Thông tư số 46-TC/NSNNHướng dẫn thi hành quyết định số của Hội đồng Bộ trưởng về việc sửa đổi tỷ lệ điều tiết một số khoản thu về thuế cho ngân sách địa phương
- Số hiệu
- 46-TC/NSNN
- Loại văn bản
- Thông tư
- Cơ quan ban hành
- Bộ Tài chính
- Ngày ban hành
- 28/10/1988
- Lĩnh vực
- Quản lý thuế, phí và lệ phí
Toàn văn
THÔNG TƯ Hướng dẫn thi hành Quyết định số 141/HĐBT ngày 6/9/1988 của Hội đồng Bộ trưởng về việc sửa đổi tỷ lệ điều tiết một số khỏan thu về thuế cho ngân sách địa phương __________________________ Thực hiện quyết định số 141/HĐBT ngày 6/9/1988 của Hội đồng Bộ trưởng về việc sửa đổi tỷ lệ điều tiết khỏan thu thuế công thương nghiệp và thuế nông nghiệp cho ngân sách địa phương, Bộ Tài chính hướng dẫn như sau: I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG:
-
Số thuế công thương nghiệp và thuế nông nghiệp thực thu quy định tại quyết định số 141/HĐBT ngày 6/9/1988 của Hội đồng Bộ trưởng là số thuế thu được đã thanh tóan nộp vào ngân sách Nhà nước.
-
Tòan bộ số thu thuế công thương nghiệp, thuế nông nghiệp (kể cả 10% để lại cho xã bằng hiện vật) đều phải phản ánh đầy đủ vào ngân sách Nhà nước.
-
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương (dưới đây gọi tắt là tỉnh) căn cứ vào tỷ lệ (%) điều tiết số thu thuế công thương nghiệp, thuế nông nghiệp cho ngân sách địa phương theo quyết định số 141 HĐBT ngày 6/9/1988 của Hội đồng Bộ trưởng và Thông tư hướng dẫn này để quy định tỷ lệ điều tiết cụ thể các khỏan thu nói trên cho ngân sách quận, huyện và xã, phường (đối với thuế công thương nghiệp).
-
Số thuế công thương nghiệp và thuế nông nghiệp đã thu từ 30/6/1988 trở về trước nhưng chưa được thanh tóan thì khi thanh tóan nộp vào ngân sách Nhà nước đều phải thực hiện đúng tỷ lệ điều tiết giữa ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương theo quyết định số 141/HĐBT ngày 6/9/1988. Đối với số thu thuế công thương nghiệp và thuế nông nghiệp thực nộp vào ngân sách Nhà nước từ 1/7/1988 trở đi được phản ánh trên sổ sách kế tóan và báo cáo thu ngân sách của cơ quan Tài chính - Ngân hàng các cấp theo tỷ lệ điều tiết dành cho ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương quy định tại công văn số 354 TC/NSĐP ngày 28/5/1986 của Bộ Tài chính, cơ quan Tài chính, Ngân hàng các cấp phải phối hợp chặt chẽ, tiến hành điều chỉnh theo tỷ lệ điều tiết mới và làm thủ tục thóai thu để thanh tóan giữa các cấp ngân sách.
-
Thời gian điều chỉnh và thóai thu số thuế công thương nghiệp, nông nghiệp giữa các cấp ngân sách, chậm nhất đến ngày 30/11/1988 phải xử lý xong và phản ánh đầy đủ các khỏan thu, chi nói trên vào ngân sách các cấp trước khi khóa sổ thu chi ngân sách Nhà nước cuối năm 1988. II. THỰC HIỆN TỶ LỆ ĐIỀU TIẾT SỐ THU THUẾ CÔNG THƯƠNG NGHIỆP VÀ THUẾ NÔNG NGHIỆP GIỮA CÁC CẤP NGÂN SÁCH
-
Về thuế công thương nghiệp a. Số thu về thuế công thương nghiệp nộp vào NSNN (bao gồm thuế môn bài, thuế hàng hóa, thuế muối, thuế doanh nghiệp, thuế lợi tức danh nghiệp, trích lãi hợp tác xã mua bán, hợp tác xã tín dụng, thuế buôn chuyến, thuế sát sinh, thuế nhà đất, lệ phí trước bạ và các khỏan thu khác về thuế công thương nghiệp) theo tỷ lệ điều tiết mới quy định tại quyết định số 141/HĐBT ngày 6/9/1988 của Hội đồng Bộ trưởng thì ngân sách Trung ương được hưởng 50% và ngân sách địa phương được hưởng 50% (bao gồm cả phần điều tiết lại cho ngân sách xã, phường quy định và hướng dẫn tại thông tư số 08 TC/NSĐP ngày 7/3/1984 của Bộ Tài chính về điều tiết thuế muối và thuế công thương nghiệp cho ngân sách xã, phường). b.
Căn cứ vào tỷ lệ điều tiết mới nếu trên và các chứng từ nộp tiền thuế công thương nghiệp vào ngân sách Nhà nước, cơ quan Ngân hàng và Tài chính quận, huyện có trách nhiệm điều tiết số thu cho ngân sách trung ương 50% và địa phương 50%. Đồng thời phân chia 50% số thu ngân sách địa phương được hưởng cho ngân sách tỉnh và ngân sách quận, huyện theo tỷ lệ điều tiết do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định và hạch tóan, phản ánh số thu ngân sách Nhà nước theo chương, lọai, khỏan, hạng, mục của mục lục NSNN. c. Phòng Tài chính quận, huyện căn cứ vào số thu thuế công thương nghiệp của từng xã, phường đã nộp vào ngân sách Nhà nước, trích tồn qũy ngân sách quận, huyện chuyển trả cho ngân sách từng xã, phường theo tỷ lệ điều tiết từng lọai thuế đã được Ủy ban nhân dân tỉnh hoặc quận, huyện quy định và ghi vào chương 99 lọai 14 khỏan 01 hạng 9 mục 97 (chi trả các mục thuế công thương nghiệp cho ngân sách xã, phường). Đồng thời ghi thu vào ngân sách xã, phường theo chương, lọai, khỏan, hạng và các mục thu về thuế công thương nghiệp tương ứng dành cho ngân sách xã, phường được hưởng theo mục lục ngân sách xã.
- Về thuế nông nghiệp: Tòan bộ số thuế nông nghiệp thu bằng tiền và bằng hiện vật (kể cả 10% để lại cho xã) được thanh tóan nộp vào NSNN và phân chia giữa các cấp ngân sách theo tỷ lệ điều tiết mới quy định tại quyết định số 141/HĐBT ngày 6/9/1988 của Hội đồng Bộ trưởng như sau: a. Số thuế nông nghiệp thực thu bằng tiền Ban thuế nông nghiệp xã, phường không được giữ lại 10% mà phải nộp kịp thời tòan bộ số tiền thu được vào ngân sách Nhà nước (Tài khỏan 630) tại Ngân hàng quận, huyện. Cơ quan Tài chính, Ngân hàng quận, huyện căn cứ vào số tiền thuế nông nghiệp của từng xã, phường đã nộp vào Ngân sách Nhà nước phân chia số thu giữa các cấp ngân sách được hưởng như sau: - Ghi thu cho ngân sách ngân sách Trung ương 50% (Tài khỏan 640). - Ghi thu cho ngân sách xã, phường 10% (Tài khỏan 700 tiền gửi ngân sách xã). - Còn lại 40% ghi thu cho ngân sách tỉnh (Tài khỏan 660) và ngân sách huyện (Tài khỏan 680) theo tỷ lệ (%) điều tiết do UBND tỉnh quy định cho ngân sách tỉnh, ngân sách huyện được hưởng. b. Số thuế nông nghiệp thực thu bằng hiện vật (bao gồm thóc, màu, lương thực và các lọai nông sản khác) được trích để lại cho ngân sách xã, phường 10% bằng hiện vật. Số còn lại phải nộp đầy đủ vào kho lương thực của Nhà nước (đối với thóc và các lọai màu lương thực) và giao nộp cho cơ quan thu mua (đối với các lọai nông sản khác). Đối với số thuế thu bằng hiện vật từ 1/7/1988 đến khi thực hiện Thông tư này đã nhập kho lương thực của Nhà nước (thóc và màu) và giao cho cơ quan thu mua (các lọai nông sản khác) đã được thanh tóan nộp ngân sách Nhà nước hoặc chưa được thanh tóan, thì không phải trích 10% bằng hiện vật trả cho ngân sách xã, mà có thể trừ vào số thuế nông nghiệp thu bằng hiện vật của vụ sắp tới. Sau khi kết thúc vụ thu thuế nông nghiệp (chậm nhất là 15 ngày) UBND và Ban thuế nông nghiệp xã, phường phải lập báo cáo quyết tóan gửi UBND và Phòng Tài chính quận, huyện về tình hình thu thuế nông nghiệp bằng các lọai hiện vật và bằng tiền; số thuế để lại 10% cho xã, phường bằng hiện vật; số thuế bằng hiện vật nhập kho lương thực của Nhà nước và giao cho cơ quan thu mua; số tiền thuế nộp vào Ngân sách Nhà nước ...; kèm theo biên bản xác nhận của các cơ quan lương thực, thu mua, Ngân hàng... để Phòng Tài chính quận, huyện kiểm tra, đối chiếu và đôn đốc thanh tóan tiền thuế nộp vào ngân sách Nhà nước; đồng thời tổng hợp tình hình thu thuế nông nghiệp trên địa bàn huyện báo cáo UBND quận, huyện và Sở Tài chính tỉnh. c. Số thuế nông nghiệp thu bằng hiện vật sau khi đã trừ 10% để lại cho ngân sách xã, phường đã nhập kho lương thực của Nhà nước, ngành lương thực và Cục quản lý dự trữ Nhà nước nộp vào ngân sách Nhà nước theo giá quy định tại quyết định số 161-CT ngày 24/5/1988 của Hội đồng Bộ trưởng về giá thanh tóan thóc và màu lương thực thu từ thuế nông nghiệp. Đối với các lọai nông sản khác, cơ quan thu mua thanh tóan theo khung giá hoặc mức giá thu mua của Nhà nước ở địa phương tại thời điểm thanh tóan. Để phản ánh đầy đủ số thu thuế nông nghiệp bằng các lọai hiện vật vào ngân sách Nhà nước (kể cả 10% để lại cho ngân sách xã), cơ quan Tài chính - Ngân hàng quận, huyện căn cứ vào số thuế để lại 10% cho từng xã, phường bằng hiện vật (theo báo cáo quyết tóan của Ban Thuế nông nghiệp xã, phường) để ghi thu vào ngân sách Nhà nước theo giá quy định tại quyết định số 161 CT ngày 24/5/1988 của Hội đồng Bộ trưởng (đối với thóc và màu lương thực) và theo giá thu mua (đối với các lọai nông sản khác) do vq thu mua thanh tóan. Sau đó, UBND xã, phường thực tế bán số hiện vật 10% để lại cho ngân sách xã (lương thực và nông sản khác) theo giá nào thì ghi thu vào ngân sách xã, phường theo giá đó. d.
Căn cứ vào số tiền thu thuế nông nghiệp bằng hiện vật do cơ quan lương thực, dự trữ Nhà nước thanh tóan (đối với thóc và màu lương thực) hoặc cơ quan thu mua thanh tóan (đối với các lọai nông sản khác) đã nộp vào ngân sách Nhà nước, Phòng Tài chính quận, huyện lập chứng từ thay UBND các xã, phường nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền thu thuế nông nghiệp bằng các lọai hiện vật để lại cho xã, phường theo mức giá nói trên tương ứng với 10% các lọai hiện vật đã được các cơ quan lương thực và thu mua thanh tóan. Ngân hàng quận, huyện sau khi nhận được chúng từ nộp tiền thuế nông nghiệp của các xã, phường do Phòng Tài chính chuyển đến, tiến hành hạch tóan ghi nợ Tài khỏan 700 (tiền gửi của ngân sách xã) và ghi có tài khỏan 630 (thu ngân sách Nhà nước); đồng thời phân chia số thu thuế nông nghiệp (bao gồm số tiền do cơ quan lương thực thu mua thanh tóan và số tiền các xã, phường nộp vào Ngân sách Nhà nước) cho các cấp ngân sách được hưởng theo tỷ lệ điều tiết quy định như sau: - Ghi thu cho ngân sách Trung ương 50% (Tài khỏan 640) - Ghi thu cho ngân sách các xã, phường 10% (Tài khỏan 700 tiền gửi của ngân sách xã). - Còn lại 40% ghi thu cho ngân sách tỉnh và ngân sách quận, huyện (theo tỷ lệ (%) điều tiết do UBND tỉnh quy định cho ngân sách tỉnh, ngân sách huyện được hưởng).
-
Sở Tài chính các tỉnh căn cứ vào tỷ lệ điều tiết các khỏan thu về thuế công thương nghiệp, thuế nông nghiệp quy định tại quyết định số 141/HĐBT ngày 6/9/1988 của Hội đồng Bộ trưởng, tiến hành xác định tỷ lệ (%) số thu dành cho ngân sách cấp tỉnh và ngân sách của từng quận huyện được hưởng trình UBND tỉnh quyết định gửi cho UBND, Phòng Tài chính và Ngân hàng quận, huyện, đồng gửi Ngân hàng Nhà nước tỉnh.
-
Sở Tài chính tỉnh hướng dẫn các Phòng Tài chính và Ngân hàng quận, huyện bắt đầu từ 1/7/1988 phải thi hành đúng việc phân chia các khỏan thu thuế công thương nghiệp, thuế nông nghiệp giữa các cấp ngân sách theo tỷ lệ (%) mà Hội đồng Bộ trưởng và UBND tỉnh đã quy định cho từng cấp ngân sách được hưởng.
-
Đối với các khỏan thu thuế công thương nghiệp, thuế nông nghiệp thực thu vào Ngân sách Nhà nước từ 1/7/1988 trở đi đã phân chia theo tỷ lệ điều tiết cũ sẽ được điều chỉnh trên sổ sách và báo cáo kế tóan thu ngân sách Nhà nước của cơ quan Tài chính và Ngân hàng từ quận, huyện đến Trung ương theo trình tự sau đây: a. Phòng Tài chính và Ngân hàng chuyên doanh quận, huyện tổng hợp theo lũy kế của chương, lọai, khỏan, hạng, mục thu thuế công thương nghiệp và mục thu thuế nông nghiệp (theo mẫu số 1 đính kèm). Số liệu phản ánh trên báo cáo này chia làm 2 phần: - Tổng số thu thuế công thương nghiệp, thuế nông nghiệp thực thu vào Ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm 1988 và số thu vào mỗi cấp ngân sách (ngân sách Trung ương, ngân sách tỉnh, ngân sách quận, huyện và ngân sách xã, phường). - Tổng số thu thuế công thương nghiệp, thuế nông nghiệp từ 1/7/1988 đến ngày thực hiện điều chỉnh theo thông tư hướng dẫn này và số thực thu vào mỗi cấp ngân sách như trên theo tỷ lệ điều tiết cũ quy định tại công văn số 354 TC/NSĐP ngày 28/5/1986 của Bộ Tài chính. Báo cáo này phải có cơ quan Tài chính, Ngân hàng quận, huyện xác nhận và gửi về Sở Tài chính, Ngân hàng Nhà nước tỉnh chậm nhất vào ngày 31/10/1988 . Nếu trong tháng 10/1988 còn có các quận, huyện vẫn thực hiện theo tỷ lệ điều tiết cũ thì khi lập báo cáo (theo mẫu số 2) phải tổng hợp số lũy kế thu thuế công thương nghiệp và thuế nông nghiệp từ 1/7/1988 đến ngày lập báo cáo và sau ngày lập báo cáo phải thực hiện theo tỷ lệ điều tiết mới đã quy định giữa các cấp ngân sách. b. Sở Tài chính tỉnh căn cứ số liệu báo cáo thu thuế công thương nghiệp, thuế nông nghiệp từ 1/7/1988 đến ngày báo cáo của các quận, huyện gửi lên, kiểm tra đối chiếu với tỷ lệ (%) điều tiết quy định cho mỗi cấp ngân sách được hưởng và thông báo điều chỉnh các lọai thuế có quan hệ đến sửa đổi tỷ lệ điều tiết số thu giữa các cấp ngân sách (theo mẫu số 2 đính kèm), gửi cho Ngân hàng Nhà nước tỉnh xác nhận; sau đó gửi cho các Phòng Tài chính và Ngân hàng chuyên doanh quận, huyện chậm nhất vào ngày 10/11/1988 để thực hiện việc điều chỉnh. Sở Tài chính phải gửi thông báo điều chỉnh này kèm theo báo cáo tổng hợp điều chỉnh tòan bộ số thu thuế công thương nghiệp, thuế nông nghiệp giữa các cấp ngân sách trên địa bàn theo tỷ lệ điều tiết mới từ 1/7/1988 (theo mẫu số 2 đính kèm) có xác nhận của Ngân hàng Nhà nước tỉnh gửi về Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Trung ương (Vụ chấp hành qũy Ngân sách Nhà nước) chậm nhất vào ngày 20/11/1988, để kiểm tra và xử lý quan hệ giữa ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương. c. Ngân hàng chuyên doanh và Phòng Tài chính quận, huyện sau khi nhận được thông báo điều chỉnh số thu thuế công, thương nghiệp, thuế nông nghiệp giữa các cấp ngân sách do Sở Tài chính tỉnh gửi, thực hiện việc điều chỉnh sổ sách kế tóan và phản ánh đầy đủ, chính xác vào báo cáo thu ngân sách Nhà nước phát sinh trên địa bàn quận, huyện trong tháng đó.
-
Đối với số thu thuế công thương nghiệp, thuế nông nghiệp thực hiện tại các quận, huyện chưa phân cấp quản lý ngân sách, hàng tháng vẫn do Sở Tài chính thực hiện tổng hợp và lập báo cáo kế tóan thu, chi vào ngân sách cấp tỉnh, thì nay Sở Tài chính cũng phải lập bảng điều chỉnh (theo mẫu số 1 và số 2 đính kèm) gửi Ngân hàng Nhà nước tỉnh thực hiện việc điều chỉnh như Ngân hàng chuyên doanh các quận, huyện.
-
Việc điều chỉnh số thu thuế công thương nghiệp, thuế nông nghiệp giữa các cấp ngân sách theo tỷ lệ điều tiết mới từ 1/7/1988 phải bảo đảm đúng số thu vào của mỗi cấp ngân sách theo quy định của Hội đồng Bộ trưởng tại quyết định số 141-HĐBT ngày 6/9/1988 và Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính. Đây là trách nhiệm và những công việc nghiệp vụ cụ thể của cơ quan Tài chính, Ngân hàng Nhà nước và Ngân hàng chuyên doanh các cấp phải làm xong trước ngày 30/11/1988 .
-
Tổng số thu về thuế công thương nghiệp, thuế nông nghiệp trong qũy ngân sách Nhà nước không thay đổi, chỉ thay đổi số thu của từng cấp ngân sách và từ đó có ảnh hưởng đến tồn qũy của mỗi cấp ngân sách. Để bảo đảm tồn qũy ở mỗi cấp ngân sách không âm (-) việc xuất qũy của ngân sách cấp dưới để thóai trả số thu cho ngân sách cấp trên được xử lý như sau: a. Việc điều chỉnh các khỏan thu thuế nông nghiệp và thuế công thương nghiệp giữa các cấp ngân sách theo tỷ lệ điều tiết mới từ 1/7/1988, cơ quan Ngân hàng chuyên doanh quận, huyện lập bút tóan điều chỉnh trên sổ sách kế tóan thu Ngân sách Nhà nước theo chương, lọai, khỏan, hạng, mục thu và đúng nội dung thông báo điều chỉnh của Sở Tài chính tỉnh đã có xác nhận của Ngân hàng Nhà nước tỉnh. Trên báo cáo thu ngân sách Nhà nước tháng 9 hoặc tháng 10 phải thể hiện số liệu điều chỉnh này, không được kéo dài sang tháng 12 năm 1988 hoặc trong thời gian chỉnh lý quyết tóan. b. Khi điều chỉnh số thu giữa các cấp ngân sách, Ngân hàng Nhà nước tỉnh căn cứ báo cáo điều chỉnh (theo mẫu số 2 đính kèm) của Sở Tài chính gửi đến làm chứng từ để điều chỉnh sổ sách kế tóan và báo cáo thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn, tính theo chương, lọai, khỏan, hạng mục của mục lục ngân sách Nhà nước; đồng thời lập chứng từ ghi nợ tài khỏan 670 Ngân sách tỉnh và giấy báo có liên hàng đi cho Vụ chấp hành qũy ngân sách (Ngân hàng Trung ương) để ghi có cho tài khỏan 640 thu ngân sách Trung ương. Trường hợp tồn qũy ngân sách tỉnh không đủ để thóai trả cho ngân sách trung ương, Sở Tài chính phải báo cáo UBND tỉnh xin tạm vay Qũy dự trữ tài chính của địa phương để thanh tóan. Nếu Qũy dự trữ tài chính của tỉnh không còn thì UBND tỉnh báo cáo Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Trung ương, (Vụ chấp hành qũy ngân sách) (theo mẫu số 3 đính kèm) xem xét giải quyết trợ cấp cho ngân sách địa phương (nếu có kế họach trợ cấp qúy IV và năm 1988), hoặc cho ngân sách địa phương vay số tiền chênh lệch thiếu để thanh tóan. Đề nghị UBND tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương tổ chức hướng dẫn, chỉ đạo cơ quan Tài chính - Ngân hàng các cấp thực hiện đúng thông tư hướng dẫn này. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn vướng mắc, đề nghị phản ảnh hoặc trao đổi trực tiếp với Bộ Tài chính để giải quyết kịp thời.
Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/thong-tu-so-46-tc-nsnn-huong-dan-thi-hanh-quyet-dinh-so-141-h-bt-ngay-6-9-1988-cua-hoi-dong-bo-truong-ve-viec-sua-doi-ty-le-dieu-tiet-mot-so-khoan-thu-ve-thue-cho-ngan-sach-dia-phuong--80183.
Dịch vụ liên quan
Văn bản liên quan
- Hướng dẫn thi hành của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế Bảo vệ môi trường
- Sửa đổi, bổ sung một số điều của của Bô trưởng Bộ Tài chính quy đinh mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý yà sử dụng phí thẩm định điều kiện thuộc lĩnh vực an ninh; phí sát hạch cấp chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ; lệ phí cấp giấy phép quản lý pháo; lệ phí cấp giẩy phép quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ
- Sửa đổi, bổ sung một số điều của của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thâm định cấp giấy chứng nhân an toàn sinh hoc biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi
- Hướng dẫn miễn lệ phí quốc tịch, lệ phí hộ tịch, đăng ký cư trú cho người được phép cư trú theo quy định của Thỏa thuận giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào về việc giải quyết vấn đề người di cư tự do, kết hôn không giá thú trong vùng biên giới hai nước khi làm các thủ tục về quốc tịch, đăng ký hộ tịch, đăng ký cư trú và các giấy tờ khác liên quan đến nhân thân
- Quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí xác nhận đủ điều kiện về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất
- Quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thẩm định phương án cải tạo, phục hồi môi trường; phương án cải tạo, phục hồi môi trường bổ sung do cơ quan trung ương thực hiện thẩm định
- Quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thẩm định cấp giấy chứng nhận an toàn sinh học biến đổỉ gen đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi
- Quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí hoạt động chứng khoán áp dụng tại các Sở giao dịch chứng khoán và Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam