Thông tư số 11/TC-CNAHướng dẫn chế độ phân phối lợi nhuận và trích lập quỹ xí nghiệp trong công nghiệp quốc doanh

Số hiệu
11/TC-CNA
Loại văn bản
Thông tư
Cơ quan ban hành
Bộ Tài chính
Ngày ban hành
22/07/1986

Toàn văn

THÔNG TƯ CỦA BỘ TÀI CHÍNH SỐ 11-TC/CNA NGÀY 22-7-1986 HƯỚNG DẪN CHẾ ĐỘ PHÂN PHỐI LỢI NHUẬN VÀ TRÍCH LẬP QŨY XÍ NGHIỆP TRONG CÔNG NGHIỆP QUỐC DOANH. Thi hành Quyết định số 76-HĐBT ngày 6-6-1986 của Hội đồng Bộ trưởng quy định tạm thời quyền tự chủ tài chính của các đơn vị kinh tế cơ sở, Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ phân phối lợi nhuận và trích lập qũy xí nghiệp trong công nghiệp quốc doanh như sau: I- NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

  1. Chế độ phân phối lợi nhuận xí nghiệp được quy định dựa trên lợi nhuận thực sự làm ra của xí nghiệp, khi phân phối có tính đến mức hòan thành các chỉ tiêu pháp lệnh được duyệt; vận dụng nguyên tắc phân phối theo lao động và sự công bằng xã hội giữa các đơn vị xí nghiệp và giữa các ngành kinh tế, bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa ba lợi ích là lợi ích Nhà nước, lợi ích tập thể xí nghiệp và lợi ích cá nhân người lao động, sử dụng lợi nhuận như một đòn bẩy kinh tế quan trọng để không ngừng thúc đẩy sản xuất phát triển và kinh doanh có hiệu quả.

Căn cứ để thực hiện chế độ phân phối lợi nhuận là số lợi nhuận kế họach và lợi nhuận thực tế đạt được của đơn vị xí nghiệp. - Lợi nhuận kế họach hàng năm của xí nghiệp được xác định trên cơ sở tổng doanh thu kế họach tính theo giá bán của sản phẩm (sau khi đã trừ đi các khỏan chênh lệch giá nếu có); trừ đi giá thành kế họach và thu quốc doanh và thuế phải nộp. Lợi nhuận sản xuất chính, sản xuất phụ bằng phế liệu, phế phẩm và các khỏan lợi nhuận khác (như lợi nhuận sản xuất phụ trợ và cung cấp lao vụ cho bên ngòai, lợi nhuận kinh doanh ngòai cơ bản...) phải được kế họach hóa trong một kế họach sản xuất - kỹ thuật - tài chính thống nhất của xí nghiệp. - Lợi nhuận thực hiện của xí nghiệp bao gồm các khỏan lợi nhuận của các phần sản xuất nói trên và được xác định trên cơ sở tổng doanh thu thực hiện trừ đi giá thành thực tế được duyệt, trừ đi thu quốc doanh (kể cả khỏan thu quốc doanh bổ sung) hoặc thuế và khỏan thu về chênh lệch giá nếu có.

  1. Ngòai khỏan lợi nhuận sản xuất phụ bằng phế liệu, phế phẩm được phân phối theo những tỷ lệ khuyến khích, các khỏan lợi nhuận còn lại được phân phối theo những tỷ lệ thống nhất. Để khuyến khích xí nghiệp hòan thành vượt mức kế họach được duyệt, phần vượt kế họach về lợi nhuận được khuyến khích với tỷ lệ phần trăm để lại xí nghiệp cao hơn Ngược lại nếu xí nghiệp không hòan thành các chỉ tiêu pháp lệnh chủ yếu của Nhà nước thì sẽ bị phạt trừ vào phần lợi nhuận để lại xí nghiệp, nhằm tránh tình trạng xí nghiệp chỉ chạy theo lợi nhuận, hạch tóan tăng lợi nhuận trong khi không hòan thành các chỉ tiêu sản lượng và chất lượng sản phẩm.

Căn cứ để tính mức trích qũy xí nghiệp là lợi nhuận thực hiện của xí nghiệp. Còn điều kiện để được trích lập qũy xí nghiệp là lợi nhuận nộp ngân sách Nhà nước và các chỉ tiêu pháp lệnh chủ yếu khác. Xí nghiệp thực hiện việc trích lập 3 qũy kịp thời ngay từng qúy trong năm, sau khi hòan thành nghĩa vụ thu nộp ngân sách Nhà nước theo kế họach.

  1. Mở rộng hơn phạm vi sử dụng lợi nhuận, phạm vi sử dụng qũy khuyến khích phát triển sản xuất, qũy phúc lợi, qũy khen thưởng nhằm nâng cao quyền tự chủ của xí nghiệp trong việc sử dụng phần lợi nhuận để lại xí nghiệp. II- PHÂN PHỐI LỢI NHUẬN VÀ TRÍCH LẬP QŨY XÍ NGHIỆP

  2. Kế họach hóa phân phối lợi nhuận: Tổng số lợi nhuận kế họach của xí nghiệp được phân phối theo tỷ lệ để lại xí nghiệp 50% và nộp ngân sách Nhà nước 50% . Riêng đối với lợi nhuận kế họach của sản phẩm sản xuất phụ bằng phế liệu phế phẩm, xí nghiệp được kế họach hóa để lại xí nghiệp 70% và nộp ngân sách Nhà nước 30%. Tòan bộ phần lợi nhuận để lại xí nghiệp theo kế họach được phân cho 3 qũy, theo tỷ lệ quy định như sau: Cho qũy khuyến khích phát triển sản xuất từ 35% đến 50%. Mức cụ thể trong khỏang từ 35 đến 50% do Bộ, Sở chủ quản quy định cho phù hợp với yêu cầu và đặc điểm sản xuất của từng xí nghiệp, từng ngành. Số còn lại trích vào 2 qũy khen thưởng và phúc lợi, trong đó 2/ 3 cho qũy khen thưởng và khỏang 1/3 cho qũy phúc lợi. Mức trích cụ thể do giám đốc xí nghiệp quyết định sau khi có ý kiến tham gia của công đòan cơ sở. Xí nghiệp không được lấy phần lợi nhuận và phần khấu hao cơ bản phải nộp ngân sách Nhà nước, hoặc các khỏan phải nộp khác để trả nợ tiền vay ngân hàng về đầu tư mua sắm tài sản cố định.

  3. Thực hiện phân phối lợi nhuận: Trên cơ sở tổng số lợi nhuận kế họach, số lợi nhuận phải nộp ngân sách của xí nghiệp nói trên được duyệt và trở thành chỉ tiêu kế họach pháp lệnh của Nhà nước giao cho xí nghiệp. Số lợi nhuận phải nộp ngân sách Nhà nước theo kế họach được phân thành 4 qúy và xí nghiệp có nhiệm vụ nộp đều hàng tháng (hoặc theo định kỳ do đặc điểm chu kỳ sản xuất sản phẩm) vào ngân sách Nhà nước. Số được trích 3 qũy theo kế họach cả năm được phân ra làm 4 qúy và xí nghiệp được tạm trích 70% hàng qúy vào mỗi qũy sau khi đã hòan thành việc nộp lợi nhuận và các khỏan thu khác vào ngân sách Nhà nước hàng qúy theo kế họach được duyệt và có ý kiến xác nhận của cơ quan tài chính (chi cục thu quốc doanh và quản lý tài chính xí nghiệp trung ương - đối với các đơn vị xí nghiệp trung ương; hoặc tài chính địa phương - đối với xí nghiệp địa phương). Hết năm khi xét duyệt quyết tóan (bao gồm việc xét duyệt để trích lập chính thức các qũy xí nghiệp), xí nghiệp sẽ được tính tóan đầy đủ số trích lập 3 qũy theo thứ tự như sau: - Tổng số lợi nhuận thực hiện trong phạm vi của số kế họach lợi nhuận đã được duyệt thì phân phối như quy định ở điểm 1, mục II nói trên: 50% nộp vào ngân sách Nhà nước, 50% để lại xí nghiệp đối với sản xuất chính; đối với phần sản xuất phụ bằng phế liệu phế phẩm: 30% nộp ngân sách, 70% để lại xí nghiệp. Trường hợp xí nghiệp không hòan thành kế họach nộp lợi nhuận của sản xuất chính (trên cơ sở của số lợi nhuận thực hiện) thì số lợi nhuận sản xuất phụ phải nộp ngân sách 50%, để lại xí nghiệp 50%. Tỷ lệ phân phối lợi nhuận của sản xuất phụ được áp dụng chung cho cả phần trong kế họach và vượt kế họach. - Lợi nhuận thực hiện vượt kế họach của phần sản xuất chính (kể cả sản xuất phụ trợ hoặc lao vụ cho bên ngòai và kinh doanh ngòai cơ bản nếu có) được phân phối như sau: Đối với các ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm... (gọi chung là công nghiệp B): lợi nhuận vượt kế họach nộp ngân sách Nhà nước 40%, để lại xí nghiệp 60%. Đối với các ngành công nghiệp nặng, khai thác gỗ, đánh cá biển... (gọi chung là công nghiệp A): nộp ngân sách Nhà nước 20%, để lại xí nghiệp 80%. Phần lợi nhuận để lại xí nghiệp (kể cả trong kế họach và vượt kế họach) được phân phối cho 3 qũy theo các tỷ lệ quy định ở điểm 1, mục II sau khi trừ đi các khỏan phải nộp phạt về vi phạm hợp đồng kinh tế, phạt vi phạm kỷ luật tiền mặt, tín dụng, thanh tóan... chi trả các khỏan bất hợp lý, bất hợp lệ không được hạch tóan vào giá thành như các khỏan chi phí tiêu cực, lãng phí... Nếu xí nghiệp không hòan thành 3 (hoặc 2, hoặc 1 tùy theo lọai xí nghiệp) chỉ tiêu kế họach pháp lệnh chủ yếu cả năm nói sau đây: - Giá trị sản lượng hàng hóa thực hiện (trong đó ghi rõ kim ngạch xuất khẩu nếu có). - Sản phẩm chủ yếu với quy cách và chất lượng quy định theo kế họach và hợp đồng (trong đó ghi rõ phần cho quốc phòng và cho xuất khẩu nếu có). - Các khỏan nộp ngân sách (gồm lợi nhuận và các khỏan nộp khác), thì cứ mỗi phần trăm, không hòan thành về 1 trong 2 chỉ tiêu thứ nhất và thứ 2 phải trừ đi 2% số tiền được trích cho mỗi qũy (3 qũy) và mỗi phần trăm không hòan thành chỉ tiêu thứ 3, phải trừ đi 3% số tiền được trích cho mỗi qũy. Khi đánh giá mức độ hòan thành kế họach chỉ tiêu các khỏan nộp ngân sách, cần phải so sánh tổng số các khỏan nộp thực tế với tổng số các khỏan nộp theo kế họach, bao gồm số nộp lợi nhuận, thu quốc doanh, hoặc thuế, khấu hao cơ bản phải nộp và các khỏan phải nộp khác như chênh lệch giá nếu có v.v... và các khỏan nộp thực tế đó chỉ được xác nhận trong phạm vi của số phát sinh phải nộp. Ví dụ: Các khỏan phải nộp Theo kế họach Theo thực tế Số đánh giá mức độ hòan thành kế họach nộp Ngân sách Tổng số phát sinh Số phải nộp Tổng số phát sinh Số phải nộp Số đã nộp trong năm Tổng số % Lợi nhuận Thu quốc doanh Khấu hao cơ bản 10 12 6 5 12 3 8 13 4 4 13 2 5 12 2 4 12 2 Cộng 28 20 25 19 19 18 18x100 ---------= 90% 20 ³ Ngòai ra, nếu xí nghiệp vi phạm chế độ, chính sách quản lý kinh tế tài chính của Nhà nước như vi phạm các chế độ báo cáo thống kê kế tóan, nộp không đều đặn và kịp thời các khỏan phải nộp vào ngân sách Nhà nước, kể cả các khỏan phải nộp vượt kế họach v.v... thì cứ mỗi vi phạm sẽ tùy theo mức độ vi phạm mà giảm trừ từ 2 đến 5% số tiền được trích cho mỗi qũy (3 qũy). Các số phạt trừ nói trên vào 3 qũy của xí nghiệp phải nộp vào ngân sách nhà nước. Điều kiện về thời điểm xí nghiệp được trích đủ (100%) số lợi nhuận để lại xí nghiệp lập 3 qũy theo những quy định nói trên là xí nghiệp phải hòan thành 100% số lợi nhuận phải nộp vào ngân sách Nhà nước theo quy định (có xác nhận của cơ quan tài chính cùng cấp) trên cơ sở số liệu xét duyệt quyết tóan hàng năm cho xí nghiệp.

  4. Đối với những xí nghiệp có lỗ theo chính sách : Đối với những xí nghiệp có lỗ theo chính sách giá cả của Nhà nước quy định và nằm trong danh mục những xí nghiệp được nhà nước cho phép cấp bù lỗ, thì áp dụng phương thức phân phối lợi nhuận như sau : Xí nghiệp được hưởng mức trích cơ bản vào 2 qũy khen thưởng và phúc lợi là 2 tháng lương cơ bản thực hiện trong năm, trong đó khỏang 2/3 cho qũy khen thưởng và khỏang 1/3 cho qũy phúc kợi. Mức trích cơ bản vào qũy khuyến khích phát triển sản xuất của xí nghiệp được tính bằng 1% nguyên giá tài sản cố định bình quân đang dùng trong năm và tài sản lưu động trong định mức. Nếu xí nghiệp không hòan thành 2 (hoặc 1 tùy theo lọai xí nghiệp) chỉ tiêu kế họach pháp lệnh chủ yếu cả năm nói dưới đây, thì cứ mỗi phần trăm không hòan thành về một chỉ tiêu phải trừ đi 2% số tiền được trích nói trên cho mỗi qũy (3 qũy) : - Giá trị sản lượng hàng hóa thực hiện (trong đó ghi rõ kim ngạch xuất khẩu nếu có). Sản phẩm chủ yếu với quy cách và chất lượng quy định theo kế họach và hợp đồng (trong đó ghi rõ phần cho quốc phòng và cho xuất khẩu nếu có). Đối với chỉ tiêu lỗ thực hiện (kể cả các khỏan tiền phạt do vi phạm hợp đồng kinh tế, phạt vi phạm kỷ luật tiền mặt, tín dụng, thanh tóan các khỏan chi bất hợp lý, bất hợp lệ không được hạch tóan vào giá thành như các khỏan chi phí tiêu cực lãng phí...), cứ mỗi phần trăm tăng lỗ so với kế họach phải trừ đi 3% số tiền được trích cho mỗi qũy (3 qũy). Khi đánh giá mức độ hòan thành chỉ tiêu này, xí nghiệp được lọai trừ khỏan lỗ tăng do tăng sản lượng tiêu thụ. Nếu xí nghiệp vi phạm chế độ chính sách quản lý kinh tế - tài chính của Nhà nước như vi phạm các chế độ báo cáo thống kê kế tóan, nộp không đầy đủ không đều đặn và kịp thời các khỏan phải nộp vào ngân sách nhà nước, kể cả các khỏan phải nộp vượt kế họach, thì cứ mỗi vi phạm sẽ tùy theo mức độ vi phạm mà giảm từ 2 đến 5% số tiền được trích cho mỗi qũy (3 qũy). Nếu xí nghiệp có giảm lỗ kế họach do phấn đấu chủ quan làm hạ giá thành sản phẩm thì được coi số giảm lỗ như lãi vượt kế họach và được trích thêm vào 3 qũy với mức trích tổng số bằng 60% số đã giảm lỗ so với kế họach. Mức phân bổ vào mỗi qũy như quy định ở điểm 1 nói trên đối với các xí nghiệp có lãi kế họach. Các xí nghiệp lọai này cũng được tạm cấp 70% số trích vào 3 qũy theo kế họach hàng qúy, sau khi hòan thành chỉ tiêu kế họach lỗ và các khỏan nộp ngân sách và có ý kiến xác nhận của cơ quan thu quốc doanh hoặc tài chính địa phương. Số chính thức được cấp để trích lập ba qũy theo những quy định nói trên sẽ dựa trên cơ sở số liệu xét duyệt quyết tóan hàng năm cho xí nghiệp.

  5. Việc trích từ các qũy khuyến khích phát triển sản xuất, qũy phúc lợi và qũy khen thưởng của xí nghiệp để lập các qũy nghiên cứu khoa học kỹ thuật tập trung, qũy dự trữ tài chính và qũy Bộ trưởng ở các cơ quan quản lý cấp trên được quy định như sau: - Ngòai mục đích sử dụng qũy khuyến khích phát triển sản xuất để bổ sung cho nhu cầu tăng vốn lưu động, vốn tự có về đầu tư xây dựng cơ bản theo chiều sâu, phát triển mặt hàng mới, mở rộng sản xuất chính và sản xuất phụ, xí nghiệp nộp một phần lên cơ quan quản lý cấp trên để lập qũy nghiên cứu khoa học kỹ thuật tập trung theo kế họach hàng năm của xí nghiệp (có chế độ quy định riêng về qũy này); dành từ 1 đến 3% để lập qũy dự trữ tài chính tập trung ở các cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp như tổng công ty, liên hiệp các xí nghiệp (không hạch tóan kinh tế tập trung) hoặc bộ chủ quản. Mức cụ thể (từ 1 đến 3%) do các cơ quan quản lý cấp trên đó quy định căn cứ vào nhu cầu cụ thể của từng ngành. ở cấp bộ được lập qũy dự trữ tài chính tập trung bằng nguồn trích từ qũy khuyến khích phát triển sản xuất của những đơn vị trực thuộc hạch tóan kinh tế độc lập (các tổng công ty, liên hiệp xí nghiệp không phải là những đơn vị hạch tóan kinh tế tập trung đã được trích lập qũy dự trữ tài chính thì không phải nộp lên bộ chủ quản để lập qũy này ở cấp Bộ). Đối với các đơn vị xí nghiệp địa phương, qũy dự trữ tài chính chỉ được lập ở các liên hiệp xí nghiệp, công ty không hạch tóan kinh tế tập trung; không lập qũy này ở các sở chủ quản. Qũy dự trữ tài chính tập trung ở tổng công ty, liên hiệp xí nghiệp hoặc bộ chủ quản được sử dụng để hỗ trợ kịp thời những khó khăn bất thường về tài chính cho các đơn vị xí nghiệp cơ sở trực thuộc theo nguyên tắc cấp phát có hòan lại hoặc không hòan lại do cơ quan chủ quản cấp trên có qũy đó quyết định. - Dành 1% qũy phúc lợi và qũy khen thưởng của xí nghiệp để lập qũy Bộ trưởng. Nếu cấp trên trực tiếp của xí nghiệp là liên hiệp các xí nghiệp, tổng công ty không phải là những đơn vị hạch tóan kinh tế tập trung thì 1% đó được tách làm hai phần: 0,5% để lập qũy tổng giám đốc liên hiệp các xí nghiệp, tổng giám đốc công ty và 0,5% được chuyển lên bộ để lập qũy bộ trưởng. Trường hợp liên hiệp các xí nghiệp, tổng công ty là những đơn vị hạch tóan kinh tế tập trung thì phải dành 1% qũy phúc lợi và qũy khen thưởng của mình để lập qũy Bộ trưởng (có chế độ riêng về qũy Bộ trưởng).

  6. Không hạn chế mức tối đa qũy khen thưởng và qũy phúc lợi, nhưng khi tổng số trích vào 2 qũy đó vượt quá 50% qũy lương cơ bản thực hiện cả năm của công nhân viên chức các xí nghiệp thì số trích vượt tính từ trên mức 50% qũy lương cơ bản trở đi được phân phối như sau : - Từ trên 50 đến 70% qũy lương cơ bản thực hiện, xí nghiệp phải nộp ngân sách Nhà nước 50% và 10% nộp cơ quan quản lý cấp trên để lập qũy dự trữ tài chính; số còn lại 40% bổ sung vào các qũy xí nghiệp do Giám đốc xí nghiệp quyết định. - Từ trên 70% qũy lương cơ bản thực hiện trở đi, xí nghiệp phải nộp ngân sách Nhà nước 70% và 10% nộp lên cơ quan quản lý cấp trên để lập qũy dự trữ tài chính ; số còn lại 20% bổ sung vào các qũy xí nghiệp do giám đốc xí nghiệp quyết định.

  7. Mức trích qũy khen thưởng và qũy phúc lợi bình quân trên đầu người của cơ quan liên hiệp xí nghiệp, tổng công ty không phải là những đơn vị hạch tóan kinh tế tập trung (không thuộc đối tượng xét trích lập 3 qũy xí nghiệp) bằng mức trích bình quân thực tế đạt được 2 qũy đó trên đầu người tổng số công nhân viên của các đơn vị xí nghiệp trực thuộc, liên hiệp các xí nghiệp và tổng công ty. Nguồn trích lập 2 qũy khen thưởng và phúc lợi của cơ quan liên hiệp xí nghiệp và tổng công ty là qũy khen thưởng và qũy phúc lợi của các đơn vị xí nghiệp trực thuộc trích nộp lên, mức phân bổ cho từng đơn vị xí nghiệp trực thuộc do Giám đốc liên hiệp xí nghiệp, tổng công ty quyết định tùy theo yêu cầu và khả năng cụ thể của từng đơn vị xí nghiệp. III- ĐIỀU KHỎAN THI HÀNH.

Căn cứ vào nhiệm vụ và chỉ tiêu kế họach Nhà nước giao cho ngành chủ quản, ngay từ cuối năm trước hoặc đầu năm kế họach, các cơ quan chủ quản cấp trên (Bộ, sở, tổng công ty, liên hiệp xí nghiệp) phải giao kế họach tài chính cho các đơn vị cơ sở trực thuộc, trong đó có kế họach phân phối lợi nhuận. Các cơ quan chủ quản cấp trên phải giao kế họach lợi nhuận nộp ngân sách Nhà nước cho các xí nghiệp trực thuộc mình không được thấp hơn kế họach Nhà nước giao và phải chịu trách nhiệm về việc hòan thành kế họach nộp lợi nhuận cho Nhà nước. Trường hợp nếu giao kế họach thấp hơn thì cứ mỗi 1% giao hụt kế họach bị phạt trừ 2% tổng số qũy Bộ trưởng (hoặc qũy Tổng giám đốc công ty, liên hiệp xí nghiệp) được trích trong năm. Số bị phạt trừ này phải nộp vào ngân sách Nhà nước.

  1. Các đơn vị cơ sở phải đăng ký kế họach trích lập 3 qũy, có phân bổ ra từng qúy với cơ quan tài chính cùng cấp và ngân hàng địa phương và được trích hàng qúy như quy định ở mục II thông tư này.

  2. Khi duyệt quyết tóan chính thức hàng năm cho đơn vị cơ sở, cơ quan chủ quản và cơ quan tài chính cấp trên với sự tham gia của cán bộ chuyên quản tài chính xí nghiệp tại địa phương duyệt số lợi nhuận chính thức để lại xí nghiệp trích lập 3 qũy và các nhu cầu khác như quy định ở điểm 2, mục II thông tư này và xác định số lợi nhuận nộp ngân sách Nhà nước. Nếu xí nghiệp sử dụng quá số lợi nhuận để lại được duyệt, thì phải trừ vào số trích của năm sau và ngược lại, nếu thiếu được trích thêm.

  3. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1 tháng 7 năm 1986 và được áp dụng cho việc phân phối lợi nhuận cả năm 1986 của các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh trung ương và địa phương thuộc tất cả các ngành kinh tế. Những quy định trước đây trái với Thông tư này đều bãi bỏ. Đối với xí nghiệp quốc doanh thuộc các ngành kinh tế khác (thương nghiệp, vật tư, vận tải, nông trường quốc doanh, v.v...), trên cơ sở những quy định chung nói trên, Bộ Tài chính sẽ có thông tư hướng dẫn riêng cho phù hợp với đặc điểm từng ngành.

Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/thong-tu-so-11-tc-cna-huong-dan-che-do-phan-phoi-loi-nhuan-va-trich-lap-quy-xi-nghiep-trong-cong-nghiep-quoc-doanh--2921.

Dịch vụ liên quan

Văn bản liên quan