Thông tư số 23-TC-NHKThướng dẫn thi hành điều lệ cấp phát vốn kiến thiết cơ bản ban hành do nghị định số của hội đồng chính phủ

Số hiệu
23-TC-NHKT
Loại văn bản
Thông tư
Cơ quan ban hành
Bộ Tài chính
Ngày ban hành
23/11/1964

Toàn văn

BỘ TÀI CHÍNH

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 23-TC-NHKT

Hà Nội, ngày 23 tháng 11 năm 1964

THÔNG TƯ

Hướng dẫn thi hành điều lệ cấp phát vốn kiến thiết cơ bản ban hành do nghị định số 64-cp ngày 19-11-1960 của hội đồng chính phủ

BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH Kính gửi: - Các Ông Thủ trưởng các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc hội đồng chính phủ - Các ông chủ tịch ủy ban hành chính khu, thành, tỉnh Việc cấp phát vốn xây dựng cơ bản để trả: - Tiền mua, vận chuyển, gia công, bảo quản thiết bị và vật liệu viện trợ và vay; - Tiền mua, vận chuyển, gia công, bảo quản thiết bị mua bằng vốn trong nước; - Và các chi phí về chuyên gia, thực tập sinh, đồ án thiết kế thuộc vốn viện trợ và vay. Đã được quy định trong các điều 14, 15, 22 và 23 của điều lệ cấp phát vốn xây dựng cơ bản ban hành theo nghị định số 64-CP ngày 19-11-1960 của Hội đồng Chính phủ. Thông tư này nhắc lại, giải thích thêm và bổ sung một số chi tiết thi hành các quy định nói trên nhằm một mặt thúc đẩy cải tiến việc lập và thực hiện kế họach mua thiết bị, vật liệu cho cân đối với nhu cầu thi công, một mặt khác tăng cường theo dõi việc bảo quản và đưa thiết bị, vật liệu vào công trình để tránh tình trạng sử dụng lãng phí, để mất mát ứ đọng, chiếm dụng nhập nhằng, v.v... Thông tư này chia làm bốn phần: I. - Cấp phát cho thiết bị và vật liệu viện trợ và vay. Phần II. - Cấp phát cho thiết bị mua bằng vốn trong nước. Phần III. - Cấp phát để thanh tóan tiền chuyên gia, thực tập sinh, đồ án thiết kế bằng vốn viện trợ và vay. Phần IV. – Một số quy định về việc thi hành thông tư. I. CẤP PHÁT TIỀN, THIẾT BỊ VÀ VẬT LIỆU VIỆN TRỢ VÀ VAY Việc cấp phát vốn xây dựng cơ bản để thanh tóan tiền thiết bị và vật liệu trợ và vay thường tiến hành trước khi các thiết bị, vật liệu này được đưa vào thành khối lượng công trình nên việc theo dõi tình hình sử dụng sau khi cấp phát cần phải hết sức chặt chẽ. Tới nay, việc theo dõi còn nhiều sơ hở ngay từ lúc đơn vị kiến thiết nhận hàng và giao cho đơn vị thi công đến khi đơn vị thi công đem sử dụng vào công trình và xử lý số hàng còn lại sau khi hòan thành công trình. Do đó đã để xảy ra tình trạng phổ biến là sử dụng lãng phí; quá định mức, để ứ đọng, hư hỏng, mất mát; sử dụng nhập nhằng cho công trình khác, sử dụng nhập nhằng vật liệu viện trợ và vay thay cho vật liệu mua bằng vốn trong nước, hay chiếm dụng trái phép làm vốn lưu động, v.v... Để sửa chữa tình trạng trên, từ nay phải áp dụng phương pháp cấp phát theo khối lượng công trình và cấp phát phải sát khối lượng thực tế hòan thành. Biện pháp cụ thể như sau:

  1. Việc cấp phát cho đơn vị kiến thiết để thanh tóan tiền thiết bị và vật liệu viện trợ và vay (gồm giá mua, tiền vận chuyển, tiền gia công, tiền bảo quản, v.v...) chỉ coi là "cấp phát vốn tạm ứng để chuẩn bị", đến khi thực sự sử dụng vào công trình mới " cấp phát cho khối lượng hòan thành", đồng thời thu hồi dần vốn tạm ứng.

  2. Đối với số vật liệu viện trợ và vay do đơn vị kiến thiết tạm ứng bằng hiện vật cho đơn vị thi công thì khi số vật liệu này thực sự đưa vào công trình cũng cấp phát theo đúng khối lượng hòan thành và thu hồi dần vốn tạm ứng.

a) Cấp phát vốn tạm ứng cho đơn vị kiến thiết để chuẩn bị thiết bị và vật liệu viện trợ và vay. Vốn tạm ứng để chuẩn bị thiết bị và vật liệu viện trợ và vay được cấp bằng hai lọai vốn: - Bằng vốn viện trợ và vay để thanh tóan giá thiết bị (theo giá bán của nước ngòai tính ra tiền Việt Nam theo tỷ lệ hối đóai nội bộ) giá vật liệu (tính theo giá điều động nội bộ) và tiền vận chuyển từ nước ngòai về tới cảng hay ga biên giới; - Bằng vốn trong nước để thanh tóan các chi phí vận chuyển, gia công, bảo quản... ở trong nước. Hàng năm, Bộ chủ quản công trình phải căn cứ vào các hợp đồng đặt hàng và nhận hàng đã ký với nước ngòai và với Bộ Ngọai thương để lập và xin phê chuẩn các kế họach khối lượng và tài vụ xây dựng cơ bản năm. Kế họach tài vụ xây dựng cơ bản năm phải ước tính đủ số vốn cần thiết để thanh tóan trong từng qúy giá hàng và chi phí vận chuyển, gia công, bảo quản thiết bị, vật liệu viện trợ và vay; nhưng đến mỗi qúy, nếu tình hình hàng về có thay đổi thì phải xin điều chỉnh hạn mức cấp phát qúy và kế họach thi công cho cân đối với tình hình hàng về. Thể thức cấp phát cụ thể như sau:

  1. Cấp phát để thanh tóan giá hàng và tiền vận chuyển ngòai nước. Khi hàng về, Ngọai thương gửi hóa đơn đến Bộ chủ quản để đòi tiền mua hàng và tiền vận chuyển ngòai nước. Nếu hóa đơn gốc của nước ngòai đến trước khi hàng về, Ngọai thương cũng cứ lập hóa đơn đòi tiền ngay không đợi hàng về. Nếu hóa đơn gốc chưa đến mà hàng đã về thì Ngọai thương tạm tính giá hàng và lập hóa đơn tạm gửi đến Bộ chủ quản kèm theo phiếu giao hàng của cơ quan vận chuyển; hóa đơn chính thức sẽ lập và gửi sau khi nhận được hóa đơn gốc của nước ngòai. Giá tạm tính của Ngọai thương phải được Bổ chủ quản và Bộ Tài chính thỏa thuận và sẽ tạm dùng trong việc thanh tóan, hạch tóan kế tóan và hạch tóan thống kê, đến khi có giá chính thức sẽ điều chỉnh lại. Nhận được hóa đơn của Ngọai thương, Bộ chủ quản làm thủ tục xin cấp phát vốn để thanh tóan, không đợi đơn vị kiến thiết nhận được đủ hàng mới thanh tóan. Về căn cứ cấp phát ngòai các tài liệu nói trong điều 5 của điều lệ cấp phát số 64-CP, Bộ chủ quản phải gửi đến Ngân hàng Kiến thiết trung ương bản sao hợp đồng đặt thiết bị tòan bộ với nước ngòai, hợp đồng nhập hàng hàng năm, hóa đơn của Ngọai thương thanh tóan với nước ngòai và các tài liệu khác nói trong thông tư số 07-TTg ngày ngày 07-01-1961 của Thủ tướng Chính phủ ban hành thể lệ hợp đồng đặt hàng thiết bị tòan bộ (điều 15). Nguyên tắc là vốn tạm ứng phải cấp phát cho từng đơn vị kiến thiết; nhưng để việc thanh tóan tiến hành được nhanh chóng, Ngân hàng Kiến thiết trung ương trích hạn mức của đơn vị kiến thiết để cấp phát vốn tạm ứng cho Bộ chủ quản thanh tóan ở cấp trung ương với Ngọai thương thay cho đơn vị kiến thiết nhưng đồng thời, Bộ chủ quản phải phân phối ngay cho đơn vị kiến thiết một hạn mức vốn tạm ứng bằng hiện vật tương đương với số tiền đã thanh tóan cho Ngọai thương kèm theo hóa đơn và cả phiếu giao hàng (nếu hàng đã giao). Hạn mức bằng hiện vật vừa là văn kiện phân phối hạn mức vừa là văn kiện cấp phát vốn. Trước khi cấp phát vốn tạm ứng như trên cho Bộ chủ quản để thanh tóan với Ngọai thương, Ngân hàng Kiến thiết trung ương thẩm tra từng thứ hàng ghi trong hóa đơn đối chiếu với họat động đặt mua hàng và với các kế họach khối lượng và tài vụ xây dựng cơ bản hàng năm, có phân tích thiết bị, vật liệu thiết bị thi công và phân tích vốn trong nước và vốn viện trợ và vay. Khi hàng nhập kho của đơn vị kiến thiết, Chi hàng Kiến thiết cũng phải cùng đơn vị kiến thiết kiểm tra từng thứ hàng, đối chiếu với hóa đơn và phiếu giao hàng đã gửi về và Chi hàng cũng như đơn vị đều phải hạch tóan việc cấp phát vốn tạm ứng này vào kế tóan của mình. Việc thanh tóan tiền hàng với Ngọai thương phải tiến hành rất khẩn trương. Bộ Tài chính sẽ có thông tư quy định biện pháp thúc đẩy thanh tóan nhanh tiền hàng nhập khẩu với Ngọai thương.

  2. Cấp phát để thanh tóan tiền vận chuyển, gia công, bảo quản trong nước. Các khỏan chi phí này đều thanh tóan bằng vốn trong nước và cộng thêm vào giá trị thiết bị, vật liệu. Khi Bộ chủ quản phân phối cho đơn vị kiến thiết hạn mức vốn viện trợ và vay (bằng hiện vật) nói ở đọan 1 trên đây, Bộ chủ quản đồng thời cũng giao thêm hạn mức vốn trong nước để đơn vị kiến thiết thanh tóan tiền vận chuyển, gia công, bảo quản trong nước. Đơn vị kiến thiết sẽ xin Chi hàng Kiến thiết cấp phát vốn tạm ứng mỗi khi phải thanh tóan với người vận chuyển, gia công, bảo quản... trường hợp được tự làm lấy các việc trên thì đơn vị kiến thiết được cấp phát vốn tạm ứng theo dự tóan chi phí. Nếu việc vận chuyển hàng từ cảng hay ga biên giới về công trường do Ngọai thương đảm nhiệm, Bộ chủ quản có thể xin cấp phát vốn tạm ứng để thanh tóan ở cấp trung ương với Ngọai thương thay cho đơn vị kiến thiết, nhưng đồng thời Bộ chủ quản phải phân phối ngay cho đơn vị kiến thiết một hạn mức vốn tạm ứng bằng hiện vật tương đương với số tiền đã thanh tóan với Ngọai thương. Tất cả các khỏan tiền vận chuyển, gia công, bảo quản trong nước do đơn vị kiến thiết trực tiếp thanh tóan, hoặc do Bộ chủ quản thanh tóan ở trung ương rồi gửi hạn mức hiện vật về đều phải được hạch tóan là một khỏan tạm ứng để chuẩn bị (bằng vốn trong nước), trong kế tóan của đơn vị kiến thiết cũng như của Chi hàng Kiến thiết.

b) Tạm ứng vật liệu viện trợ và vay cho đơn vị thi công. Đối với số vật liệu viện trợ và vay nhận được của Bộ chủ quản; đơn vị kiến thiết giao dần hay giao tòan bộ một lần cho đơn vị thi công để đưa dần vào khối lượng xây lắp hay gia công thành thiết bị. Số vật liệu giao này coi là một khỏan vốn tạm ứng bằng hiện vật của đơn vị kiến thiết cho đơn vị thi công, và phải được hạch tóan vào kế tóan của cả hai đơn vị và của Chi hàng Kiến thiết. Về mặt giá trị, vốn tạm ứng này bao gồm giá gốc và tiền vận chuyển ngòai nước (bằng vốn viện trợ và vay) và các khỏan chi phí trong nước về vận chuyển, gia công, bảo quản... (bằng vốn trong nước). Để đảm bảo sự cân đối giữa việc nhập hàng và kế họach thi công, hợp đồng giao nhận thi công ký kết giữa đơn vị kiến thiết và đơn vị thi công phải căn cứ vào các hợp đồng đặt hàng với nước ngòai, vào kế họach nhập hàng về và vào các kế họach khối lượng và tài vụ xây dựng cơ bản hàng năm để quy định số lượng và thời gian giao hàng và tiến độ thi công. Nếu kế họach nhập hàng thay đổi thì Ngọai thương và Bộ chủ quản cần kịp thời báo cho hai đơn vị biết để điều chỉnh kế họach thi công. Nếu kế họach thi công thay đổi đơn vị thi công phải kịp thời báo cho đơn vị kiến thiết để xin Bộ chủ quản và Ngọai thương điều chỉnh kế họach nhập hàng cho khớp.

c) Cấp phát cho khối lượng công trình và thu hồi vốn tạm ứng về thiết bị và vật liệu viện trợ và vay. Khi đơn vị thi công đưa thiết bị hay vật liệu vào thành khối lượng xây lắp hay thiết bị, Chi hàng kiến thiết cấp phát cho khối lượng công trình hòan thành, dồng thời thu hồi vốn tạm ứng trong phạm vi số thiết bị hay vật liệu đã đưa vào công trình. Cần phân biệt các trường hợp sau đây;

  1. Đưa vật liệu vào thành khối lượng xây lắp: Trường hợp này đơn vị thi công tính giá trị của số vật liệu viện trợ và vay đã đưa vào khối lượng xây lắp và ghi vào biên lai tạm chi hay biên lai kết tóan khối lượng hòan thành đưa đơn vị kiến thiết xác nhận, rồi đưa Chi hàng Kiến thiết cấp phát. Khi cấp phát Chi hàng thu hồi ngay vào khỏan tạm ứng của ngân sách Nhà nước cho đơn vị kiến thiết, cũng như vào khỏan tạm ứng vật liệu viện trợ và vay của đơn vị kiến thiết cho đơn vị thi công một số tiền bằng giá trị của số vật liệu đã sử dụng. Giá trị của số vật liệu viện trợ và vay này tính bằng cách dựa vào thống kê sử dụng vật liệu hoặc dựa vào định mức vật liệu trong đơn giá và phải phân tích rõ phân tính vào vốn viện trợ và vay (giá mua vật liệu và phí tổn vận chuyển ngòai nước) và phần tính vào vốn trong nước (phí tổn vận chuyển, gia công, bảo quản trong nước). Khi hạch tóan kế tóan việc tạm chi hay kết tóan cũng như việc thu hồi bớt hai khỏan vốn tạm ứng, hai đơn vị và Chi hàng phải phân tích rõ hai lọai vốn như trên.

  2. Gia công vật liệu viện trợ và vay để làm thành thiết bị: Trong trường hợp này Chi hàng Kiến thiết cấp phát thêm vốn tạm ứng để chuẩn bị thiết bị cho đơn vị kiến thiết (số cấp phát thêm bằng gíá trị vật liệu cộng với chi phí gia công) đồng thời thu hồi bớt hai khỏan tạm ứng (số thu hồi bớt bằng với giá trị của số vật liệu đã được gia công thành thiết bị). Còn như việc cấp phát cho khối lượng thiết bị và thu hồi bớt khỏan tạm ứng của ngân sách cho đơn vị kiến thiết thì chỉ tiến hành khi thiết bị gia công đã trở thành khối lượng thiết bị hòan thành, nghĩa là đã được lắp đặt vào công trình (hay đã được đưa vào sử dụng nếu là thiết bị không cần lắp đặt).

  3. Đưa thiết bị vào lắp đặt: Thiết bị cần lắp đặt được coi là khối lượng hòan thành từ lúc xuất kho để đưa vào lắp đặt, vì vậy khi xuất kho đưa thiết bị vào lắp đặt, vì vậy khi xuất kho đưa thiết bị vào lắp đặt, đơn vị kiến thiết (hay đơn vị thi công được ủy nhiệm) lập ngay bảng kê khối lượng thiết bị hòan thành (giá trị bao gồm cả phí tổn vận chuyển, gia công bảo quản... và phân tích ra vốn trong nước và vốn viện trợ vay) gửi tới Chi hàng Kiến thiết yêu cầu cấp phát. Chi hàng cấp phát cho khối lượng thiết bị hòan thành sau khi đã kiểm tra, đồng thời thu hồi bớt khỏan tạm ứng của ngân sách cho đơn vị kiến thiết.

  4. Đưa thiết bị không cần lắp đặt vào sử dụng: Các thiết bị không cần lắp đặt được coi là khối lượng hòan thành về thiết bị kể từ lúc các thiết bị đó nhập cho công trường, khi cấp phát vốn cho khối lượng hòan thành về thiết bị (không cần lắp đặt), Chi hàng Kiến thiết cũng thu hồi bớt khỏan tạm ứng của ngân sách cho đơn vị kiến thiết.

  5. Đưa thiết bị thi công vào sử dụng: Đối với thiết bị thi công không cần lắp đặt mà đơn vị kiến thiết giao cho đơn vị thi công nhận thầu nội bộ và các thiết bị thi công không cần lắp đặt mà Bộ Kiến trúc giao cho các công trường hoặc Công ty Kiến thiết, thì cũng coi như khối lượng thiết bị hòan thành kể từ lúc nhập kho công trường, khi cấp phát cho khối lượng thiết bị hòan thành, Chi hàng cũng thu hồi bớt khỏan tạm ứng của ngân sách cho đơn vị kiến thiết. Đối với thiết bị thi công cần lấp đặt thì tiền lắp đặt lần đầu sau khi nhập về là tiền lắp thiết bị thi công và cộng thêm và giá trị thiết bị thi công chứ không phải là khối lượng lắp máy. Đơn vị kiến thiết được tạm ứng để trả tiền lắp thiết bị thi công và khi lắp đặt xong đưa vào sử dụng thì được cấp phát cho khối lượng thiết bị thi công và thu hồi bớt khỏan tạm ứng.

  6. Sử dụng thiết bị tòan bộ vào thi công cho đơn vị khác thuê thiết bị thi công trước khi khởi công công trình; cho đơn vị thi công nhận thầu nội bộ sử dụng thiết bị sản xuất vào thi công: Thiết bị sử dụng trong các trường hợp này không coi là khối lượng hòan thành về thiết bị, không được cấp phát cho khối lượng hòan thành mà chỉ coi là cho thuê thiết bị. Trong quá trình sử dụng vẫn tính và thu tiền khấu hao. Lúc chính thức lắp các thiết bị nói trên cho công trình hoặc bàn giao cho xí nghiệp sản xuất thì chỉ tính và bàn giao giá trị tài sản cố định còn lại sau khi trừ đi số khấu hao đã thu. Nhưng khi quyết tóan công trình thì phải quyết tóan cả tòan bộ giá trị tài sản cố định và số khấu hao đã thu cho khớp với tổng số tạm ứng về thiết bị.

d) Xử lý số hàng thừa và thu hồi nốt các khỏan vốn tạm ứng về thiết bị và vật liệu viện trợ và vay. Số vật liệu và thiết bị còn thừa sau khi hòan thành công trình sẽ giao cho đơn vị kiến thiết và đồng thời số tạm ứng hiện vật của đơn vị kiến thiết cho đơn vị thi công sẽ thu hồi nốt. Nếu đơn vị kiến thiết giao ngay số hàng thừa cho xí nghiệp sản xuất làm vốn lưu động hay tai sản cố định (thiết bị dự trữ); thì sẽ coi như trích vốn xây dựng cơ bản giao sang vốn sản xuất. Chi hàng Kiến thiết sẽ hạch tóan giá trị số hàng giao sang vốn sản xuất là một khỏan giảm cấp phát vốn xây dựng cơ bản, thu hồi nốt vốn tạm ứng của đơn vị kiến thiết và nộp ngân sách để cấp phát thành vốn lưu động của xí nghiệp sản xuất. Biên bản bàn giao có xí nghiệp sản xuất ký nhận, Chi hàng xác nhận và Bộ chủ quản duyệt y, sẽ dùng làm chứng từ hạch tóan kế tóan và chứng từ quyết tóan số tạm ứng cho đơn vị kiến thiết. Nếu đơn vị kiến thiết giao ngay số hàng thừa cho công trình khác theo quyết định của Bộ chủ quản thì giá trị hàng giao sẽ chuyển thành vốn tạm ứng cho công trình khác đó và công trình này vẫn phải hạch tóan theo thành phần vốn viện trợ và vay và vốn trong nước như đơn vị kiến thiết cũ. Mặt khác vốn tạm ứng của đơn vị kiến thiết cũ được giảm bớt theo một mức tương đương. Biên bản bàn giao dùng làm chứng từ quyết tóan của đơn vị kiến thiết cũ. Nếu đơn vị kiến thiết giải thể trước khi xử lý hết số thiết bị và vật liệu còn lại, thì sẽ bàn giao số này cho Bộ chủ quản chịu trách nhiệm cho đến khi xử lý xong tòan bộ và thu hồi hết vốn tạm ứng. Trường hợp điều hòa thiết bị thi công giữa các xí nghiệp xây lắp thì chỉ coi như chuyển tài sản cố định. II. CẤP PHÁT CHO THIẾT BỊ MUA BẰNG VỐN TRONG NƯỚC Thiết bị mua bằng vốn trong nước gồm thiết bị mua ở nước ngòai nhưng bằng tiền trong nước cũng như thiết bị mua trong nước. Để tăng cường theo dõi việc đưa thiết bị vào công trình và cân đối việc cung cấp thiết bị với nhu cầu thi công, từ nay việc cấp phát cho thiết bị mua bằng vốn trong nước cũng sẽ áp dụng đầy đủ các biện pháp quy định trong phần I cho việc cấp phát cho thiết bị viện trợ và vay. Cụ thể là:

  1. Việc cấp phát để thanh tóan tiền mua thiết bị, tiền vận chuyển, gia công, bảo quản... cho cơ quan Ngọai thương và các cơ quan vận chuyển, gia công, bảo quản... cũng sẽ tiến hành theo hình thức cấp phát vốn tạm ứng (hòan tòan bằng vốn trong nước) cho đơn vị kiến thiết. Đối với thiết bị mua ở nước ngòai về, Bộ chủ quản cũng có thể xin cấp phát vốn tạm ứng để thanh tóan ở cấp trung ương cho Ngọai thương đồng thời phân phối hạn mức hiện vật cho đơn vị kiến thiết. Trường hợp Bộ chủ quản đặt mua tập trung một lọai thiết bị ở trong nước để phân phối cho nhiều đơn vị kiến thiết, Bộ chủ quản cũng có thể xin cấp phát vốn tạm ứng để thanh tóan cho người bán hàng đồng thời phân phối hạn mức hiện vật cho từng đơn vị kiến thiết. Trong việc đặt sản xuất thiết bị trong nước, Bộ chủ quản cũng như đơn vị kiến thiết phải đặt mua những thiết bị hòan chỉnh và Ngân hàng Kiến thiết cũng chỉ được cấp phát cho những thiết bị hòan chỉnh. Trường hợp một thiết bị hòan chỉnh phải do nhiều xí nghiệp sản xuất ra, mỗi xí nghiệp chỉ sản xuất được một số bộ phận, thì vẫn phải đặt mua thiết bị hòan chỉnh tại một trong những xí nghiệp đó để xí nghiệp này liên hệ với các xí nghiệp khác đặt kế họach sản xuất tất cả các bộ phận thiết bị cho cân đối với nhau và cung cấp được cùng một lúc thành thiết bị hòan chỉnh.

  2. Khi thiết bị được đưa vào thành khối lượng kiến thiết thì cũng lúc đó mới cấp phát cho khối lượng (hòan tòan bằng vốn trong nước), đồng thời thu hồi vốn tạm ứng của đơn vị kiến thiết như quy định trong phần I; đối với số thiết bị còn lại sau khi hòan thành công trình thì cũng xử lý như trong phần I và thu hồi nốt vốn tạm ứng của đơn vị kiến thiết. III. CẤP PHÁT VỀ THỰC TẬP SINH, LƯƠNG CHUYÊN GIA, ĐỒ ÁN THIẾT KẾ BẰNG VỐN VIỆN TRỢ VÀ VAY Việc cấp phát vốn viện trợ và vay để thanh tóan tiền thực tập sinh, lương chuyên gia, tiền đồ án thiết kế... cho Bộ Ngọai thương cũng tiến hành cho phương pháp quy định trong phần I cho việc thanh tóan tiền thiết bị và vật liệu viện trợ và vay (Bộ chủ quản xin cấp phát ở cấp trung ương đồng thời phân phối hạn mức hiện vật cho đơn vị kiến thiết) nhưng khác ở một điểm: để thanh tóan tiền thiết bị, vật liệu thì cấp phát tạm ứng để chuẩn bị, nhưng để thanh tóan tiền thực tập sinh, lương chuyên gia, đồ án thiết kế thì cấp phát cho khối lượng hòan thành (về xây dựng cơ bản khác). IV. MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ VIỆC THI HÀNH THÔNG TƯ NÀY Thông tư này thi hành từ ngày 01-01-1965. Bắt đầu sang ngày 01-01-1965, số thiết bị và vật liệu tồn kho hay đang mua hoặc gia công dở dang đến cuối ngày 31-12-1964 đều phải chuyển sang hạch tóan thành vốn tạm ứng như sau:

a) Hạch tóan thành vốn tạm ứng của Nhà nước cho đơn vị kiến thiết;

  1. Tòan bộ số thiết bị và vật liệu viện trợ và vay đã thanh tóan với ngọai thương rồi nhưng chưa thành khối lượng công trình tồn kho đến 31-12-1964 (kể cả số đang đi trên đường về kho và số tồn kho của đơn vị thi công) phải hạch tóan thành vốn tạm ứng của ngân sách cho đơn vị kiến thiết. Giá hạch tóan gồm cả tiền vận chuyển, gia công, bảo quản... Phải hạch tóan riêng số tạm ứng về thiết bị và số tạm ứng về vật liệu và phải phân tích rõ vốn viện trợ và vay và vốn trong nước.

  2. Tòan bộ số thiết bị mua bằng vốn trong nước và đã trả tiền rồi nhưng chưa thành khối lượng công trình tồn kho đến cuối ngày 31-12-1964, kể cả số đang đi trên đường về kho. Giá hạch tóan các thiết bị này cũng bao gồm cả các phí tổn vận chuyển, gia công, bảo quản đã thanh tóan.

b) Hạch tóan thành vốn tạm ứng bằng hiện vật của đơn vị kiến thiết cho đơn vị thi công: tòan bộ số vật liệu viện trợ và vay tồn kho đến cuối ngày 31-12-1964 trong kho của đơn vị thi công (giá hạch tóan gồm cả chi phí vận chuyển, gia công, bảo quản... và phải phân tích ra vốn viện trợ và vay và vốn trong nước). Khỏan vốn tạm ứng hiện vật này của đơn vị kiến thiết cho đơn vị thi công phải ghi chú vào khỏan vốn tạm ứng của ngân sách Nhà nước cho đơn vị kiến thiết đã nói ở đọan "a" trên đây. Để có căn cứ thực hiện việc hạch tóan trên đây, các đơn vị kiến thiết và thi công có sử dụng thiết bị và vật liệu viện trợ và vay và thiết bị mua bằng vốn trong nước phải tiến hành việc kiểm kê số tồn kho về các thứ hàng kể trên đến cuối ngày 31-12-1964 và gửi báo cáo kiểm kê đến Chi hàng Kiến thiết cũng vào cuối ngày 31-12-1964 để kịp hạch tóan ngay từ lúc bắt đầu ngay 01-01-1965. Báo cáo kiểm kê phải ghi rõ tên từng lọai vật liệu, thiết bị với số lượng hiện vật và giá trị bằng vốn trong nước và vốn viện trợ và vay. Trường hợp đặc biệt có đơn vị đến cuối ngày 31-12-1964 chưa kiểm kê xong thì tạm báo cáo theo tinh hình tồn kho trên sổ sách, đến khi kiểm kê xong sẽ gửi báo cáo kiểm kê chính thức để thay thế. Nhận được báo cáo kiểm kê, Chi hàng Kiến thiết thẩm tra và xác định các số tồn kho nói trên đây rồi báo cho các đơn vị, Bộ chủ quản và Ngân hàng Kiến thiết trung ưong để hạch tóan và theo dõi. Kể từ ngày 01-01-1965 Bộ chủ quản và Ngân hàng Kiến thiết trung ương sẽ phân phối hạn mức và cấp phát theo các quy định trong thông tư này. Các đơn vị và Chi hàng sẽ hạch tóan lũy kế vào các sổ đã hạch tóan như nói trên. Thông tư này không áp dụng đối với khỏan phân bón viện trợ và vay của Bộ Nông trường. Số phân bốn viện trợ và vay này sẽ giao cho Cục Cung tiêu của Bộ Nông trường, và các nông trường sẽ mua lại số phân bón đó bằng vốn trong nước (theo chế độ mua vật liệu trong nước). Việc thi hành tốt thông tư này sẽ có tác dụng tăng cường quản lý việc mua sắm thiết bị và quản lý vốn viện trợ và vay góp phần đáng kể vào việc tăng cường quản lý kinh tế tài chính nói chung. Vì vậy tuy việc thi hành thông tư (nhất là việc áp dụng biện pháp tạm ứng và thu hồi tạm ứng) sẽ đòi hỏi làm thêm một số công việc. Bộ Tài chính mong các Bộ, Tổng cục chỉ thị cho các đơn vị kiến thiết, đơn vị thi công và tổ chức trực thuộc khác có liên quan, có kế họach tích cực chấp hành và nếu gặp khó khăn xin trao đổi ý kiến với Bộ Tài chính (Ngân hàng Kiến thiết trung ương) để giải quyết. Các địa phương có các lọai chi tiêu về vốn xây dựng cơ bản nói trong thông tư này cũng cần có kế họach tích cực chấp hành các quy định trong thông tư này. K.T. BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH THỨ TRƯỞNG (đã ký) Trịnh Văn Bính

Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/thong-tu-so-23-tc-nhkt-huong-dan-thi-hanh-dieu-le-cap-phat-von-kien-thiet-co-ban-ban-hanh-do-nghi-dinh-so-64-cp-ngay-19-11-1960-cua-hoi-dong-chinh-phu--77221.

Dịch vụ liên quan

Văn bản liên quan