Thông tư số 33-LĐ/TTHướng dẫn thi hành Luật Công đoàn và Nghị định của Thủ tướng Chính phủ về việc thi hành Luật Công đoàn trong các xí nghiệp,cơ quan, trường học nhà nước và cơ quan đoàn thể nhân dân
- Số hiệu
- 33-LĐ/TT
- Loại văn bản
- Thông tư
- Cơ quan ban hành
- Bộ Lao động
- Ngày ban hành
- 27/12/1958
Toàn văn
BỘ LAO ĐỘNG ___________
Số: 33-LĐ/TT
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ___________________________ Hà Nội, ngày 27 tháng 12 năm 1958
THÔNG TƯ
Hướng dẫn thi hành một số điều khỏan của Luật Công đòan và Nghị định của Thủ tướng Chính phủ về việc thi hành Luật Công đòan trong các xí nghiệp, cơ quan trường học nhà nước và cơ quan đòan thể Nhân dân BỘ TRƯỞNG BỘ LAO ĐỘNG Kính gửi: Các Bộ, các ngành trung ương Các Ủy ban hành chính khu, thành phố, tỉnh.
Căn cứ Luật Công đòan và Nghị định của Thủ tướng Chính phủ về việc thi hành Luật Công đòan và sau khi thống nhất ý kiến với Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính và Tổng liên đòan Lao động Việt Nam, Bộ Lao động ban hành Thông tư này nhằm mục đích hướng dẫn thi hành những điều khỏan về: cung cấp phương tiện họat động cho công đòan; trả lương và các quyền lợi khác cho cán bộ làm công tác công đòan; trích nộp kinh phí công đòan trong các xí nghiệp, cơ quan, trường học Nhà nước và cơ quan đòan thể nhân dân 1. Cung cấp phương tiện họat động cho công đòan
Căn cứ Điều 12 của Luật Công đòan và Điều 17 của Nghị định Thủ tướng Chính phủ thì các cấp chính quyền, các xí nghiệp, cơ quan Nhà nước kể cả các cơ quan đòan thể nhân dân, tùy theo yêu cầu công tác và hòan cảnh từng nơi để cung cấp những phương tiện cần thiết cho các cơ quan công đòan các cấp, như: nhà cửa để làm trụ sở làm việc, hội họp, giải trí, những dụng cụ, bàn ghế để làm việc, hội họp, những phương tiện giao thông liên lạc như ô tô, xe đạp, điện thọai và làm việc như máy chữ, máy in, v.v... để cho công đòan họat động được dễ dàng. Nguyên tắc để thực hiện Để thi hành đúng những điều khỏan quy định nói trên, việc cung cấp thực hiện theo hai nguyên tắc dưới đây:
Căn cứ theo yêu cầu và khối lượng công tác của mỗi cơ quan công đòan từng cấp để cung cấp phương tiện họat động cho công đòan thích hợp với tính chất quần chúng của tổ chức công đòan phù hợp với hòan cảnh khả năng của mỗi địa phương.
-
Cơ quan chính quyền ở cấp nào thì cung cấp phương tiện họat động cho cơ quan công đòan cấp đó, thích hợp với tình hình địa phương và có sự tương quan với các cơ quan ở mỗi cấp. Cụ thể là: - Đối với cơ quan Tổng liên đòan lao động Việt Nam kế cả các đơn vị trực thuộc, đơn vị sự nghiệp (trừ những tổ chức kinh doanh) và Liên hiệp công đòan các cơ quan trung ương thì do Bộ Tài chính cung cấp thống nhất qua Tổng liên đòan lao động. - Đối với Liên hiệp công đòan các cấp (khu, thành phố, tỉnh). Ở cấp nào thì do Ủy ban hành chính cấp đó cung cấp. - Đối với các công đòan ngành dọc (tòan quốc, khu, thành phố, tỉnh), Công đòan trực thuộc Tổng liên đòan lao động ở nơi nào thì do cơ quan chính quyền cùng cấp trong Bộ hay trong ngành đó cung cấp. - Đối với công đòan các xí nghiệp, cơ quan, trường học Nhà nước và cơ quan đòan thể nhân dân (dưới đây sẽ gọi chung là xí nghiệp, cơ quan) do Giám đốc xí nghiệp, Thủ trưởng cơ quan, trường học cung cấp. Phương pháp thực hiện: Để thực hiện cụ thể việc cung cấp cứ mỗi đầu năm Ban Chấp hành công đòan mỗi cấp căn cứ theo tinh thần nói trên và dựa trên cơ sở những phương tiện đã sẵn có để lập bản dự trù nói rõ những yêu cầu họat động của mình và những phương tiện họat động cần thiết cần được cung cấp thêm, những phương tiện nào đã có đủ rồi thì thôi. Trong dự trù tính cả những chi chí về sửa chữa, sử dụng như: tiền dự trù sửa chữa nhà cửa, phương tiện, dụng cụ; tiền xăng dầu mỡ cho máy móc, ô tô nhưng không kể văn phòng phí, điện, bưu phí…Bản dự trù phải thông qua Ban Chấp hành công đòan cấp trên trực tiếp và gửi cho cơ quan chính quyền (hoặc đòan thể) cung cấp dần theo kế họach. Trường hợp đột xuất cần được cung cấp thêm thì Ban Chấp hành Công đòan lập dự tóan bổ sung. Việc cung cấp có thể thực hiện bằng tiền hoặc bằng hiện vật tùy theo hòan cảnh và khả năng của mỗi nơi. Việc bảo quản và sử dụng: Những phương tiện họat động của cơ quan, Tổng liên đòan lao động, các liên hiệp công đòan, công đòan ngành dọc, công đòan trực thuộc Tổng liên đòan lao động do chính quyền cùng cấp cấp đều ghi vào sổ thống kế tài sản của công đòan. Ban Chấp hành công đòan bảo quản và sử dụng, khi không dùng đến sẽ giao trả lại cho cơ quan chính quyền. Những chi phí về sửa chữa, sử dụng do cơ quan chính quyền cấp phát từng tháng hoặc từng qúy theo đề nghị của công đòan, trong tài khỏan đã dự trù hàng năm cho công đòan. Nhưng ở xí nghiệp, cơ quan thì những phương tiện họat động của công đòan do chính quyền (hoặc đòan thể) cung cấp vẫn ghi vào sổ thống kê tài sản của xí nghiệp, cơ quan (hoặc đòan thể), Ban chấp hành công đòan bảo quản, sử dụng. Những chi phí về sửa chữa, sử dụng do xí nghiệp, cơ quan (hoặc đòan thể) đảm nhận và chi trong tài khỏan đã dự trù về việc này cho công đòan.
-
Việc trả lương và các quyền lợi khác của cán bộ chuyên trách làm công tác công đòan Việc trả lương và các quyền lợi khác cho cán bộ chuyên trách làm công tác công đòan hoặc khi cán bộ hay đòan viên công đòan được cử đi học, đi họp, theo Điều 15, 16 của Luật Công đòan và điều 18a của Nghị định thủ tướng chính phủ là nhằm bảo đảm sinh họat bình thường cho những cán bộ, đòan viên đó trong khi làm công tác công đòan để phát huy tính tích cực của cán bộ, đòan viên đó trong công tác đòan thể ở xí nghiệp, cơ quan. Cụ thể là: Đối với cán bộ chuyên trách làm công tác công đòan ở xí nghiệp, cơ quan được trả lương và các phụ cấp phụ vào tiền lương như phụ cấp khu vực, phụ cấp ở những vùng đặc biệt (nếu có) như khi đang sản xuất hoặc làm công tác chuyên môn và do qũy công đòan đài thọ. Ngòai ra cán bộ đó vẫn được hưởng các quyền lợi về học tập, khen thưởng, phúc lợi, bảo hiểm xã hội như: quyền lợi về ốm đau, sinh đẻ, già yếu, tai nạn, trợ cấp con, các khỏan tiền thưởng v.v... do xí nghiệp hoặc cơ quan đài thọ. Đối với cán bộ làm công tác công đòan trong giờ sản xuất (không thóat ly công tác chuyên môn ở xí nghiệp, cơ quan (theo điều 18a Nghị định Thủ tướng Chính phủ) được trả lương, phụ cấp và các quyền lợi khác như khi đang sản xuất hoặc làm công tác chuyên môn và do xí nghiệp hoặc cơ quan đài thọ. Những cán bộ đòan viên công đòan (không thóat ly công tác chuyên môn) được cử đi học, đi họp do Liên hiệp công đòan hay công đòan ngành dịc từ cấp tỉnh trở lên triệu tập thì công đòan cơ sở thương lượng với cấp phụ trách xí nghiệp, cơ quan để sắp xếp công việc, tránh làm ảnh hưởng đến kế họach công tác của xí nghiệp, cơ quan. Tiền lương và những khỏan phụ cấp phụ vào tiền lương như phụ cấp khu vực, phụ cấp đặc biệt (nếu có) kể cả tiền công tác phí của những người đó do cấp công đòan triệu tập đài thọ. Cơ quan hành chính của xí nghiệp, cơ quan sẽ thanh tóan với Ban Chấp hành công đòan cơ sở. Ngòai ra các quyền lợi khác như quyền lợi về học tập, khen thưởng, phúc lợi, bảo hiểm xã hội, phụ cấp con v.v.. đều do xí nghiệp, cơ quan đài thọ như khi cán bộ, đòan viên đó đang sản xuất hoặc công tác chuyên môn.
-
Việc trích nộp kinh phí công đòan: Nay nói rõ thêm việc thi hành Điều 21c của Luật Công đòan và các Điều 19,20,21,22,23 của Nghị định Thủ tướng Chính phủ như sau: Ở các xí nghiệp, cơ quan Nhà nước kể cả cơ quan tòan thể nhân dân có tổ chức công đòan (tổ hoặc công đòan cơ sở) thì Giám đốc xí nghiệp, thủ trưởng cơ quan hàng tháng nộp vào tài khỏan của công đòan tại Ngân hàng Quốc gia Việt Nam một số tiền gọi là kinh phí công đòan bằng hai phần trăm (2%) tổng số tiền lương cấp phát trong tháng cho tòan thể công nhân, viên chức, không phân biệt công nhân viên chức ở trong hay ngòai biên chế, ở trong hay ở ngòai tổ chức công đòan, làm việc dài hạn hoặc ngắn hạn. Khi tính tổng số tiền lương để trích nộp kinh phí công đòan thì không phân biệt chế độ, hình thức trả lượng và dựa vào bản "quy định thành phần của tổng mức tiền lương" của Ủy ban kế họach nhà nước để định các khỏan chi thuộc về qũy tiền lương, nhưng không kể khỏan tiền thù lao cho dân công, tiền nhuận bút cho tác giả và những khỏan đã ghi tại điều 20 trong Nghị định Thủ tướng Chính phủ. Đối với những đội công nhân bốc vác đã có tổ chức công đòan (theo điều 21 Nghị định Thủ tướng Chính phủ) thường xuyên bảo đảm yêu cầu vận chuyển cho xí nghiệp, cơ quan, không kể làm nhiều hoặc làm ít ngày trong một tháng thì xí nghiệp, cơ quan thuê mượn phải căn cứ vào giá khóan, giá cước để nộp thêm 2% tiền kinh phí công đòan váo tài khỏan của công đòan tại Ngân hàng Quốc gia Việt Nam. Xí nghiệp, cơ quan có thể thương lượng với Ban Chấp hành Công đòan cơ sở để nộp một lần vào đầu tháng theo Điều 22 của Nghị định Thủ tướng Chính phủ. Tiền trích nộp kinh phí công đòan ở xí nghiệp dự trù vào qũy kinh doanh của xí nghiệp và tính vào giá thành. Tiền trích nộp kinh phí công đòan ở cơ quan dự trù vào qũy kinh phí hành chính hoặc sự nghiệp. Mỗi tháng sau khi phát xong các khỏan tiền lương cho tòan thể công nhân viên chức (trừ những khỏan không phải tính để trích nộp) thì xí nghiệp, cơ quan sẽ trích nộp kinh phí công đòan của tháng đó trong khỏang thời gian từ ngày 1 đến ngày 10 tháng sau. Sau khi đã nộp kinh phí công đòan rồi thì các khỏan tiền trước đây xí nghiệp, cơ quan đã chi cho công tác công đòan như tiền sách báo, thể dục thể thao, văn phòng phí v..v... nay sẽ do công đòan đảm nhận. Những vấn đề nào mà ranh giới chi tiêu giữa công đòan cơ sở và xí nghiệp, cơ quan còn chưa rõ sẽ do Bộ Tài chính và Tổng liên đòan lao động Việt nam hướng dẫn sau. Để việc nộp kinh phí công đòan được chính xác, hàng tháng bộ phận hành chính của xí nghiệp, cơ quan phải thống nhất ý kiến với Ban Chấp hành công đòan cơ sở về số tiền kinh phí công đòan trong tháng. Bản kê tiền kinh phí công đòan nộp vào Ngân hàng do Giám đốc xí nghiệp, thủ trưởng cơ quan (hoặc người thay mặt có ủy quyền) và đại diện Ban chấp hành công đòan cơ sở ký tên, đóng dấu Ban Chấp hành công đòan cơ sở ký tên, đóng dấu và lưu chiểu cả hai nơi. Thể thức về việc nộp kinh phí công đòan vào Ngân hàng Quốc gia Việt Nam sẽ do Tổng liên đòan lao động và Ngân hàng Quốc gia Việt Nam hướng dẫn. Một số ngành chủ quản xí nghiệp, cơ quan có thể thống nhất nộp kinh phí công đòan thay cho các đơn vị trực thuộc của ngành mình. Thể thức thi hành sẽ do Tổng liên đòan lao động Việt Nam và ngành sở quan quyết định. Trường hợp quá hạn định mà đơn vị có trách nhiệm chưa nộp đủ kinh phí công đòan (điều 23 Nghị định Thủ tướng Chính phủ) thì Ban Chấp hành công đòan cơ sở báo cho Giám đốc xí nghiệp, thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm để giải quyết. Nếu không giải quyết được thì công đòan sẽ báo cho Ủy ban Hành chính và cơ quan lao động địa phương giải quyết. Trường hợp cần thiết phải làm thể thức chuyển khỏan theo điều 23 của Nghị định Thủ tướng Chính phủ sẽ có quy định riêng. Điều chủ yếu là các xí nghiệp, cơ quan thấy rõ trách nhiệm của mình đối với quần chúng, các cấp chỉ đạo thường xuyên nhắc nhở cấp dưới thi hành cho tốt. Để cho công đòan kịp thời sử dụng qũy kinh phí 2% kể từ đầu năm 1959, các xí nghiệp, cơ quan tính kinh phí công đòan bắt đầu từ tháng 12/1958 và nộp vào đầu tháng 1 năm 1959. Yêu cầu các Bộ, ngành có liên quan chỉ thị cho các xí nghiệp, cơ quan trong ngành mình chuẩn bị để thi hành cho tốt. Hà nội, ngày 27 tháng 12 năm 1958 BỘ TRƯỞNG (Đã ký) Nguyễn Văn Tạo
Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/thong-tu-so-33-ld-tt-huong-dan-thi-hanh-luat-cong-doan-va-nghi-dinh-cua-thu-tuong-chinh-phu-ve-viec-thi-hanh-luat-cong-doan-trong-cac-xi-nghiep-co-quan-truong-hoc-nha-nuoc-va-co-quan-doan-the-nhan-dan--840.
Dịch vụ liên quan
Văn bản liên quan
- Thông tư hướng dẫn thực hiện quyết định số của thủ tướng chính phủ về chính sách đối với cơ sở sản xuất đối với kinh doanh của thương bệnh binh, người tàn tật
- Hướng dẫn thi hành chế độ phụ cấp thu hút
- Hướng dẫn thực hiện quyền tự chủ của các đơn vị kinh tế cơ sở về tiền lương, tiền thưởng
- Hướng dẫn thực hiện mức trợ cấp đối với nhân dân đi xây dựng vùng kinh tế mới
- Hướng dẫn thi hành chế độ phụ cấp thợ đặc biệt giỏi
- Hướng dẫn thi hành chế độ phụ cấp thâm niên vượt khung
- Hướng dẫn thực hiện chế độ bồi dưỡng và nâng bậc nghề công nhân
- Quy định những công việc không được sử dụng lao động nữ