nộp: + Tài khỏan 797.01 đối với các đơn vị do tỉnh, thành phố, đặc khu quản lý nộp. + Tài khỏan 798.01 đối với các đơn vị thuộc quận, huyện quản lý nộp. Việc điều hành, sử dụng khỏan thu chênh lệch giá nói trên ở địa phương do Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu quy định nhằm bảo đảm đủ nguồn cấp bù giá vào lương cho các đối tượng được hưởng trên điạ bàn địa phương.
b) Đối với khỏan bù giá hạch tóan vào giá thành và phí lưu thông do các tổ chức sản xuất - kinh doanh trích nộp: + Tài khỏan 797.02 đối với các đơn vị do tỉnh, thành phố, đặc khu trực tiếp cấp bù (bao gồm cả các xí nghiệp Trung ương). + Tài khỏan 798.02 đối với các đơn vị do quận, huyện trực tiếp cấp bù. Bên "Có" của các tài khỏan trên ghi tập trung các khỏan thu chênh lệch giá giữa giá kinh doanh thương nghiệp bù vào lương với giá vốn của mặt hàng bán theo giá bán lẻ chỉ đạo ổn định của Nhà nước và khỏan bù giá của các tổ chức sản xuất - kinh doanh hạch tóan vào giá thành, phí lưu thông trích nộp. Bên "Nợ" của các tài khỏan trên ghi rõ số tiền đã rút ra đưa vào thu ngân sách để làm nguồn bổ sung cấp bù giá cho các đối tượng của Trung ương và địa phương quản lý như đã nói ở trên. Các khỏan thu trên đây không được sử dụng để chi tiêu cho các nhu cầu khác của ngân sách địa phương. 2/ Để đảm bảo các khỏan thu, chi nói trên được phản ánh đầy đủ và thống nhất vào ngân sách Nhà nước nay quy định: - Khỏan thu về chênh lệch giá (giữa giá kinh doanh thương nghiệp bù vào lương và giá vốn) do các đơn vị bán hàng nộp và khỏan chi bù giá hạch tóan vào giá thành và phí lưu thông do các tổ chức sản xuất - kinh doanh trích nộp, trước khi sử dụng để cấp bù giá phải lập ủy nhiệm chi chuyển từ tài khỏan 797.01 và 197.02b vào tài khỏan 730 "Thu ngân sách tỉnh, thành phố, đặc thu"; từ tài khỏan 798.01 và 798.02 vào tài khỏan 750 "Thu ngân sách quận, huyện" và hạch tóan vào lọai XI "Thu chênh lệch giá 6 mặt hàng cung cấp" gồm 2 khỏan: + Khỏan 119 - Thu về khỏan bù giá hạch tóan vào giá thành và phí lưu thông. + Khỏan 120 - Thu về chênh lệch giá hàng cung cấp. - Khỏan chi bù giá được hạch tóan vào chi ngân sách của tỉnh, thành phố, quận, huyện và hạch tóan vào lọai XI "Chi bù chênh lệch giá hàng bán cung cấp" , gồm 5 khỏan: + Khỏan 84: Bù chênh lệch giá lương thực + Khỏan 85: Bù chênh lệch giá thịt lợn + Khỏan 86: Bù chênh lệch giá các mặt hàng khác + Khỏan 88: Bù tiền thay hiện vật + Khỏan 89: Bù giá vào lương II. Về quyết tóan kinh phí cấp bù giá: 1/ Sở Tài chính các tỉnh, thành phố, đặc khu có trách nhiệm tổ chức theo dõi, tổng hợp và phản ánh đầy đủ số thu chênh lệch giá (giữa giá kinh doanh thương nghiệp bù vào lương và giá vốn) và khỏan bù giá do các tổ chức sản xuất - kinh doanh trích nộp. 2/ Khỏan chi bù giá do các tổ chức sản xuất - kinh doanh trích nộp và các khỏan thu chênh lệch giá (do giá kinh doanh thương nghiệp cơ hơn giá vốn...) đã hạch tóan vào thu chi ngân sách như đã nói ở trên, các Sở Tài chính phải lọai trừ khi quyết tóan ngân sách để các khỏan thu, chi được phản ánh đúng thực chất. E.TỔ CHỨC THỰC HIỆN. Những điểm hướng dẫn trong thông tư này được tổ chức thực hiện từ 1/10/1986. Các Bộ, các ngành và các địa phương cần có kế họach và biện pháp cụ thể hướng dẫn cho các đơn vị cơ sở trực thuộc thực hiện. Tổng cục Cao su và Liên hiệp xí nghiệp cà phê Việt Nam (thuộc Bộ Nông nghiệp) nhận ở địa phương các mặt hàng định lượng quy định ở trên (trừ lương thực) theo giá bán quy định tại địa phương. Nếu nhận các mặt hàng bán theo định lượng tại các tổ chức bán buôn trung ương thì các Tổng công ty bán theo giá bán buôn thương nghiệp, ngân sách trung ương cấp bù giá cho Tổng cục Cao su và Liên hiệp xí nghiệp cà phê Việt Nam. Phương pháp hạch tóan, thanh quyết tóan khỏan chi về bù giá quy định như sau: - Số tiền bù giá mà các đơn vị sản xuất - kinh doanh thuộc ngành cao su, cà phê tính vào giá thành sản phẩm và phí lưu thông (theo % định mức trên qũy lương cơ bản) không phải nộp vào cơ quan tài chính địa phương mà nộp vào tài khỏan của Công ty đời sống ngành để lập qũy tự bù giá. - Các Công ty đời sống có trách nhiệm cung cấp hàng định lượng đúng đối tượng, đúng định lượng, đúng giá cả do Trung ương quy định. Nếu số thực bù lớn hơn số thực trích thì Bộ Tài chính sẽ xem xét trợ cấp bằng ngân sách Nhà nước. - Bộ Tài chính ủy nhiệm cho Tổng cục Cao su, Tổng giám đốc Liên hiệp các xí nghiệp cà phê Việt Nam chịu trách nhiệm trực tiếp, tòan diện về tổ chức chỉ đạo, xét duyệt kê khai, cấp phát, hướng dẫn hạch tóan, thanh quyết tóan tiền chi bù giá 6 mặt hàng định lượng theo đúng chính sách chế độ hiện hành. Sở Tài chính, Chi cục Thu quốc doanh và quản lý tài chính xí nghiệp các tỉnh, thành phố và đặc khu trực thuộc Trung ương có trách nhiệm tổ chức kiểm tra, xác định đúng các khỏan thu chênh lệch giá và các khỏan chi về bù giá do các tổ chức sản xuất - kinh doanh có trách nhiệm trích nộp để đôn đốc thu nộp kịp thời, đầy đủ các chấp hành nghiêm chỉnh chế độ hạch tóan, báo cáo và quyết tóan chi bù giá 6 mặt hàng bán theo định lượng với giá bán lẻ chỉ đạo ổn định của Nhà nước với Bộ Tài chính. Trường hợp địa phương thực hiện bán một giá kinh doanh thương nghiệp và bù giá vào lương thì Ủy ban Nhân dân lập phương án cụ thể báo cáo Thường vụ Hội đồng Bộ trưởng.
Căn cứ vào chủ trương phương án của Ủy bân Nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu, các Sở Tài chính phải báo cáo Bộ Tài chính phương án bù giá vào lương cho cán bộ, công nhân viên trên địa bàn (kể cả các đối tượng trung ương và địa phương quản lý) theo đúng các hướng dẫn trong Thông tư này để xác định số kinh phí ngân sách địa phương phải cấp bù và ngân sách trung ương cần chuyển về cho địa phương để cấp bù. Giám đốc và kế tóan trưởng các tổ chức sản xuất - kinh doanh có trách nhiệm lập báo cáo số lượng công nhân, viên chức và qũy lương cơ bản gửi cho cơ quan tài chính và Chi cục, Phòng Thu quốc doanh và quản lý tài chính xí nghiệp để có căn cứ kiểm tra, cấp phát kinh phí. Cán bộ chuyên quản tài chính xí nghiệp có trách nhiệm kiểm tra kế tóan về hạch tóan tiền lương, giúp các tổ chức sản xuất - kinh doanh lập kế họach bù giá và thực hiện việc cấp phát, thu bù kịp thời cho đơn vị. Những mặt hàng thuộc diện chính sách xã hội, những tu liẹu sản xuất quan trọng và một số mặt hàng tiêu dùng thiết yếu Nhà nước chủ trương giữ ổn định giá bán mà phát sinh lỗ không thuộc phạm vi hướng dẫn cuả Thông tư này. Trong quá trình thực hiện Thông tư này nếu có vấn đề gì khó khăn, vướng mắc, đề nghị các Bộ, các địa phương phản ánh cho Bộ tài chính để nghiên cứu, trao đổi thống nhất với các ngành có liên quan giải quyết kịp thời./.
Nơi nhận: - VP HĐBT (để b/c) - Các Bộ, Tổng cục, UBNN và các cơ quan (để phối khác trực thuộc HĐBT (hợp chỉ khác trực thuộc HĐBT (đạo - Các cơ quan Đảng và (thực hiện. đòan thể Trung ương. - UBNN các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc T.W - Các Sở Tài chính - Các Chi cục TQD và quản lý tài chính xí nghiệp T.W - Các Trường trực thuộc Bộ - Các Cục, Vụ, Viện, Ban Công ty, Phòng trực thuộc Bộ - Lưu Văn phòng. K/T BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH THỨ TRƯỞNG THỨ NHẤT Chu Tam Thức Thứ trưởng thứ nhất
Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/thong-tu-so-34-tc-tnvt-huong-dan-bu-gia-6-mat-hang-ban-theo-dinh-luong-voi-gia-ban-le-chi-dao-on-dinh-cua-nha-nuoc-cho-cong-nhan-vien-chuc-va-hach-toan-so-tien-bu-gia-vao-gia-thanh-san-pham-phi-luu-thong--107606.
Dịch vụ liên quan
Văn bản liên quan
- Bãi bỏ của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật và của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số Điều của
- Quy định mức thu, chế độ thu, nộp phí thuộc lĩnh vực đường sắt
- Sửa đổi, bổ sung một số điều của của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán được sửa đổi, bố sung bởi và BTC, của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định giao dịch cổ phiếu niêm yết, đăng ký giao dịch và chứng chỉ quỹ, trái phiếu doanh nghiệp, chứng quyền có bảo đảm niêm yết trên hệ thống giao dịch chứng khoán đưực sửa đổi, bổ sung bởi, của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về hoạt động của công ty chứng khoán đưực sửa đổi, bổ sung bởi
- Sửa đổi, bố sung một số điều của của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về kiểm tra, giám sát, tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; kiểm soát hàng giả và hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được sửa đổi, bổ sung bởi
- Hướng dẫn bố trí nguồn kinh phí, lập dự toán, quản lý, sử dụng, quyết toán kinh phí thực hiện ký kết hợp đồng thực hiện nhiệm vụ của công chức
- Hướng dẫn mức chi tổ chức thực hiện công tác thi đua, khen thưởng tại khoản 1 Điều 48 của Chính phủ quy định về phận cấp, phân quyền trong lĩnh vực thi đua, khen thưởng; quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng
- Quy định mức thu, chế độ thu, nộp phí sát hạch lái xe, lệ phí cấp bằng, chứng chỉ được hoạt động trên các loại phuong tiện và lệ phí đăng ký, cấp biển xe máy chuyên dùng
- Quy định mức thu, chế độ thu, nộp một số khoản phí, lệ phí thuộc lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch