Thông tư số 42-TC/KBNNhướng dẫn thanh toán công trái xây dựng tổ quốc loại kỳ hạn 5 năm phát hành đợt 1987-1988 theo quyết định số 204/ CT ngày 9 tháng 6 năm 1992 của chủ tịch hội đồng bộ trưởng

Số hiệu
42-TC/KBNN
Loại văn bản
Thông tư
Cơ quan ban hành
Bộ Tài chính
Ngày ban hành
09/09/1992

Toàn văn

BỘ TÀI CHÍNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - tự do - hạnh phúc

Số: 42

  • TC/KBNN Hà Nội ngày 9 tháng 9 năm 1992 THÔNG TƯ HƯỚNG DẪN THANH TÓAN CÔNG TRÁI XÂY DỰNG TỔ QUỐC LỌAI KỲ HẠN 5 NĂM PHÁT HÀNH ĐỢT 1987-1988 THEO QUYẾT ĐỊNH SỐ 204/CT NGÀY 9 THÁNG 6 NĂM 1992 CỦA CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG Thi hành Quyết định số 204/CT ngày 9/6/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc thanh tóan công trái xây dựng Tổ quốc lọai kỳ hạn 5 năm phát hành đợt 1987 - 1988 (từ 15/11/1987 đến 31/12/1988) đến hạn thanh tóan từ 15/11/1992, Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện như sau: I- PHẠM VI, NGUYÊN TẮC VÀ PHƯƠNG THỨC THANH TÓAN CÔNG TRÁI XÂY DỰNG TỔ QUỐC 1/ Các lọai phiếu công trái xây dựng Tổ quốc ghi và thu bằng tiền, bằng thóc, bằng vàng, bằng ngọai tệ có kỳ hạn 5 năm, phát hành trong đợt 1987 - 1988 (từ 15/11/1987 đến 31/12/1988) nếu đủ thời hạn 5 năm (60 tháng) kể từ ngày mua sẽ được thanh tóan, bắt đầu từ 15/11/1992. Mọi trường hợp chậm thanh tóan của các lọai phiếu công trái XDTQ có kỳ hạn 5 năm, phát hành trong thời gian nói trên đều được thanh tóan và hưởng lãi suất đúng hạn 5 năm. 2/ Mọi phiếu công trái ghi và thu bằng tiền, bằng thóc, bằng vàng, bằng ngọai tệ đều được thanh tóan tại Kho bạc Nhà nước tỉnh, thành phố, quận, huyện. Tùy theo hòan cảnh địa dư, cơ quan Kho bạc Nhà nước, có sự chỉ đạo của chính quyền địa phương để có thể tổ chức thêm bàn thanh tóan công trái lưu động nhằm tạo điều kiện cho người sở hữu phiếu công trái thanh tóan được nhanh chóng, thuận lợi. 3/ Giá trị các lọai phiếu công trái XDTQ được thanh tóan theo các nguyên tắc sau đây: a. Các phiếu công trái ghi và thu bằng tiền: khi thanh tóan sẽ được tính lại giá trị căn cứ vào sự thay đổi của chỉ số giá cả bình quân của các mặt hàng bảo đảm giá trị tiền mua công trái (tại các Quyết định số 354 ngày 23/11/1987 và 123 TC/XSCT ngày 8/6/1988 của Bộ Tài chính) của năm thanh tóan so với năm phát hành công trái XDTQ. Giá các mặt hàng làm căn cứ tính chỉ số giá để thanh tóan phiếu công trái XDTQ đến hạn là giá phổ biến bình quân trên thị trường cả nước ở thời điểm thanh tóan, không quy định chỉ số giá theo khu vực. Bộ trưởng Bộ Tài chính sẽ công bố chỉ số giá bình quân của các mặt hàng nói trên cho từng đợt thanh tóan công trái XDTQ, sau khi thống nhất với chủ nhiệm ủy ban Vật giá Nhà nước và Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê. b. Các phiếu công trái ghi và thu bằng thóc: khi thanh tóan sẽ được tính thành tiền (cả gốc và lãi) theo giá thóc bình quân trên địa bàn tỉnh, thành phố ở thời điểm thanh tóan do Bộ trưởng Bộ Tài chính công bố, sau khi thống nhất với chủ nhiệm Ủy ban Vật giá Nhà nước và Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê. c. Các phiếu công trái thu và ghi bằng vàng: phần gốc được thanh tóan bằng vàng theo đúng trọng lượng và chất lượng vàng đã ghi trên phiếu công trái (theo Nghị định số 59/HĐBT ngày 12 tháng 4 năm 1984 của Hội đồng Bộ trưởng); phần lãi được thanh tóan bằng tiền đồng Việt nam, tính theo giá vàng mua vào của Công ty vàng bạc đá qúy thuộc Ngân hàng Nhà nước công bố ở thời điểm thanh tóan. Nếu người sở hữu phiếu công trái đề nghị được thanh tóan cả gốc bằng tiền đồng Việt nam thì Nhà nước cũng thanh tóan theo giá mua vàng nói trên. d. Các phiếu công trái ghi và thu bằng ngọai tệ chuyển đổi: Khi thanh tóan, phần gốc sẽ được trả bằng ngọai tệ cùng lọai đã ghi trên phiếu công trái; số lãi được thanh tóan bằng tiền đồng Việt nam tính theo giá mua ngọai tệ của Ngân hàng Ngọai thương tại thời điểm thanh tóan. Nếu người sở hữu phiếu công trái đề nghị được trả phần gốc bằng tiền đồng Việt nam thì cũng được quy đổi ngọai tệ sang tiền đồng Việt nam theo giá mua ngọai tệ ở thời điểm thanh tóan do Ngân hàng Ngọai thương công bố. 4/ Các lọai phiếu công trái có ghi tên người mua, có đóng dấu năm phát hành và năm thanh tóan, có ký mã số in trên tờ phiếu phù hợp với ký mã số của cuống phiếu lưu trữ là chứng từ hợp lệ để thanh tóan. Trước khi thanh tóan, cán bộ kế tóan Kho bạc Nhà nước cần đối sóat với hồ sơ gốc về mọi thủ tục khi mua công trái và đảm bảo thanh tóan đúng đối tượng. Đối với phiếu công trái XDTQ đã được chuyển nhượng, khi thanh tóan, ngòai phiếu công trái có chứng nhận đã làm thủ tục chuyển nhượng, người được chuyển nhượng phải xuất trình đơn đã được chính quyền địa phương hoặc cơ quan có thẩm quyền xác nhận của các lần chuyển nhượng (theo điều 5 - NĐ số 145/HĐBT ngày 6/12/1983 của Hội đồng Bộ trưởng). Đối với phiếu công trái XDTQ của người chuyển đến nơi cư trú mới, khi thanh tóan phải có chứng nhận của chính quyền địa phương nơi đang cư trú, hộ khẩu hoặc chứng minh thư để làm thủ tục thanh tóan công trái XDTQ (vãng lai). 5/ Trường hợp mất phiếu công trái XDTQ vẫn được xét thanh tóan là: khi bị mất phiếu, người sở hữu phiếu công trái đã làm đơn báo cho quận, huyện nơi cư trú hoặc nơi phát hành phiếu công trái để theo dõi và đối chiếu với hồ sơ gốc, trong đơn đã ghi rõ: Họ, tên, địa chỉ, số giấy chứng minh thư (nếu có) của người sở hữu phiếu công trái, số tiền hoặc số thóc, số ngọai tệ, số vàng ghi trên phiếu công trái, ngày và nơi phát hành công trái . . . (Điều 6 - Nghị định số 145/HĐBT ngày 6/12/1983). Sau khi thanh tóan, Kho bạc Nhà nước cần có thông báo chi tiết về các lọai, các hạng phiếu, các ký mã hiệu và số sêri của phiếu công trái XDTQ bị mất cho các đơn vị nội bộ biết để theo dõi và ngăn chặn các mặt tiêu cực có thể xảy ra. Nếu phiếu đã bị lợi dụng thanh tóan trước khi Kho bạc Nhà nước nhận giấy báo mất thì người sở hữu phiếu công trái phải chịu thiệt hại. 6/ Phương thức thanh tóan tiền công trái XDTQ lọai có kỳ hạn 5 năm của đợt phát hành 1987 - 1988 theo phụ lục hướng dẫn chi tiết đính kèm Thông tư này. II- NGUỒN VỐN THANH TÓAN CÔNG TRÁI XDTQ VÀ CHI PHÍ PHỤC VỤ CHO VIỆC THANH TÓAN CÔNG TRÁI XDTQ. Tòan bộ các khỏan chi phục vụ cho việc thanh tóan công trái XDTQ do Ngân sách Trung ương cấp, bao gồm: - Chi tiền thanh tóan phiếu công trái (cả gốc, lãi, trượt giá). - Chi về ấn chỉ, các tài liệu và mẫu biểu, chi tập huấn nghiệp vụ; - Các khỏan chi khác phục vụ cho việc thanh tóan công trái XDTQ theo kế họach bằng 1% trên số tiền thanh tóan công trái. Hạch tóan kế tóan về kinh phí chi trả công trái và phục vụ việc chi trả công trái áp dụng theo văn bản hướng dẫn của Cục Kho bạc Nhà nước. Cuối đợt thanh tóan công trái, các đơn vị Kho bạc Nhà nước phải có thuyết minh quyết tóan riêng và bảng kê chi tiết đính kèm (theo các mẫu biểu quy định) để Kho bạc Nhà nước cấp trên xét duyệt. Việc quyết tóan chi trả tiền công trái XDTQ cho người sở hữu phiếu công trái và kinh phí phục vụ cho việc chi trả công trái. Hệ thống Kho bạc Nhà nước phải báo cáo đầy đủ, chính xác theo mẫu biểu báo cáo quyết tóan đính kèm thông tư này. III- TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1/ Ngân hàng Nhà nước Việt nam có trách nhiệm bố trí đủ và kịp thời tiền mặt, vàng và ngọai tệ để Kho bạc Nhà nước trả nợ cho dân. 2/ Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm có trách nhiệm chỉ đạo các đơnvị thuộc phạm vi mình quản lý ở các địa phương có thu thóc công trái XDTQ kỳ hạn 5 năm (phát hành từ 15/11/1987 đến 31/12/1988) kiểm tra hồ sơ, sổ sách lưu trữ để cùng với Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính sóat xét, xác định chính xác số lượng các hạng phiếu công trái ghi và thu bằng thóc đã phát hành, số lượng thóc đã nhập kho lương thực, số tiền thóc công trái đã thanh tóan với Ngân sách Nhà nước để làm căn cứ trả nợ dân. 3/ Ủy ban Vật giá Nhà nước và Tổng cục Thống kê có trách nhiệm cùng với Bộ Tài chính thống nhất xác định chỉ số giá các mặt hàng đảm bảo giá trị tiền mua công trái và giá thóc làm căn cứ thanh tóan phiếu công trái XDTQ. 4/ Ủy ban Nhân dân các Tỉnh, Thành phố có trách nhiệm chỉ đạo, đôn đốc các ngành, các đơn vị có liên quan đến việc thanh tóan công trái XDTQ như Ngân hàng, Công ty lương thực, Kho bạc Nhà nước. . . địa phương thực hiện tốt việc thanh tóan, chi trả công trái XDTQ cho dân. 5/ Bộ Tài chính có trách nhiệm hướng dẫn, chỉ đạo các đơn vị thuộc Bộ thực hiện việc thanh tóan công trái XDTQ đúng chế độ, chính sách của Nhà nước: 5.1- Vụ Ngân sách Nhà nước . a. Bố trí kế họach vốn Ngân sách Nhà nước để có kinh phí thanh tóan phiếu công trái và các chi phí cần thiết cho công tác này. b. Cùng với Cục Kho bạc Nhà nước kiểm tra số tiền thu công trái đã nộp Ngân sách Nhà nước và chi Ngân sách Nhà nước để thanh tóan công trái cho dân. 5.2- Vụ cân đối tài chính: cùng với Ủy ban Vật giá Nhà nước, Tổng cục Thống kê, Cục Kho bạc Nhà nước tính tóan xác định chỉ số giá các mặt hàng đảm bảo giá trị tiền mua công trái và giá thóc làm căn cứ thanh tóan phiếu công trái XDTQ. 5.3- Cục Kho bạc Nhà nước: a. Tổ chức kiểm tra hồ sơ quyết tóan của đợt công trái đã phát hành do Ngân hàng bàn giao. Lập kế họach thanh tóan tiền công trái cho các Chi cục Kho bạc Nhà nước tỉnh, thành phố và chỉ đạo, hướng dẫn việc thanh tóan cho người sở hữu phiếu công trái; b. Tổ chức tập huấn cho cán bộ của các Chi cục Kho bạc Nhà nước nắm vững nội dung, yêu cầu, nhiệm vụ thanh tóan phiếu công trái XDTQ, cách tính tóan chỉ số giá cả các mặt hàng đảm bảo giá trị tiền mua công trái, cách tính lãi đối với tiền, thóc, vàng, ngọai tệ mua công trái. c. Phối hợp với các ngành liên quan (Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, Ngân hàng Nhà nước Việt nam . . .) tổ chức kiểm tra, thực hiện tốt việc chi trả cho người sở hữu phiếu công trái theo đúng chính sách, chế độ và giải quyết kịp thời các vướng mắc phát sinh. d. Tổ chức rút kinh nghiệm và tổng hợp báo cáo kết quả đợt thanh tóan công trái cho dân. 5.4- Đối với Chi cục Kho bạc Nhà nước tỉnh, thành phố: a. Chi cục Kho bạc Nhà nước tỉnh, thành phố có trách nhiệm tham mưu giúp UBND tỉnh lập kế họach, biện pháp chỉ đạo thực hiện việc thanh tóan tiền công trái trong tòan tỉnh. b. Tập huấn cho các cán bộ trực tiếp làm nhiệm vụ thanh tóan công trái của các Chi nhánh Kho bạc Nhà nước quận, huyện về quy trình nghiệp vụ thanh tóan tiền công trái. c. Phối hợp chặt chẽ với các ngành có liên quan (lương thực, ngân hàng . . .) tổ chức việc thanh tóan công trái trên từng địa bàn, đảm bảo yêu cầu chính xác, nhanh chóng, thuận tiện đến tận tay người sở hữu phiếu công trái, không ảnh hưởng đến sản xuất và sinh họat, đảm bảo an tòan tài sản của Nhà nước và của nhân dân. d. Sau khi kết thúc việc thanh tóan công trái (của đợt 87 - 88) Chi cục Kho bạc Nhà nước cần sơ kết rút kinh nghiệm và lập báo cáo tổng quyết tóan số tiền đã thanh tóan (khớp đúng với các lọai và các hạng phiếu công trái đã thu lại) gửi về Cục Kho bạc Nhà nước để kiểm tra, đối chiếu và tổng hợp báo cáo. Các Chi nhánh Kho bạc Nhà nước thực hiện việc chi trả công trái XDTQ cần chấp hành nghiêm chỉnh các quy định và hướng dẫn của Kho bạc Nhà nước cấp trên. Trong quá trình thực hiện nếu có khó khăn vướng mắc, đề nghị các đơn vị và địa phương kịp thời báo cáo để Bộ Tài chính (Cục Kho bạc Nhà nước nghiên cứu phối hợp giải quyết./.

Nơi nhận : - NHNN VN - Bộ NN và CNTP - UBVG NN - Tổng cục thống kê - UBND các tỉnh, thành phố - Các Chi cục KBNN - Các Chi nhánh KBNN - Các Vụ, Cục thuộc Bộ TC - Lưu: VP Bộ, Cục KBNN KT/ BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH THỨ TRƯỞNG Lý Tài Luận

Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/thong-tu-so-42-tc-kbnn-huong-dan-thanh-toan-cong-trai-xay-dung-to-quoc-loai-ky-han-5-nam-phat-hanh-dot-1987-1988-theo-quyet-dinh-so-204-ct-ngay-9-thang-6-nam-1992-cua-chu-tich-hoi-dong-bo-truong--108389.

Dịch vụ liên quan

Văn bản liên quan