Thông tư số 22/TC-GTBĐHướng dẫn chế độ phân phối lợi nhuận và trích lập quỹ xí nghiệp đối với các Bưu điện tỉnh, thành phố

Số hiệu
22/TC-GTBĐ
Loại văn bản
Thông tư
Cơ quan ban hành
Bộ Tài chính
Ngày ban hành
27/08/1986

Toàn văn

THÔNG TƯ Hướng dẫn chế độ phân phối lợ nhuận và trích lập qũy xí nghiệp đối với các bưu điện tỉnh, thành phố Thi hành Quyết định số 76-HĐBT ngày 26-6-1986 của Hội đồng Bộ trưởng quy định tam thời về quyền tự chủ tài chính của các đơn vị kinh tế cơ sở, dựa vào những nguyên tắc về phân phối lợi nhuận trong công nghiệp quốc doanh đã được quy định trong Thông tư số 11-TC/CNA ngày 22- 7- 1986 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Quyết định số 76-HĐBT, Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ phân phối lợi nhuận và trích lập các qũy xí nghiệp cho các bưu điện tỉnh, thành phố, đặc khu và các trung tâm viễn thông, truyền báo, phát hành báo chí... (dưới đây gọi chung là bưu điện tỉnh, thành phố) như sau: I- NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

  1. Bưu điện tỉnh, thành phố là đơn vị kinh tế cơ sở trực thuộc Tổng cục Bưu điện, là xí nghiệp Trung ương nằm tại các tỉnh, thành phố, đặc khu, làm chức năng phục vụ các yêu cầu thông tin liên lạc về bưu chính, điện chính, phát hành báo chí cho các cơ quan Đảng, chính quyền, đòan thể các cấp, các tổ chức kinh tế và nhu cầu sinh họat của nhân dân. Bưu điện tỉnh, thành phố là đơn vị kinh tế của Tổng cục Bưu điện, thực hiện hạch tóan kinh tế đầy đủ. Hàng năm các Bưu điện tỉnh, thành phố được Tổng cục Bưu điện giao chỉ tiêu kế họach giá trị nghiệp vụ Bưu điện, (doanh thu của Bưu điện tỉnh, thành phố do Tổng cục Bưu điện quy định), các khỏan thu nộp ngân sách (thu quốc doanh, lợi nhuận, khấu hao cơ bản...) thuộc chỉ tiêu pháp lệnh Nhà nước giao cho ngành Bưu điện.

Căn cứ để thực hiện phân phối lợi nhuận là lợi nhuận kế họach và lợi nhuận thực hiện của Bưu điện tỉnh, thành phố. - Lợi nhuận kế họach hàng năm của Bưu điện tỉnh, thành phố được xác định trên cơ sở doanh thu kế họach, trừ giá thành kế họach, trừ thu quốc doanh. Ngòai lợi nhuận của sản xuất chính (lợi nhuận thuộc các nghiệp vụ bưu chính, điện chính, phát hành báo chí). Bưu điện tỉnh, thành phố làm đường dây (di chuyển, đặt mới), cho thuê bao ủy thác, hoặc bán phong bì, giấy viết thư, tem chơi, bưu thiếp, bưu ảnh... thì lợi nhuận của các dịch vụ này được coi là lợi nhuận sản xuất phụ. Lợi nhuận sản xuất chính, sản xuất phụ của Bưu điện tỉnh, thành phố đều phải được kế họach hóa trong một kế họach sản xuất - kỹ thuật - tài chính thống nhất. Lợi nhuận thực hiện của Bưu điện tỉnh, thành phố được xác định như sau: Đối với sản xuất chính được xác định trên cơ sở doanh thu thực hiện trừ chi phí thực tế được duyệt, trừ thu quốc doanh, trừ chênh lệch giá (nếu có). Đối với sản xuất phụ được xác định trên cơ sở doanh thu thực tế của sản xuất phụ, trừ chi phí thực tế, trừ thu quốc doanh phải nộp và trừ chênh lệch giá (nếu có).

Căn cứ để tính mức trích qũy xí nghiệp, điều kiện để được trích các qũy xí nghiệp, và phạm vi sử dụng phần lợi nhuận để lại xí nghiệp được áp dụng theo các nguyên tắc quy định tại mục 4 và 5 phần I của Thông tư số 11- TC/CNA ngày 22-7-1986 của Bộ Tài chính. II. PHÂN PHỐI LỢI NHUẬN VÀ TRÍCH LẬP QÚY XÍ NGHIỆP CỦA BƯU ĐIỆN TỈNH, THÀNH PHỐ

  1. Kế họach hóa phân phối lợi nhuận: tổng số lợi nhuận kế họach của Bưu điện tỉnh, thành phố được phân phối theo tỷ lệ: để lại xí nghiệp 50% và nộp ngân sách Nhà nước 50%. Riêng đối với lợi nhuận của sản xuất phụ có sử dụng nguyên vật liệu từ phế liệu, phế phẩm được kế họach hóa để lại xí nghiệp 70% và nộp ngân sách Nhà nước 30%. Tòan bộ phần lợi nhuận để lại Bưu điện tỉnh, thành phố theo kế họach được phân phối cho 3 qũy theo các nguyên tắc quy định tại mục I, phần II Thông tư số 11-TC/CNA ngày 22-7-1986 của Bộ Tài chính.

  2. Thực hiện phân phối lợi nhuận:

a) Trên cơ sở tổng số lợi nhuận kế họach, số lợi nhuận phải nộp ngân sách Nhà nước nói trên được duyệt và trở thành chỉ tiêu pháp lệnh của Nhà nước giao cho Bưu điện tỉnh, thành phố. Số lợi nhuận phải nộp ngân sách Nhà nước theo kế họach hàng năm được phân thành 4 qúy. Bưu điện tỉnh, thành phố có nhiệm vụ nộp đều đặn hàng tháng vào ngân sách Nhà nước (ngân sách Trung ương tại địa phương). Số được trích ba qũy theo kế họach cả năm nói trên được phân làm 4 qúy, Bưu điện tỉnh, thành phố được tạm trích 70% hàng qúy vào mỗi qũy sau khi đã hòan thành việc nộp lợi nhuận, thu quốc doanh vào ngân sách Nhà nước hàng qúy theo kế họach được duyệt, có xác nhận của chi cục thu quốc doanh và quản lý tài chính xí nghiệp Trung ương.

b) Hết năm Bưu điện tỉnh, thành phố được tính tóan đầy đủ số trích lập ba qũy xí nghiệp cả năm. Sau khi có ý kiến tham gia của Bộ Tài chính hoặc Sở Tài chính tỉnh, thành phố, Tổng cục Bưu điện xét duyệt quyết tóan đồng thời xét duyệt chính thức số trích lập các qũy xí nghiệp cho Bưu điện tỉnh, thành phố. Số trích lập các qũy xí nghiệp cả năm của Bưu điện tỉnh, thành phố được thực hiện như sau: - Số lợi nhuận trong phạm vi kế họach được duyệt của sản xuất chính được phân phối như quy định ở mục 1 phần II nói trên: 50% nộp ngân sách Nhà nước, 50% để lại xí nghiệp. - Lơi nhuận vượt kế họach của sản xuất chính được phân phối: 20% nộp ngân sách, 80% để lại xí nghiệp. - Lợi nhuận của sản xuất phụ không kể trong mức kế họach hay vượt mức kế họach đều phân phối: 30% nộp ngân sách, 70% để lại xí nghiệp. Trừơng hợp Bưu điện tỉnh, thành phố không hòan thành kế họach nộp lợi nhuận của sản xuất chính (trên cơ sở của số lợi nhuận thực hiện) thì số lợi nhuận sản xuất phụ phải nộp ngân sách 50%, để lại xí nghiệp 50%. Tổng số lợi nhuận để lại xí nghiệp (gồm lợi nhuận trong kế họach, lợi nhuận vượt kế họach và lợi nhuận của sản xuất phụ) được phân phối theo ba qũy như quy định ở mục I, phần II, sau khi trừ các khỏan phải nộp phạt về vi phạm hợp đồng kinh tế, vi phạm quản lý tiền mặt, vi phạm chất lượng thông tin, thanh tóan các khỏan chi bất hợp lý (như chi phí tiêu cực, lãng phí v.v...). Nếu Bưu điện tỉnh, thành phố không hòan thành 2 chỉ tiêu pháp lệnh chủ yếu cả năm nói sau đây: - Giá trị nghiệp vụ Bưu điện (doanh thu); - Các khỏan phải nộp ngân sách Nhà nước, thì cứ mỗi phần trăm không hòan thành chỉ tiêu thứ nhất phải trừ đi 2% số tiền được trích vào mỗi qũy (ba qũy) và mỗi phần trăm không hòan thành chỉ tiêu thứ hai phải trừ đi 3% số tiền được trích vào mỗi qũy (ba qũy). Mức độ hòan thành kế họach chỉ tiêu các khỏan phải nộp ngân sách được xác định theo hướng dẫn tại mục 2, phần II Thông tư số 11-TC/CNA ngày 22-7-1986 của Bộ Tài chính. Nếu Bưu điện tỉnh, thành phố để xảy ra chất lượng thông tin bưu điện trong năm kém và vi phạm những chính sách quản lý kinh tế tài chính như vi phạm chế độ báo cáo kế tóan thống kê, nộp không đều đặn và kịp thời các khỏan phải nộp ngân sách Nhà nước, làm thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, của nhân dân (như làm mất bưu phẩm, bưu kiện) thì cứ mỗi lọai vi phạm tùy theo mức độ vi phạm phải trừ từ 2 đến 5% số tiền được trích vào mỗi qũy (ba qũy). Số phạt trừ nói trên phải được nộp vào ngân sách Nhà nước. Điều kiện để bưu điện tỉnh, thành phố được trích đủ (100% ) số lợi nhuận để lại xí nghiệp lập ba qũy theo những quy định trên là Bưu điện tỉnh, thành phố phải hòan thành 100% số lợi nhuận phải nộp vào ngân sách Nhà nước (có xác nhận của cơ quan tài chính cùng cấp), trên cơ sở số liệu xét duyệt quyết tóan hàng năm cho xí nghiệp.

  1. Việc sử dụng các qũy xí nghiệp ở Bưu điện tỉnh, thành phố được quy định như sau: Bưu điện tỉnh, thành phố sử dụng qũy phát triển sản xuất để bổ sung cho các nhu cầu về tăng vốn lưu động, vốn tự có về đầu tư xây dựng cơ bản theo chiều sâu, phát triển mở rộng mạng lưới thông tin, phát triển sản xuất phụ. Ngòai ra Bưu điện tỉnh, thành phố trích một phần qũy phát triển sản xuất nộp lên Tổng cục Bưu điện để lập qũy dự trữ tài chính tập trung của tòan ngành (tỷ lệ phải nộp cho từng Bưu điện tỉnh, thành phố do Tổng cục Bưu điện quy định cụ thể). Qũy dự trữ tài chính tập trung ở Tổng cục Bưu điện được sử dụng để hỗ trợ kịp thời những khó khăn bất thường về tài chính của Bưu điện tỉnh, thành phố theo nguyên tắc hòan lại hoặc không hòan lại do Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện quyết định. Ngòai ra khi cần thiết, Tổng cục Bưu điện có thể huy động một phần qũy phúc lợi của Bưu điện tỉnh, thành phố để xây dựng công trình phúc lợi chung của ngành (nhà nghỉ mát, viện điều dưỡng, nhà truyền thống...) Bưu điện tỉnh, thành phố trích 1% qũy khen thưởng và phúc lợi nộp lên Tổng cục bưu điện để lập qũy Tổng cục trưởng. Qũy Tổng cục trưởng sử dụng theo chế độ qũy Bộ trưởng (Bộ Tài chính sẽ có văn bản hướng dẫn riêng). Qũy khen thưởng và qũy phúc lợi của Bưu điện tỉnh, thành phố sau khi trích nộp lên Tổng cục để lập qũy Tổng cục trưởng, qũy phúc lợi tập trung, số còn lại được sử dụng chi cho khen thưởng và phúc lợi của xí nghiệp theo chế độ hiện hành. Trường hợp vượt quá mức quy định thì xử lý theo các nguyên tắc được quy định ở mục 5, phần II Thông tư số 11-TC/CNA ngày 22-7- 1986 của Bộ Tài chính. III- ĐIỀU KHỎAN THI HÀNH

Căn cứ vào kế họach sản xuất - kỹ thuật - tài chính của Nhà nước giao cho ngành bưu điện, Tổng cục bưu điện giao kế họach tài chính cho các bưu điện tỉnh, thành phố trong đó có kế họach phân phối lợi nhuận. Tổng cục bưu điện chịu trách nhiệm về việc giao kế họach lợi nhuận, nộp ngân sách Nhà nước của các bưu điện tỉnh, thành phố cộng lại không thấp hơn tổng số lợi nhuận nộp ngân sách Nhà nước trong kế họach thu chi tài chính Nhà nước đã giao cho ngành bưu điện. Nếu thấp hơn thì cứ mỗi phần trăm giao thấp hơn phải trừ 2% tổng số qũy Tổng cục trưởng được trích trong năm. Số giảm trừ này phải nộp vào ngân sách Nhà nước.

  1. Các Bưu điện tỉnh, thành phố phải đăng ký kế họach trích lập ba qũy có phân bổ ra từng qúy với cơ quan tài chính cùng cấp và ngân hàng địa phương và được trích hàng qúy như quy định ở mục I, phần II Thông tư này.

  2. Khi duyệt quyết tóan chính thức hàng năm cho Bưu điện tỉnh, thành phố, Tổng cục Bưu điện và Bộ Tài chính với sự tham gia của cán bộ chuyên quản tài chính xí nghiệp tại địa phương duyệt số lợi nhuận chính thức để lại xí nghiệp trích lập ba qũy và các nhu cầu khác như quy định ở mục 2 và 3, phần II Thông tư này và xác định số lợi nhuận nộp ngân sách Nhà nước. Nếu Bưu điện tỉnh, thành phố sử dụng quá số lợi nhuận để lại được duyệt thì phải trừ vào số trích của năm sau và ngược lại, nếu thiếu được trích thêm.

  3. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 7 năm 1986 và được áp dụng cho việc phân phối lợi nhuận cả năm 1986 của Bưu điện tỉnh, thành phố. Những quy định trước đây trái với Thông tư này đều bãi bỏ. Hồ Tế (Đã Ký)

Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/thong-tu-so-22-tc-gtbd-huong-dan-che-do-phan-phoi-loi-nhuan-va-trich-lap-quy-xi-nghiep-doi-voi-cac-buu-dien-tinh-thanh-pho--2896.

Dịch vụ liên quan

Văn bản liên quan