Thông tư số 21/TC-CNAHướng dẫn sửa đổi, bổ sung chế độ thu quốc doanh, phân phối lợi nhuận và trích lập các quỹ xí nghiệp theo của Hội đồng Bộ trưởng
- Số hiệu
- 21/TC-CNA
- Loại văn bản
- Thông tư
- Cơ quan ban hành
- Bộ Tài chính
- Ngày ban hành
- 01/09/1982
Toàn văn
THÔNG TƯ CỦA BỘ TÀI CHÍNH SỐ 21/TC-CNA NGÀY 1 THÁNG 9 NĂM 1982 HƯỚNG DẪN SỬA ĐỔI VÀ BỔ SUNG CHẾ ĐỘ THU QUỐC DOANH, PHÂN PHỐI LỢI NHUẬN VÀ TRÍCH LẬP CÁC QŨY XÍ NGHIỆP THEO QUYẾT ĐỊNH SỐ 146-HĐBT NGÀY 25-8-1982 CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG Hội đồng Bộ trưởng đã ra Quyết định số 146-HĐBT ngày 25-8-1982 về việc sửa đổi và bổ sung Quyết định số 25-CP ngày 21-1-1981 của Hội đồng Chính phủ. Bộ Tài chính hướng dãn việc hạch tóan giá thành, xác định mức thu quốc doanh, và thi hành chế độ phân phối lợi nhuận, trích qũy xí nghiệp trong các ngành sản xuất kinh doanh theo quyết định sửa đổi bổ sung trên như sau: I. HẠCH TÓAN GIÁ THÀNH, XÁC ĐỊNH LỢI NHUẬN XÍ NGHIỆP VÀ MỨC THU QUỐC DOANH A. ĐỐI VỚI SẢN PHẨM LÀM BẰNG VẬT TƯ CHỦ YẾU DO NHÀ NƯỚC CUNG ỨNG Việc hạch tóan giá thành xác định các khỏan lợi nhuận định mức, lợi nhuận kế họach, lợi nhuận thực tế và mức thu quốc doanh theo đúng chế độ hiện hành, trên cơ sở giá chỉ đạo của Nhà nước. B. ĐỐI VỚI SẢN PHẨM LÀM BẰNG VẬT TƯ TỰ TÌM KIẾM ĐỂ XÂY DỰNG THÊM PHẦN KẾ HỌACH BỔ SUNG
-
Hạch tóan chi phí sản xuất và giá thành đơn vị sản phẩm: Về nguyên tắc, sản lượng và giá thành sản phẩm làm bằng vật tư tự tìm kiếm, xí nghiệp phải hạch tóan riêng trên cơ sở tính đủ chi phí theo giá nguyên vật liệu thực tế thu mua, tính đủ khấu hao cơ bản, khấu hao sửa chữa lớn và các chi phí khác theo quy định thống nhất của Nhà nước. Việc hạch tóan riêng giá thành sản phẩm làm bằng vật tư tự tìm kiếm được thực hiện bằng nhiều phương pháp hạch tóan khác nhau tùy theo điều kiện cụ thể của từng xí nghiệp. Đối với những xí nghiệp có một trong những điều kiện sau đây: - Tổ chức dây chuyền sản xuất riêng; - Sử dụng vật tư khác chủng lọai với vật tư Nhà nước cung ứng; - Sản xuất ra sản phẩm không cùng mặt hàng với sản phẩm được Nhà nước cung ứng vật tư thì việc hạch tóan riêng giá thành sản phẩm được thực hiện từ khâu ghi chép ban đầu đến khâu tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành đơn vị sản phẩm; Đối với những xí nghiệp không có các điều kiện trên và sản xuất ra những sản phẩm trong đó vừa có vật tư do Nhà nước cung ứng, vừa có vật tư tự tìm kiếm thêm thì sản lượng sản phẩm sản xuất ở phần kế họach do Nhà nước cung ứng vật tư và phần kế họach bổ sung bằng vật tư tự tìm kiếm được xác định theo tỷ trọng của mỗi phần chi phí vật tư tương ứng (tính theo số lượng hoặc theo giá chỉ đạo thống nhất) đã tham gia vào việc sản xuất ra sản phẩm đó. Để giảm bớt công việc tính tóan phức tạp không cần thiết mà vẫn bảo đảm mức độ chính xác của số liệu hạch tóan, việc hạch tóan riêng giá thành sản phẩm trong trường hợp này có thể thực hiện như sau: tòan bộ các chi phí sản xuất bao gồm cả chi phí vật tư tự tìm kiếm đều được hạch tóan theo giá chỉ đạo. Phần chênh lệch giá của vật tư tự tìm kiếm, xí nghiệp hạch tóan riêng và tính phân bổ vào giá thành đơn vị sản phẩm thuộc phần kế họach bổ sung. Giá thành đơn vị sản phẩm thuộc phần kế họach bổ sung là giá thành sản phẩm theo giá chỉ đạo cộng hoặc trừ ( ± ) thêm khỏan chênh lệch giá vật tư tự tìm kiếm, công thức tính như sau: Giá thành đơn vị sản phẩm thuộc kế họach bổ sung bằng vật tư tự tìm kiếm = Giá thành đơn vị sản phẩm theo giá chỉ đạo ± Chênh lệch giá vật tư tự tìm kiếm 2. Lợi nhuận định mức của phần kế họach bổ sung: Lợi nhuận định mức của sản phẩm làm bằng vật tư tự tìm kiếm được tính bằng lợi nhuận định mức tính theo số tuyệt đối cho sản phẩm cùng lọai làm bằng vật tư do Nhà nước cung ứng. Trường hợp sản phẩm làm bằng vật tư tự tìm kiếm không trùng với mặt hàng sản xuất tại xí nghiệp bằng vật tư do Nhà nước cung ứng nên không có sẵn lợi nhuận định mức để áp dụng thì được áp dụng lợi nhuận định mức của sản phẩm cùng lọai do xí nghiệp khác sản xuất. Nếu ở xí nghiệp khác cũng không có sản phẩm trùng với lọai sản xuất bằng vật tư tự tìm kiếm thì được áp dụng lợi nhuận định mức của sản phẩm tương tự của xí nghiệp sau khi đã trừ yếu tố biến động của nguyên vật liệu. Thí dụ: Xí nghiệp bột giặt có mặt hàng chính làm bằng nguyên vật liệu Nhà nước cung ứng là bột giặt với giá thành đã trừ nguyên vật liệu là Z (B) và lợi nhuận định mức là L(B) (tính bằng số tuyệt đối). Nhưng có sản phẩm làm bằng nguyên liệu vật tự tự tìm kiếm là kem đánh răng, với giá thành đã trừ nguyên vật liệu là Z (K) thì lợi nhuận định mức L(K) của kem đánh răng làm bằng vật tư tự tìm kiếm sẽ là: L (B) x Z (K) L(K) = Z (B)
-
Giá bán buôn xí nghiệp của sản phẩm làm bằng vật tư tự tìm kiếm: Sau khi xác định được giá thành hợp lý của sản phẩm làm bằng vật tư tự tìm kiếm (được tính đủ theo giá nguyên vật liệu tự tìm kiếm) và xác định được lãi định mức cho đơn vị sản phẩm thì giá bán buôn xí nghiệp được tính theo công thức sau đây: Giá bán buôn xí nghiệp = Giá thành đơn vị sản phẩm + Lãi định mức cho đơn vị sản phẩm 4. Giá bán buôn công nghiệp của sản phẩm làm bằng vật tư tự tìm kiếm: Giá bán buôn công nghiệp của sản phẩm làm bằng vật tư chủ yếu do xí nghiệp tự tìm kiếm: Giá bán buôn công nghiệp của sản phẩm làm bằng vật tư tự tìm kiếm: Giá bán buôn công nghiệp của sản phẩm làm bằng vật tư chủ yếu do xí nghiệp tự tìm kiếm được tính bằng giá bán buôn công nghiệp của sản phẩm làm bằng vật tư chủ yếu do Nhà nước cung ứng.
-
Xác định mức thu quốc doanh: Chênh lệch giữa giá bán buôn công nghiệp và giá bán buôn xí nghiệp là mức thu quốc doanh. Công thức tính như sau: Mức thu quốc doanh của đơn vị sản phẩm = Giá bán buôn công nghiệp Giá bán buôn xí nghiệp Trường hợp sản phẩm sản xuất bằng vật tư tự tìm kiếm với giá cao hơn giá chỉ đạo của Nhà nước làm cho giá thành và giá bán buôn xí nghiệp tăng lên thì xí nghiệp vẫn tiêu thụ sản phẩm theo giá bán buôn công nghiệp thống nhất quy định và được cơ quan thu quốc doanh giảm bớt mức nộp tương ứng với mức tăng giá mua vật tư. Ngược lại, nếu vật tư tự tìm kiếm mua theo giá thấp hơn giá chỉ đạo của Nhà nước làm cho giá thành và giá bán buôn xí nghiệp giảm xuống thì mức chênh lệch giá vật tư đó là khỏan thu quốc doanh bổ sung nộp vào ngân sách Nhà nước.
Căn cứ vào phương án giá thành, giá bán buôn xí nghiệp do xí nghiệp xây dựng và giá bán buôn công nghiệp quy định, xí nghiệp phải xác định mức thu quốc doanh của các sản phẩm do xí nghiệp sản xuất và gửi đến cơ quan tài chính xét duyệt. Bộ Tài chính xét duyệt mức thu quốc doanh cho các xí nghiệp Trung ương, các Sở, Ty tài chính xét duyệt mức thu quốc doanh cho các xí nghiệp địa phương. Trường hợp xí nghiệp chưa xây dựng được giá thành, giá bán buôn xí nghiệp, giá bán buôn công nghiệp để làm cơ sở xác định mức thu quốc doanh chính thức thì xí nghiệp (bao gồm cả xí nghiệp Trung ương và xí nghiệp địa phương) phải tạm tính mức thu quốc doanh gửi đến Sở, Ty tài chính tạm duyệt để kịp thời nộp ngân sách khỏan thu quốc doanh đã phát sinh hàng tháng. Khi tiêu thụ sản phẩm, xí nghiệp phải nộp theo mức thu quốc doanh được duyệt. Sau khi quyết tóan qúy, xí nghiệp được tính tóan mức thu quốc doanh thực tế phải nộp cho phù hợp với các khỏan chênh lệch giá đã phát sinh trong phần kế họach bổ sung bằng vật tư tự tìm kiếm. Khi xác định mức thu quốc doanh đối với sản phẩm sản xuất bằng vật tư tự tìm kiếm, nếu giá bán buôn xí nghiệp tăng lên đến mức Nhà nước không còn thu quốc doanh nữa thì xí nghiệp phải báo cáo lên cơ quan chủ quản cấp trên và cơ quan tài chính cùng cấp xem xét và quyết định. Nói chung, xí nghiệp phải bảo đảm bù đắp đủ chi phí sản xuất và kinh doanh không lỗ trong trường hợp sản xuất bằng vật tư tự tìm kiếm (trừ những mặt hàng có chính sách bù lỗ của Nhà nước). Đối với những sản phẩm không thuộc diện thiết yếu của phần kế họach bổ sung bằng vật tư tự tìm kiếm, nếu giá thành thực tế cao hơn giá bán buôn công nghiệp, nhưng trên thực tế xã hội vẫn có nhu cầu và xét thấy thương nghiệp quốc doanh có thể tiêu thụ được giá bán lẻ cao hơn thì xí nghiệp được đề nghị các cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh lại giá bán buôn xí nghiệp và giá bán buôn công nghiệp , để bảo đảm bù đắp được chi phí sản xuất và có lãi cho xí nghiệp. Trường hợp xí nghiệp nhận nguyên vật liệu của một tổ chức quốc doanh khác để gia công thành phẩm thì xí nghiệp nhận gia công được tính lãi định mức và khỏan thu quốc doanh bằng mức thu quốc doanh và lãi định mức của sản phẩm cùng lọai được sản xuất bằng vật tư do Nhà nước cung ứng. Trường hợp xí nghiệp nhận nguyên vật liệu của tổ chức tập thể hay tư nhân để gia công thành phẩm thì xí nghiệp nhận gia công được tính chi phí gia công, lãi định mức và khỏan thuế phải nộp theo chế độ thuế công thương nghiệp hiện hành. Như vậy, các đơn vị, tổ chức hoặc tư nhân đưa gia công phải thanh tóan với xí nghiệp nhận gia công các khỏan chi phí gia công lãi định mức và thu quốc doanh hoặc thuế sản phẩm. Xí nghiệp nhận gia công có nhiệm vụ nộp thu quốc doanh hoặc thuế sản phẩm vào ngân sách Nhà nước thay cho các đơn vị , tổ chức hoặc tư nhân đưa gia công. Trường hợp xí nghiệp nhận gia công từng công đọan ngắn, chi phí gia công quá ít so với tòan bộ chi phí sản xuất ra sản phẩm thì việc nộp thu quốc doanh hoặc thuế đối với sản phẩm đó có thể do bên đưa gia công nộp ngân sách khi tiêu thụ sản phẩm, theo quyết định của cơ quan thu quốc doanh. C. ĐỐI VỚI SẢN PHẨM SẢN XUẤT PHỤ Xí nghiệp tổ chức sản xuất phụ phải đăng ký mặt hàng, giá thành sản phẩm, giá bán với cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp của xí nghiệp. Đối với lọai sản phẩm sản xuất phụ xí nghiệp phải nộp tho quốc doanh bằng 10% doanh số tiêu thụ: Như vậy lợi nhuận thực tế của sản phẩn phụ được tính như sau: Lợi nhuận = Doanh thu - Giá thành thực tế - Thu quốc doanh 10% Để khuyến khích xí nghiệp, tận dụng phế liệu phế phẩm và lao động dôi thừa, trường hợp giá thành của sản phẩm sản xuất phụ tăng lên (do những nguyên nhân khách quan như sản xuất chưa ổn định, giá nguyên vật liệu tăng...) nếu số lợi nhuận thực hiện thấp hơn so với lợi nhuận định mức của sản phẩm cùng lọai, hoặc không còn lợi nhuận nữa thì xí nghiệp đề nghị cơ quan chủ quản cấp trên và cơ quan tài chính cùng cấp xét cho giảm hoặc miễn mức thu quốc doanh nói trên. Trong trường hợp này xí nghiệp phải bảo đảm bù đắp đủ chi phí sản xuất, trả đủ nợ và lãi vay ngân hàng nếu có, và kinh doanh không lỗ. II. PHÂN PHỐI LỢI NHUẬN VÀ TRÍCH LẬP CÁC QŨY XÍ NGHIỆP A. ĐỐI VỚI PHẦN KẾ HỌACH ĐƯỢC NHÀ NƯỚC CUNG ỨNG VẬT TƯ CHỦ YẾU
-
Nếu xí nghiệp hòan thành các chỉ tiêu pháp lệnh của kế họach Nhà nước thì ngòai việc trích lập qũy phát triển sản xuất theo chế độ hiện hành, xí nghiệp được trích lợi nhuận để lập qũy khen thưởng và qũy phúc lợi theo tỷ lệ sau đây: - Xí nghiệp thuộc các ngành công nghiệp nặng, xây dựng, vận ải, khai thác gỗ, đánh cá biển trích lập hai qũy (phúc lợi và khen thưởng) bằng 24% tổng qũy lương thực hiện cả năm của công nhân viên sản xuất kinh doanh phần kế họach Nhà nước cung ứng vật tư (trừ các khỏan chi bất hợp lý trong qũy lương như lương sản phẩm hỏng, lương ngừng việc vượt định mức cho phép, các khỏan chi sai chính sách chế độ tiền lương hiện hành v.v...). - Xí nghiệp thuộc các ngành công nghiệp nhẹ và công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm được trích hai qũy (phúc lợi và khen thưởng) bằng 20% tổng qũy lương thực hiện cả năm của công nhân viên sản xuất kinh doanh phần kế họach Nhà nước cung ứng vật tư (trừ các khỏan chi bất hợp lý trong qũy lương như lương sản phẩm hỏng, lương ngừng việc vượt định mức cho phép, các khỏan chi sai chính sách chế độ tiền lương hiện hành v.v...). Tỷ lệ phân phối giữa hai qũy khen thưởng và phúc lợi là 70% cho qũy khen thưởng và 30% cho qũy phúc lợi. Nếu xí nghiệp không có nhu cầu bổ sung vốn lưu động định mức cần tăng thêm thì số lợi nhuận còn lại nộp ngân sách Nhà nước. Xí nghiệp được xét duyệt vốn lưu động định mức để bảo đảm cho các họat động thuộc các phẩn kế họach sản xuất chính, kế họach sản xuất phụ. Số vốn còn thiếu thuộc phần ngân sách cấp phát phải được kế họach hóa các nguồn bổ sung như điều hòa vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, từ lợi nhuận trích nộp ngân sách nhưng vẫn còn thiếu thì ngân sách sẽ cấp thêm cho đủ theo kế họach được duyệt. Trong quá trình sản xuất , mọi nhu cầu tăng vốn lưu động trên định mức và ngòai kế họach được giải quyết bằng vốn vay ngân hàng.
-
Xí nghiệp có lợi nhuận vượt kế họach. Nếu xí nghiệp có lợi nhuận nộp vượt kế họach thì được trích vào qũy xí nghiệp theo tỷ lệ sau đây: - Xí nghiệp thuộc các ngành công nghiệp nặng, xây dựng, vận tải, khai thác gỗ, đánh cá biển được trích vào các qũy xí nghiệp 60% số lợi nhuận nộp vượt kế họach đó. - Xí nghiệp thuộc các ngành công nghiệp nhẹ và công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm được trích 50% số lợi nhuận nộp vượt kế họach đó. Như vậy tổng số lợi nhuận nộp vượt kế họach sẽ bao gồm cả số thực tế đã nộp ngân sách vượt kế họach và số được phép để lại trích các qũy cho xí nghiệp theo tỷ lệ nói trên về số lợi nhuận nộp vượt kế họach. - Cả hai trường hợp trích vượt kế họach được bổ sung cho các qũy theo tỷ lệ: - 60% cho qũy khen thưởng, - 20% cho qũy phúc lợi, - 20% cho qũy phát triển sản xuất . Số lợi nhuận còn lại nộp ngân sách Nhà nước. Khi xác định số lợi nhuận hòan thành và hòan thành vượt mức kế họach nộp ngân sách, cần lọai trừ các khỏan tăng lợi nhuận do các nguyên nhân khách quan (như do Nhà nước thay đổi giá bán buôn công nghiệp, giá bán buôn vật tư, do xí nghiệp tự nâng giá bán trái với chế độ hiện hành, do sản xuất sản phẩm không đúng quy cách, các khỏan tiền phạt thu của đơn vị khác không được ghi trong kế họach hóa lợi nhuận của xí nghiệp... ). Các khỏan tăng lợi nhuận nói trên, xí nghiệp phải nộp tòan bộ vào ngân sách Nhà nước.
-
Trường hợp xí nghiệp không hòan thành 3 chỉ tiêu kế họach pháp lệnh chủ yếu nói sau đây thì cứ nỗi phần trăm không hòan thành về một chỉ tiêu phải trừ đi 2% số tiền được trích theo mức cơ bản của mỗi qũy: - Giá trị sản lượng hàng hóa thực hiện. - Sản phẩm chủ yếu theo tiêu chuẩn chất lượng quy định. - Lợi nhuận và các khỏan nộp ngân sách (trên cơ sở số lợi nhuận thực hiện) B. PHẦN KẾ HỌACH BỔ SUNG DO XÍ NGHIỆP TỰ TÌM KIẾM VẬT TƯ ĐỂ SẢN XUẤT Xí nghiệp thuộc các ngành công nghiệp nặng, xây dựng, vận tải, khai thác gỗ, đánh cá biển được trích 60% và xí nghiệp thuộc các ngành công nghiệp nhẹ và công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm được trích 50% lợi nhuận thực hiện của phần kế họach này để bổ sung cho các qũy theo tỷ lệ: - 60% cho qũy khen thưởng; - 20% cho qũy phúc lợi, - 20% cho qũy phát triển sản xuất. Số lợi nhuận còn lại nộp ngân sách Nhà nước. Nếu xí nghiệp không hòan thành kế họach nộp lợi nhuận thuộc phần kế họach sản xuất bằng vật tư do Nhà nước cung ứng mà không có lý do chính đáng thì xí nghiệp phải lấy lợi nhuận thực hiện của phần kế họach bổ sung bằng vật tư tự tìm kiếm để bù cho số thiếu hụt đó (và khi xét duyệt hòan thành kế họach do Nhà nước cung ứng vật tư sẽ được coi là hòan thành kế họach -nộp lợi nhuận ). Số còn lại mới được coi là lợi nhuận thực hiện của phần kế họach bổ sung bằng vật tư tự tìm kiếm để được trích theo quy dịnh nói trên. C. Trường hợp xí nghiệp có lợi nhuận sản xuất bằng phương thức vay ngọai tệ của ngân hàng để nhập nguyên liệu chủ yếu sản xuất mặt hàng xuất khẩu:
-
Xí nghiệp chấp hành đúng chế độ của nhà nước về xuất khẩu, nhập khẩu, về tín dụng ngân hàng và quản lý ngọai tệ. Mọi khỏan thu, chi phải hạch tóan rõ ràng và quy về tiền Việt Nam theo tỷ giá hối đóai do Nhà nước quy định (xí nghiệp không được trích các qũy xí nghiệp bằng ngọai tệ).
-
Phần lợi nhận xí nghiệp thu được do vay ngọai tệ của ngân hàng để sản xuất được hạch tóan riêng và sau khi làm đầy đủ nhiệm vụ nộp thuế cho Nhà nước theo chế độ hiện hành và sau khi đã trả nợ và lãi vay ngân hàng bằng ngọai tệ, xí nghiệp thuộc các ngành công nghiệp nặng, xây dựng, vận tải, khai thác gỗ, đánh cá biển, được trích 60% để trích lập các qũy xí nghệp, xí nghiệp thuộc các ngành công nghiệp nhẹ và công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm được trích lập các qũy xí nghiệp. Phần lợi nhuận để lại cho xí nghiệp được phân phối cho các qũy theo tỷ lệ: - 60% cho qũy khen thưởng, - 20% cho qũy phúc lợi, - 20% cho qũy phát triển sản xuất. Số lợi nhuận còn lại, xí nghiệp nộp vào ngân sách Nhà nước. D. Trường hợp xí nghiệp có lợi nhuận sản xuất mặt hàng phụ bằng phế liệu phế phẩm, sau khi đã nộp thu quốc doanh theo quy định ở điểm C, mục I nói trên, xí nghiệp thuộc tất cả các ngành được trích 70% số lợi nhuận thực hiện của mặt hàng sản xuất phụ để bổ sung cho các qũy theo tỷ lệ: - 60% cho qũy khen thưởng, - 20% cho qũy phúc lợi, - 20% cho qũy phát triển sản xuất. Số lợi nhuận còn lại (30%) Xí nghiệp nộp vào ngân sách Nhà nước. E. Trường hợp xí nghiệp vi phạm chế độ, chính sách quản lý kinh tế,tài chính của Nhà nước kể dưới đây thì cứ mỗi vi phạm thuộc phần kế họach nào (kế họach sản xuất bằng vật tư Nhà nước cung ứng, bằng vật tư tự tìm kiếm; kế họach sản xuất phụ) sẽ tùy theo mức độ vi phạm mà giảm từ 2 đến 5% số tiền được trích cho mỗi qũy thuộc phần kế họach tương ứng của xí nghiệp. - Làm thiệt hại đến tài sản vật tư tiền vốn; - Để xảy ra tai nạn chết người do khuyết điểm về quản lý hoặc do thiếu trách nhiệm; - Vi phạm hợp đòng kinh tế, các chế độ giao nộp sản phẩm, phân phối thu mua, giá cả của Nhà nước; - Vi phạm các chế độ báo cáo kế tóan, thống kê và kỷ luật thu nộp ngân sách. III. MỨC KHỐNG CHẾ TƯƠNG ĐỐI CỦA QŨY KHEN THƯỞNG VÀ PHÚC LỢI Nếu qũy khen thưởng và phúc lợi trong cả năm của xí nghiệp được trích từ các nguồn khác nhau (sản xuất chính, sản xuất phụ) cộng lại mà mỗi qũy vượt 6 (sáu) tháng lương thực hiện bình quân trong năm của công nhân viên sản xuất kinh doanh của xí nghiệp thì số vượt 6 tháng lương (từ tháng thứ 7 trở đi) xí nghiệp được để lại 30%, nộp cấp trên 20% để lập qũy dự trữ tài chính tập trung. Số còn lại (50%) nộp ngân sách Nhà nước. Lợi nhuận nộp lên cơ quan chủ quản cấp trên để lập qũy dự trữ tài chính của Bộ, sở, ty chủ quản hoặc liên hiệp các xí nghiệp. Nguyên tắc lập và sử dụng qũy dự trữ tài chính Bộ Tài chính sẽ có quy định riêng. Số để lại cho xí nghiệp được phân phối cho các qũy theo tỷ lệ: - 60% cho qũy khen thưởng, - 20% qũy phúc lợi, - 20% cho qũy phát triển sản xuất. Số tiền thưởng do xí nghiệp hòan thành nhiệm vụ xuất khẩu theo chế độ riêng về thưởng khuyến khích xuất khẩu không phải tính vào mức khống chế tương đối và được trích bổ sung cho các qũy xí nghiệp theo tỷ lệ: - 60% cho qũy khen thưởng, - 20% qũy phúc lợi, - 20% cho qũy phát triển sản xuất. Nếu xí nghiệp không hòan thành các phần kế họach sản xuất chính, kế họach sản xuất phụ, bị giảm trừ mức trích qũy khen thưởng và qũy phúc lợi quá nhiều không đạt mức bình quân đầu người cả hai qũy cộng lại bằng 60 đồng thì sẽ được ngân sách trợ cấp cho đủ mức bình quân đó (60đ đầu người bổ sung vào qũy khen thưởng hay qũy phúc lợi bao nhiêu do giám đốc xí nghiệp quyết định). IV. ĐIỀU KHỎAN THI HÀNH Thông tư này chỉ áp dụng đối với các xí nghiệp sản xuất công nghiệp quốc doanh trung ương và địa phương thuộc tất cả các ngành. Đối với các xí nghiệp xây dựng, vận tải, nông nghiệp, khai thác gỗ, đánh cá biển, các Bộ chủ quản bàn bạc thống nhất với Bộ Tài chính để vận dụng chế độ phân phối lợi nhuận và trích qũy xí nghiệp phù hợp với điều kiện cụ thể của ngành mình. Thông tư này không áp dụng đối với các xí nghiệp phân phối lưu thông dịch vụ, văn hóa, y tế , giáo dục, các cơ quan hành chính sự nghiệp , và sẽ có quy định riêng. Những quy định trước đây về chế độ thu quốc doanh, phân phối lợi nhuận và trích qũy khen thưởng và phúc lợi trong các Thông tư số 3-TC/CNXD ngày 28-3-1978 và số 4-TT/TC ngày 18-3-1981 của Bộ Tài chính trái với các quy định trong Thông tư này đều bãi bỏ. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 9 năm 1982 và được áp dụng vào việc phân phối lợi nhuận và trích lập các qũy xí nghiệp năm 1982.
Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/thong-tu-so-21-tc-cna-huong-dan-sua-doi-bo-sung-che-do-thu-quoc-doanh-phan-phoi-loi-nhuan-va-trich-lap-cac-quy-xi-nghiep-theo-quyet-dinh-so-146-hdbt-ngay-25-8-1982-cua-hoi-dong-bo-truong--3754.
Dịch vụ liên quan
Văn bản liên quan
- Bãi bỏ của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật và của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số Điều của
- Quy định mức thu, chế độ thu, nộp phí thuộc lĩnh vực đường sắt
- Sửa đổi, bổ sung một số điều của của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán được sửa đổi, bố sung bởi và BTC, của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định giao dịch cổ phiếu niêm yết, đăng ký giao dịch và chứng chỉ quỹ, trái phiếu doanh nghiệp, chứng quyền có bảo đảm niêm yết trên hệ thống giao dịch chứng khoán đưực sửa đổi, bổ sung bởi, của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về hoạt động của công ty chứng khoán đưực sửa đổi, bổ sung bởi
- Sửa đổi, bố sung một số điều của của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về kiểm tra, giám sát, tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; kiểm soát hàng giả và hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được sửa đổi, bổ sung bởi
- Hướng dẫn bố trí nguồn kinh phí, lập dự toán, quản lý, sử dụng, quyết toán kinh phí thực hiện ký kết hợp đồng thực hiện nhiệm vụ của công chức
- Hướng dẫn mức chi tổ chức thực hiện công tác thi đua, khen thưởng tại khoản 1 Điều 48 của Chính phủ quy định về phận cấp, phân quyền trong lĩnh vực thi đua, khen thưởng; quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng
- Quy định mức thu, chế độ thu, nộp phí sát hạch lái xe, lệ phí cấp bằng, chứng chỉ được hoạt động trên các loại phuong tiện và lệ phí đăng ký, cấp biển xe máy chuyên dùng
- Quy định mức thu, chế độ thu, nộp một số khoản phí, lệ phí thuộc lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch