Thông tư số 31-TC/CNHướng dẫn chế độ bảo toàn và phát triển vốn sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế quốc doanh
- Số hiệu
- 31-TC/CN
- Loại văn bản
- Thông tư
- Cơ quan ban hành
- Bộ Tài chính
- Ngày ban hành
- 27/05/1991
- Lĩnh vực
- Tài chính doanh nghiệp
Toàn văn
BỘ TÀI CHÍNH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: 31-TC/CN
Hà Nội, ngày 27 tháng 5 năm 1991 THÔNG TƯ CỦA BỘ TÀI CHÍNH SỐ 31-TC/CN NGÀY 27/5/1991 HƯỚNG DẪN CHẾ ĐỘ BẢO TÒAN VÀ PHÁT TRIỂN VỐN SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÁC ĐƠN VỊ KINH TẾ QUỐC DOANH Thi hành Chỉ thị số 138-CT ngày 25/4/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc mở rộng việc giao trách nhiệm sử dụng, bảo tòan và phát triển vốn sản xuất kinh doanh cho các đơn vị kinh tế quốc doanh, Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ bảo tòan và phát triển vốn sản xuất - kinh doanh của các đơn vị kinh tế quốc doanh như sau: I. TRÁCH NHIỆM BẢO TÒAN VÀ PHÁT TRIỂN VỐN SX-KD CỦA CÁC ĐƠN VỊ KINH TẾ QUỐC DOANH
-
Tất cả đơn vị kinh tế quốc doanh hạch tóan kinh tế độc lập, có sử dụng vốn trong sản xuất - kinh doanh, bao gồm vốn cố định, vốn lưu động và các lọai vốn khác thuộc nguồn vốn NSNN cấp, vốn tự bổ sung, vốn vay Ngân hàng và các nguồn vốn chiếm dụng khác đều phải có trách nhiệm bảo tòan và phát triển vốn của mình. Bảo tòan vốn ở các đơn vị kinh tế quốc doanh được thực hiện trong quá trình sử dụng vốn vào mục đích sản xuất - kinh doanh, đảm bảo cho các lọai tài sản không bị hư hỏng trước thời hạn và mất mát, hoặc ăn chia vào vốn, không được tạo ra lãi giả để làm giảm vốn, kể cả vốn cố định và vốn lưu động. Đồng thời, người sử dụng vốn phải thường xuyên duy trì được giá trị đồng vốn của mình thể hiện bằng năng lực sản xuất của TSCĐ, khả năng mua sắm vật tư cho khâu dự trữ và tài sản lưu động định mức nói chung, duy trì khả năng thanh tóan của xí nghiệp. Do đó trong điều kiện có trượt giá tăng lên thì số vốn được cấp ban đầu (hoặc tự bổ sung) cũng phải được tăng theo để duy trì năng lực sản xuất - kinh doanh của xí nghiệp. Các xí nghiệp ngòai trách nhiệm bảo tòan vốn, còn có trách nhiệm chăm lo phát triển vốn, thường xuyên bổ sung và tăng vốn để tự mở rộng, đổi mới công nghệ để phát triển sản xuất kinh doanh của xí nghiệp.
-
Biên bản giao vốn cho các đơn vị kinh tế quốc doanh là văn bản pháp lý ghi nhận số vốn cố định, vốn lưu động và các lọai vốn khác thuộc ngân sách cấp và tự bổ sung được giao cho xí nghiệp tính từ thời điểm ký biên bản giao nhận vốn và xí nghiệp có trách nhiệm bảo tòan. Các đơn vị kinh tế quốc doanh phải nộp tiền sử dụng vốn cố định và vốn lưu động - do NSNN cấp theo các quy định hiện hành trên cơ sở số vốn được giao lần đầu hoặc số vốn phải bảo tòan hàng năm theo các quy định của Thông tư này.
-
Thông tư này quy định chế độ bảo tòan vốn cố định và vốn lưu động đã được giao cho XN và gắn liền với chế độ thu tiền sử dụng vốn do NSNN cấp. Các lọai vốn khác như: KHCB để lại xí nghiệp, qũy khuyến khích phát triển sản xuất của xí nghiệp, vốn sửa chữa lớn, lợi nhuận chưa phân phối v.v... cũng được giao cho xí nghiệp, nhưng tính chất bảo tòan các vốn này khác với vốn cố định và vốn lưu động. Nội dung bảo tòan chủ yếu của các vốn này là xí nghiệp phải sử dụng có mục đích và có hiệu quả. II. PHƯƠNG PHÁP VÀ NGUỒN BẢO TÒAN VỐN CỐ ĐỊNH VÀ VỐN LƯU ĐỘNG
-
Bảo tòan vốn cố định. a. Phương thức bảo tòan vốn cố định là : Xác định đúng nguyên giá TSCĐ, trên cơ sở đó tính đúng và tính đủ khấu hao cơ bản và KHSCL TSCĐ để tạo nguồn thay thế và duy trì năng lực sản xuất của TSCĐ. Ngòai ra, các đơn vị kinh tế cơ sở phải tự đầu tư mở rộng và phát triển sản xuất, đổi mới trang thiết bị bằng nguồn qũy khuyến khích phát triển sản xuất trích từ lợi nhuận để lại xí nghiệp. b. Vào đầu năm kế họach, do chưa xác định chính thức số vốn phải bảo tòan, mức phải nộp về tiền sử dụng vốn NSNN cho năm kế họach được tạm xác định trên cơ sở số vốn xí nghiệp đã tự bảo tòan được đến cuối năm báo cáo theo sổ sách kế tóan của xí nghiệp. Cơ quan quản lý cấp trên với sự tham gia của cơ quan tài chính cùng cấp khi xét duyệt quyết tóan năm chính thức cho đơn vị trực thuộc (không được chậm quá tháng 6 năm sau) sẽ xác định chính thức hệ số tăng vốn, kể cả hệ số hao mòn vô hình (nếu có) và số vốn cố định phải bảo tòan đến cuối năm báo cáo. Số phải nộp chính thức về tiền sử dụng vốn cho năm tới (năm kế họach) sẽ được xác định trên cơ sở số vốn phải bảo tòan đó. Công thức tính như sau: Số vốn phải bảo tòan đến cuối năm báo cáo = Số vốn được giao đầu năm (hoặc số vốn phải bảo tòan đầu năm) - Khấu hao cơ bản nộp NS trong năm x Hệ số tăng vốn trong năm báo cáo x Hệ số hao mòn vô hình (nếu có) Ví dụ về việc xác định số vốn phải bảo tòan đến cuối năm báo cáo (1991): Số vốn ngân sách cấp đầu tư ban đầu cho TSCĐ của xí nghiệp bao gồm: vốn cố định (giá trị còn lại của TSCĐ) và số dư về KHCB để lại xí nghiệp (đã trừ phần nộp ngân sách và phần đã sử dụng) đến thời điểm giao vốn 1/1/1991 là: + Vốn cố định (NSNN cấp): 500 tr. đồng. + Số dự KHCB để lại xí nghiệp: 30 tr. đồng Cộng vốn giao cho xí nghiệp để tính thu tiền sử dụng vốn trong năm 1991: 530tr. đồng. Đồng thời trong năm 1991 xí nghiệp đã nộp KHCB vào NSNN là 50tr.đồng. Để xác định số vốn phải bảo tòan đến cuối năm 1991, phải tính hệ số trượt giá như sau: Vào thời điểm 1/1/1991 thì giá trị TSCĐ vẫn được xác định trên cơ sở kết quả kiểm kê đánh giá lại TSCĐ 1/1/1990, nghĩa là theo tỷ giá Rúp 2.400 đ/R và tỷ giá đô la: 3.900 đ/USD. Trong tổng số vốn cố định 200 tr.đồng thì hình thành từ 3 nguồn: một phần TSCĐ nhập khẩu từ khu vực I theo tỷ giá Rúp; một phần nhập từ khu vực II theo tỷ giá đôla và một phần vốn trong nước. Giả định, đến thời điểm 1/1/1992 bỏ tỷ giá Rúp; tỷ giá đôla lên 8.000 USD. Do đó tính được : + Hệ số tăng vốn chung cho phần TSCĐ nhập khẩu là: 8.000 = 2,3 (phần giá trị TSCĐ là tính từ Rúp coi như tương ứng với mặt bằng 3.900 giá TSCĐ tính từ đôla). + Hệ số tăng vốn phần đầu tư trong nước là 1,3.
Căn cứ cơ cấu hình thành TSCĐ của xí nghiệp, hệ số chung tăng vốn của xí nghiệp là 1,7. + Hệ số hao mòn vô hình là 0,9. Như vậy vốn cố định xí nghiệp phải bảo tòan và là căn cứ tính số thu tiền sử dụng vốn chính thức cho năm sau (năm 1992) là : (530 tr - 50 tr) x 1,7 = 743 tr.đồng Đến năm tiếp theo, số vốn phải bảo tòan lại được xác định trên cơ sở 743 tr.đồng. Như vậy, trên thực tế Nhà nước đã không thu tiền sử dụng vốn trên số vốn phải bảo tòan từ khi phát sinh trượt giá trong năm mà chỉ thu trên số vốn phải bảo tòan tính đến đầu năm. Xí nghiệp căn cứ vào kết quả xác định số vốn phải bảo tòan nói trên để điều chỉnh hạch tóan nâng giá TSCĐ và vốn cố định lên theo hệ số tương ứng. Xí nghiệp có thể chủ động nâng giá TSCĐ từ khi có thay đổi tỷ giá, hoặc điều chỉnh tăng giá TSCĐ cho phù hợp, mà không chờ vào dịp cuối năm khi xét duyệt chính thức số bắt buộc phải bảo tòan. Do đó, thực tế số vốn cố định đã bảo tòan được của xí nghiệp không nhất thiết trùng với số vốn cố định phải bảo tòan giao cho xí nghiệp. Trong năm nếu xí nghiệp thay đổi, làm mất mát, hoặc hư hỏng trước thời hạn phải thanh lý v.v... thì số vốn thực có trên sổ sách cũng sẽ thấp hơn số vốn phải bảo tòan đến cuối năm.
-
Bảo tòan số vốn lưu động. a. Phương thức bảo tòan vốn lưu động là: định kỳ tháng, qúy, năm, đơn vị kinh tế cơ sở phải xác định các khỏan, chênh lệch giá tài sản lưu động định mức hiện có ở xí nghiệp, bao gồm các khâu: vật tư dự trữ, bán thành phẩm, sản phẩm dở dang và thành phẩm (tính theo giá thành) và chênh lệch tỷ giá số dư ngọai tệ (nếu có) - để bổ sung vốn lưu động. Đây là số vốn lưu động thực tế đã bảo tòan được của xí nghiệp. Các khỏan chênh lệch giá đó được xác định trong mọi trường hợp thay đổi giá của vật tư do Nhà nước định và các lọai vật tư mua vào trên cơ sở giá cả thỏa thuận trên thị trường. Trường hợp có tăng giá các lọai vật tư dùng trong sản xuất sản phẩm của xí nghiệp, nhưng đến thời điểm tăng giá không có vật tư dự trữ và do đó không phát sinh chênh lệch thì đơn vị xí nghiệp phải tự bổ sung vốn lưu động từ nguồn vốn tự tạo: qũy khuyến khích phát triển sản xuất trích từ lợi nhuận để lại xí nghiệp. b. Số phải bảo tòan hàng năm về vốn lưu động là hệ số trượt giá (năm) của TSLĐ của từng ngành, từng XN nhân với số vốn lưu động được giao cho xí nghiệp kể từ thời điểm giao vốn. Số vốn phải bảo tòan đến năm báo cáo = Số vốn đã được giao (hoặc đã được bảo tòan) đầu năm x Hệ số trượt giá VLĐ của XN trong năm Hệ số trượt giá VLĐ của XN trong năm căn cứ để thu tiền sử dụng vốn trong nănm là số VLĐ được ngân sách cấp tính từ thời điểm giao vốn đầu năm hoặc số vốn phải bảo tòan đầu năm. Hệ số trượt giá bình quân của VLĐ được xác định phù hợp với đặc điểm cơ cấu TSLĐ từng ngành, từng xí nghiệp trên cơ sở mức tăng giá thực tế cuối năm so với đầu năm của một số vật tư chủ yếu tính theo cơ cấu kế họach (định mức) vốn của từng xí nghiệp. Ví dụ: Một xí nghiệp dệt có số vốn lưu động được giao 1/1/1991 là: 500 tr. đồng Trong đó, phần ngân sách cấp 400 tr.đồng chiếm 80% phần XN tự bổ sung100 tr.đồng chiếm 20% Trong năm 1991, XN nộp tiền sử dụng vốn trên cơ sở 400 tr.đồng Đến 31/12/1991 XN đã tự tăng lên (do tăng giá bông tồn kho) thành 600 tr.đồng Trong đó: Phần NS cấp 480 tr.đồng XN tự bổ sung 120 tr.đồng Đây là số thực tế xí nghiệp đã bảo tòan được. Chúng ta xác định hệ số phải bảo tòan theo giả định như sau : + Giá bông cuối 1991 so với đầu 1991 tăng 1,5 lần. + Trong cơ cấu vốn lưu động định mức (theo KH của XN thì bông chiếm tới 70%. Giả sử rằng chỉ có giá bông tăng, các giá của TSCĐ khác không tăng (bằng 1). Ta có hệ số tăng giá chung của VLĐ như sau : Số vốn lưu động phải bảo tòan đến cuối 1991 là: 500 tr x 1,35 = 675 tr.đồng. Trong đó: Ngân sách cấp : 400 x 1,35 = 540 tr Tự bổ sung: 100 x 1,35 = 135 tr Như vậy năm 1992 xí nghiệp phải nộp tiền sử dụng vốn trên cơ sở vốn 540 tr.đồng. Như trên đã thấy, phần vốn ngân sách cấp xí nghiệp thực tế mới bảo tòan được 480 tr; Số thiếu 60 tr xí nghiệp phải xử lý bổ sung thêm theo quy định ở mục 3 dưới đây. Trường hợp ngược lại, do XN dự trữ nhiều bông vào các thời điểm tăng giá, có thể số thực tế đã bảo tòan được vốn lưu động ngân sách cấp cao hơn số phải bảo tòan (ví dụ 560 tr.đồng). Trường hợp này xí nghiệp không phải nộp tiền sử dụng vốn cho phần chênh lệch tăng thêm (20 triệu đồng). Cơ quan quản lý cấp trên xí nghiệp và cơ quan tài chính (chủ trì) xác định hệ số bảo tòan vốn lưu động hàng năm theo phương pháp nói trên cho từng xí nghiệp vào dịp duyệt quyết tóan năm cho xí nghiệp. Trong khi chưa xác định chính thức số vốn lưu động phải bảo tòan thì cơ quan thuế tạm thu tiền sử dụng vốn trên số thực tế xí nghiệp đã bảo tòan được đến cuối năm báo cáo. Ngòai hệ số trượt giá, số phải bảo tòan về vốn lưu động còn bao gồm cả số ngân sách cấp thêm hoặc coi như ngân sách cấp, hoặc xí nghiệp tự bổ sung trong năm nếu có.
-
Xử lý trách nhiệm bảo tòan vốn. a. Nếu số vốn cố định và vốn lưu động đến cuối năm của xí nghiệp thực tế đã tự bảo tòan được thấp hơn so với số phải bảo tòan như quy định ở mục 1 và 2 nói trên thì xí nghiệp có trách nhiệm xử lý như sau : - Nếu vốn cố định không được bảo tòan do giá trị TSCĐ, chưa được tính đủ thì phải điều chỉnh tăng giá TSCĐ, và do đó nguồn trích khấu hao trong giá thành cũng tăng lên tương ứng (trường hợp xí nghiệp phải lùi mức khấu hao thì cũng không lùi nguyên giá TSCĐ). - Nếu vốn lưu động không được bảo tòan do không tính đủ các khỏan chênh lệch giá vật tư, sản phẩm dở dang, thành phẩm tồn kho thì phải bổ sung thêm các khỏan chênh lệch giá đó. Trường hợp số thiếu hụt về chênh lệch giá đó nằm trong giá thành sản phẩm đã tiêu thụ thì phải điều chỉnh tăng lại giá thành sản phẩm tiêu thụ, giảm lãi xí nghiệp. - Trường hợp không bảo tòan được vốn lưu động do không có vật tư dự trữ và do đó không có chênh lệch giá vào các thời điểm tăng giá thì xí nghiệp có trách nhiệm tự bổ sung bằng nguồn qũy xí nghiệp của mình, trong đó chủ yếu là nguồn qũy khuyến khích phát triển sản xuất của xí nghiệp. - Trường hợp do mất mát, hư hỏng vật tư, tài sản, làm giảm vốn thì phải sử dụng vốn tự có về đầu tư XDCB của xí nghiệp, trong đó có qũy khuyến khích phát triển sản xuất để tự bù đắp. - Trường hợp xí nghiệp có khó khăn trong việc tạo nguồn bảo tòan vốn thì trước hết xí nghiệp phải xử lý bảo tòan vốn ngân sách cấp. Trường hợp không có nguồn qũy khuyến khích phát triển sản xuất để bổ sung vốn thì xí nghiệp phải chuyển phần vốn đã tự bổ sung sang bù đắp đủ cho vốn phải bảo tòan thuộc phần ngân sách cấp. Trường hợp nguồn vốn để tự bổ sung của xí nghiệp cũng không còn thì xí nghiệp có trách nhiệm tự bù đắp trong những năm sau. Đồng thời phân tích nguyên nhân và truy cứu trách nhiệm của giám đốc xí nghiệp (nếu cần). Xí nghiệp có trách nhiệm báo cáo các phương án xử lý các khỏan chênh lệch bảo tòan vốn nói trên với cơ quan quản lý cấp trên và cơ quan tài chính cùng cấp trong dịp xét duyệt quyết tóan hàng năm và do các cơ quan này duyệt y. Mọi tổn thất hao hụt vốn và không bảo tòan được vốn phát sinh trong nhiệm kỳ giám đốc nào thì giám đốc đó phải chịu trách nhiệm trước pháp luật cho đến khi xử lý xong. Các trường hợp không bảo tòan được vốn do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, địch họa ... không thể khắc phục được mặc dù xí nghiệp đã có các biện pháp đề phòng, thì được xem xét cụ thể để xử lý giảm vốn hoặc đưa vào lãi lỗ theo các quy định hiện hành. b. Trường hợp số vốn cố định và vốn lưu động đã bảo tòan được cao hơn số phải bảo tòan thì phần chênh lệch cao hơn đó xí nghiệp không phải nộp tiền sử dụng vốn. Tuy nhiên xí nghiệp không được tính khấu hao vượt quá mức qui định của Nhà nước hoặc chiếm dụng vốn khách hàng để dự trữ vật tư ăn chênh lệch giá. c. Ngòai trách nhiệm bảo tòan vốn, các xí nghiệp có trách nhiệm phát triển vốn trên cơ sở qũy khuyến khích phát triển sản xuất trích từ lợi nhuận để lại xí nghiệp và phần vốn KHCB để lại xí nghiệp dùng để đầu tư XDCB cho xí nghiệp. II. HẠCH TÓAN KẾ TÓAN BẢO TÒAN VỐN CỐ ĐỊNH VÀ VỐN LƯU ĐỘNG
-
Hạch tóan bảo tòan vốn cố định. Số vốn cố định thực tế được bảo tòan phản ánh trong số dư có tài khỏan 80 nguồn vốn cố định (801, 802) và số dư có tài khỏan 82 "Nguồn vốn xây dựng cơ bản" (822). a.
Căn cứ kết quả đánh giá lại TSCĐ (theo quyết định của Nhà nước hoặc xí nghiệp tự đánh giá nhằm bảo tòan vốn cố định): Nợ TK 10 - Tài sản cố định (tăng nguyên giá) Có TK 11 - Hao mòn TSCĐ (tăng hao mòn) Có TK 80 - Nguồn vốn cố định (tăng vốn cố định). b. Cuối năm, khi xét duyệt quyết tóan về bảo tòan vốn cố định, nếu nguồn vốn cố định chưa được bảo tòan đủ so với số phải bảo tòan thì xí nghiệp phải tiếp tục đánh giá lại TSCĐ theo đúng với thực tế, hoặc phải bổ sung bằng qũy khuyến khích phát triển sản xuất v.v... như quy định ở mục 3, phần II nói trên. - Nếu đánh giá lại TSCĐ thì ghi sổ như bút tóan a. - Nếu bổ sung bằng qũy và chênh lệch giá, ghi: Nợ TK 83 - Qũy xí nghiệp (831, 832...) Có TK 82 - nguồn vốn XDCB.
- Hạch tóan bảo tòan vốn lưu động a. Xí nghiệp đánh giá lại vật tư, hàng hóa, sản phẩm, ngọai tệ.. tồn kho theo khả năng bảo tòan vốn lưu động (xí nghiệp tự đánh giá hoặc theo quyết định của Nhà nước). - Nếu tăng giá Nợ TK 20, 21, 22, 23, 24, 25, 50, 51... Có TK 65 - Chênh lệch tỷ giá và chỉ số giá - Nếu giảm giá: ghi ngược lại. b. Bổ sung vốn lưu động (theo số phải bảo tòan) - Bằng chênh lệch giá : Nợ TK 65 - Chênh lệch tỷ giá và chỉ số giá Có TK 81 - nguồn vốn lưu động - Bằng qũy PTSX, qũy dự trữ tài chính: Nợ TK83 - Qũy xí nghiệp Có TK81 - Nguồn vốn lưu động 3. Trong "Bảng tổng kết tài sản ngày 31-12 hàng năm", (báo cáo số 01BCKT - ban hành theo Quyết định số 224 TC/CĐKT ngày 18-4-1990 của Bộ Tài chính) bổ sung thêm chỉ tiêu trong phần "tài liệu bổ sung". - Vốn cố định phải bảo tòan (chỉ tiêu số 101): + Số đầu năm... + Số cuối kỳ... - Vốn lưu động phải bảo tòan (chỉ tiêu số 102): + Số đầu năm... + Số cuối kỳ... Các chỉ tiêu khác (như hệ số tăng, giảm giá, giá trị vốn phải bảo tòan...) đã qui định trong phần "tình hình bảo tòan vốn" của báo cáo số 04/BCKT - Bản giải trình kết quả họat động sản xuất - kinh doanh... phải được tính tóan theo qui định tại Thông tư này và ghi chép đầy đủ trong báo cáo 04 nói trên. IV. ĐIỀU KHỎAN THI HÀNH Chế độ bảo tòan vốn cố định và vốn lưu động theo Thông tư này áp dụng từ năm 1991 trở đi (từ tháng 01-1991). Đợt giao nhận vốn thí điểm 01-10-1990 và giao vốn đại trà vào đầu năm 1991 chưa tính số vốn bảo tòan. Những qui định trước đây và các qui định của các Bộ, các địa phương trái với Thông tư này đều không có hiệu lực thi hành. Trong quá trình thực hiện nếu có khó khăn vướng mắc thì báo cáo Bộ Tài chính để nghiên cứu sửa đổi kịp thời cho phù hợp. Lý Tài Luận (Đã Ký)
Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/thong-tu-so-31-tc-cn-huong-dan-che-do-bao-toan-va-phat-trien-von-san-xuat-kinh-doanh-cua-cac-don-vi-kinh-te-quoc-doanh--11382.
Dịch vụ liên quan
Văn bản liên quan
- Hướng dẫn cơ chế sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước chi thường xuyên hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định tại của Chính phủ
- Sửa đổi, bổ sung và ngưng hiệu lực thi hành một số điều tại các Nghị định quy định về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế
- Sửa đổi, bổ sung một số điều của của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn cơ chế quản lý tài chính đối với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
- Bãi bỏ của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn một số nội dung về Quỹ dự phòng rủi ro, bồi thường thiệt hại về môi trường theo quy định tại của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Bảo vệ môi trường
- Sửa đổi, bổ sung một số điều của của Bộ Tài chính hướng dẫn một số nội dung về xử lý tài chính, xác định giá trị đơn vị sự nghiệp công lập, bán cổ phần lần đầu và quản lý, sử dụng tièn thu từ chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần
- Về cơ chế xử lý tài chính cho Tập đoàn Dầu khí Việt Nam khi thanh toán khoản tiền bù giá trong bao tiêu sản phẩm của Dự án liên hợp lọc hóa dầu Nghi Sơn
- Hướng dẫn một số điều của của Chính phủ về quản lý, sử dụng nguồn thu từ chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập, nguồn thu từ chuyển nhượng vốn nhà nước và chênh lệch vốn chủ sở hữu lớn hơn vốn điều lệ tại doanh nghiệp
- Sửa đổi, bổ sung một số điều của của quy định về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế