Thông tư số 33-TC/CNHướng dẫn trao quyền sử dụng, trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn sản xuất - kinh doanh cho các đơn vị kinh tế cơ sở quốc doanh theo của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng
- Số hiệu
- 33-TC/CN
- Loại văn bản
- Thông tư
- Cơ quan ban hành
- Bộ Tài chính
- Ngày ban hành
- 29/05/1991
- Lĩnh vực
- Tài chính doanh nghiệp
Toàn văn
THÔNG TƯ CỦA BỘ TÀI CHÍNH Hướng dẫn thực hiện trao quyền sử dụng, trách nhiệm bảo tòan và phát triển vốn sản xuất - kinh doanh cho các đơn vị kinh tế cơ sở quốc doanh theo chỉ thị số 138/CT ngày 25/4/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Thi hành chỉ thị số 138/CT ngày 25/4/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc mở rộng diện trao quyền sử dụng, trách nhiệm bảo tòan và phát triển vốn sản xuất - kinh doanh cho các đơn vị cơ sở kinh tế quốc doanh;
Căn cứ vào bản quy định những nguyên tắc, nội dung trao quyền sử dụng, trách nhiệm bảo tòan và phát triển vốn ban hành kèm theo Chỉ thị này của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng; Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể việc thực hiện những quy định trên như sau: I. ĐIỀU KIỆN VÀ ĐỐI TƯỢNG ĐƯỢC GIAO VỐN
-
Tất cả các đơn vị kinh tế cơ sở cần quán triệt mục đích, yêu cầu ý nghĩa, tầm quan trọng của việc giao nhận, bảo tòan và phát triển vốn như đã xác định trong Chỉ thị 138/CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Các Bộ và UBND các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương chỉ đạo các đơn vị kinh tế quốc doanh trực thuộc thực hiện việc sắp xếp, tổ chức lại sản xuất, rà sóat lại vốn cố định, vốn lưu động và năng lực sản xuất - kinh doanh của đơn vị, các điều kiện đảm bảo cho sản xuất - kinh doanh tương đối ổn định, hạch tóan có lãi thực sự. Trước khi tiến hành việc giao nhận vốn, cần phân định chính xác các lọai vốn hiện có ở xí nghiệp theo những qui định thống nhất dưới đây; đồng thời tiến hành thanh xử lý vốn ứ đọng, không cần dùng, đảm bảo sử dụng vốn hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả. Những đơn vị bị thua lỗ kéo dài không có khả năng thanh tóan và thuộc diện phải giải thể thì không được giao vốn, kiên quyết cho giải thể theo Quyết định số 315/HĐBT ngày 01/9/1990 của Hội đồng Bộ trưởng và Thông tư hướng dẫn số 54-TC/CN ngày 13/11/1990 của Bộ Tài chính. Riêng những xí nghiệp có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân tuy còn bị lỗ, hoặc được trợ giá theo quyết định của Nhà nước (như Công ty điện lực 3 miền Trung thuộc Bộ Năng lượng, các xí nghiệp sản xuất ngành phân bón Bộ Công nghiệp nặng v.v..) vẫn được xem xét để giao vốn.
-
Đối tượng được giao vốn là các liên hiệp xí nghiệp, Tổng Công ty, Công ty hạch tóan kinh tế độc lập và tập trung (Liên hiệp xí nghiệp cứng), các xí nghiệp quốc doanh hạch tóan kinh tế độc lập (gọi chung là xí nghiệp), kể cả các đơn vị sản xuất - kinh doanh thuộc Bộ Quốc phòng, Nội vụ... đã được Nhà nước ra quyết định thành lập, được cấp phát vốn và kinh doanh có hiệu quả, được chấp nhận sự tồn tại và phát triển. Đối với các LHXN không hạch tóan tập trung (LHXN mềm) thì đối tượng được giao vốn là các xí nghiệp hạch tóan kinh tế độc lập trực thuộc liên hiệp và phần vốn do Liên hiệp trực tiếp quản lý. Tuy nhiên, để phục vụ cho yêu cầu quản lý, Liên hiệp cần tổng hợp tòan bộ số vốn được giao cho các đơn vị trực thuộc, bao gồm nguồn ngân sách cấp, nguồn tự bổ sung của xí nghiệp. Các XN đời sống, dịch vụ do các cơ quan hành chính - sự nghiệp NN, các tổ chức Đảng, đòan thể, các hội thành lập nhằm giải quyết việc làm và tăng thêm thu nhập cho CNV cần được kiểm tra, xem xét đăng ký kinh doanh và họat động theo qui định tại Quyết định số 268/CT ngày 30/7/1990 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính các đơn vị này chưa thực hiện việc giao nhận vốn trong đợt này. II. NỘI DUNG VÀ PHẠM VI CÁC LỌAI VỐN GIAO CHO XN A. CÁC LỌAI VỐN ĐƯỢC GIAO CHO XN BAO GỒM :
-
Vốn cố định, tức nguyên giá của tòan TSCĐ hiện có tại XN; trừ đi hao mòn TSCĐ tính theo giá hiện hành xác định đến thời điểm giao vốn, bao gồm cả của TSCĐ đang dùng, chưa dùng, không cần dùng cần điều đi và chờ thanh lý hoặc vốn giữ hộ NS, thuộc nguồn vốn NS cấp, coi như NS cấp và nguồn vốn tự bổ sung của xí nghiệp.
-
Vốn lưu động thuộc nguồn ngân sách cấp và nguồn vốn tự bổ sung của XN, bao gồm cả các khỏan vốn giữ hộ NS và chênh lệch giá được bổ sung tăng vốn theo qui định hiện hành.
-
Các lọai vốn khác là nguồn coi như NS cấp và nguồn tự bổ sung của XN vào vốn cố định và vốn lưu động cũng đều được giao cho XN, bao gồm: Vốn đầu tư XDCB đã cấp chưa thành TSCĐ, kể cả vốn đầu tư XDCB dở dang. Khấu hao cơ bản để lại XN của phần TSCĐ do ngân sách cấp và phần do XN tự bổ sung. Vốn lán trại (coi như nguồn NS cấp) đã thành TSCĐ và số dư (nếu còn). Qũy khuyến khích phát triển sản xuất. Các lọai vốn trích vào giá thành như vốn SCL, chi phí trích trước. Lợi nhuận chưa phân phối. Số vốn sản xuất - kinh doanh đã đưa đi liên doanh liên kết hoặc mua cổ phần ở trong nước và ngòai nước. Các qũy dự trữ tài chính, qũy dự phòng, qũy rủi ro, qũy bảo tòan vốn (nếu có). B. KHÔNG GIAO CHO XÍ NGHIỆP CÁC LỌAI VỐN DƯỚI ĐÂY: Các khỏan vốn vay chưa trả hết nợ, bao gồm: vốn tín dụng ngân hàng, vốn vay khác, kể cả nguồn vay nước ngòai do xí nghiệp tự vay, tự trả trực tiếp. Vốn nhận liên doanh liên kết, nhận cổ phần, vốn chiếm dụng khách hàng, vốn trong thanh tóan. Các lọai qũy khen thưởng, qũy phúc lợi, các khỏan do ngân sách cấp kinh phí chuyên dùng như y tế, đào tạo (nếu có).. C. Những điều cần chú ý khi xác định các nguồn vốn ngân sách cấp và nguồn vốn tự bổ sung của xí nghiệp.
-
Vốn ngân sách Nhà nước cấp bao gồm: Vốn ngân sách Nhà nước cấp phát lần đầu, hoặc từ vốn ngân sách đầu tư bàn giao sang cho sản xuất, khi xí nghiệp mới họat động. Vốn ngân sách Nhà nước cấp bổ sung trong quá trình họat động. Vốn coi như ngân sách cấp hoặc có nguồn gốc từ ngân sách hình thành từ các nguồn: Vốn được tiếp quản từ chế độ cũ để lại; Các nguồn vốn viện trợ: Viện trợ nhân dân, viện trợ của các nước và các tổ chức quốc tế, quà tặng theo quy định phải ghi tăng vốn ngân sách cấp; Vốn sản xuất kinh doanh thuộc các nguồn vốn vay Nhà nước theo Hiệp định và do Nhà nước trả nợ vay. Trường hợp xí ngiệp có sử dụng vốn vay Nhà nước theo Hiệp định Chính phủ, đồng thời có tham gia trả nợ vay thì vẫn coi như vốn ngân sách cấp nhưng có qui định riêng về chế độ thu nộp khấu hao nhằm tạo điều kiện cho xí nghiệp có nguồn trả nợ nước ngòai. Chênh lệch giá TSCĐ, vật tư, hàng hóa tồn kho qua các lần kiểm kê, điều chỉnh giá, kể cả bằng nguồn tín dụng ngân hàng và chiếm dụng nợ khách hàng, đã được để lại bổ sung vốn theo chế độ qui định. Nguyên tắc chung về việc xử lý các khỏan chênh lệch giá nói trên là : Tài sản thuộc nguồn vốn xí nghiệp tự bổ sung, có chênh lệch giá thì tăng vốn xí nghiệp bổ sung; Tài sản thuộc vốn ngân sách, cấp hoặc không phải vốn ngân sách cấp mà chiếm dụng vốn ngân sách, vốn vay Ngân hàng, vốn của khách hàng.... nếu phát sinh chênh lệch giá đều trở thành tăng vốn ngân sách cấp (trừ trường hợp phải thanh tóan cả phần chênh lệch giá cho các chủ nợ); Chênh lệch giá bán hàng theo giá thỏa thuận được để lại bổ sung vốn lưu động theo quyết định của Bộ Tài chính (nếu có); Các khỏan lợi nhuận, khấu hao cơ bản... phải nộp ngân sách được cấp có thẩm quyền cho phép giữ lại để bổ sung vốn (nếu có); Khấu hao cơ bản để lại xí nghiệp của phần tài sản cố định thuộc nguồn vốn ngân sách cấp.
-
Vốn xí nghiệp tự bổ sung được hình thành chủ yếu từ nguồn qũy khuyến khích phát triển sản xuất hoặc từ phần lợi nhuận để lại xí nghiệp. Khi xác định vốn cố định và vốn lưu động thuộc nguồn xí nghiệp tự bổ sung phải căn cứ vào chứng từ, sổ sách kế tóan để chứng minh số vốn xí nghiệp đã bổ sung từ các qũy xí nghiệp. Mọi trường hợp không chứng minh được bằng chứng từ tài liệu kế tóan đều phải tính vào vốn ngân sách cấp.
-
Đối với tài sản cố định (và vốn cố định) xây dựng, mua sắm từ nguồn trích vào giá thành, phí lưu thông, phí nghiệp vụ Ngân hàng, phí ủy thác v.v... hoặc trích từ nguồn lợi nhuận thực hiện (chưa phân phối) thì được phân chia vào 2 nguồn vốn: Ngân sách cấp và xí nghiệp tự bổ sung tương ứng với tỷ lệ phân phối lợi nhuận đã quy định đối với xí nghiệp.
-
Các lọai vốn vay sau khi đã trả hết nợ vay và lãi suất tiền vay được phân định thành vốn Ngân sách cấp hoặc vốn xí nghiệp tự bổ sung theo các qui định dưới đây: Đối với vốn vay ngòai nước: Trường hợp vốn vay theo Hiệp định Nhà nước thì qui định như mục 1 nói trên. Trường hợp Ngân hàng Ngọai thương đứng ra vay hoặc bảo lãnh trả nợ nước ngòai thay cho xí nghiệp mà xí nghiệp đã trả hết nợ và lãi suất tiền vay cho Ngân hàng trong nước thì giá trị còn lại của tài sản cố định được tính vào vốn ngân sách cấp. Trường hợp xí nghiệp tự vay tự trả trực tiếp thì căn cứ vào các nguồn vốn xí nghiệp dùng để trả nợ nước ngòai sau đây để xử lý: Nếu xí nghiệp trả nợ vay và lãi suất vay bằng nguồn khấu hao cơ bản chung (bao gồm TSCĐ thuộc ngân sách cấp và tài sản cố định đi vay đó) và nguồn lợi nhuận thực hiện chung thì giá trị còn lại của TSCĐ được phân định vào vốn ngân sách cấp và vốn xí nghiệp tự bổ sung tương ứng với tỷ lệ phân phối lợi nhuận (% lợi nhuận để lại xí nghiệp). Nếu xí nghiệp trả nợ vay và lãi suất tiền vay bằng nguồn KHCB của tài sản cố định đi vay và tự bổ sung bằng phần lợi nhuận để lại xí nghiệp sau khi đã hòan thành nghĩa vụ thu nộp ngân sách thì giá trị còn lại của TSCĐ được tính vào vốn xí nghiệp tự bổ sung. Đối với các lọai vốn vay trong nước: Vốn vay dài hạn ngân hàng để XDCB trả bằng nguồn khấu hao cơ bản chung (bao gồm cả TSCĐ thuộc vốn ngân sách cấp và vốn vay đó) và nguồn lợi nhuận thực hiện chung của xí nghiệp mà đã trả hết nợ vayvà lãi suất tiền vay thì giá trị còn lại của TSCĐ được tính vào vốn ngân sách cấp và vốn xí nghiệp tự bổ sung tương ứng với tỷ lệ phân phối lợi nhuận (% lợi nhuận nộp ngân sách và % lợi nhuận để lại xí nghiệp). Vốn vay dài hạn ngân hàng để xây dựng cơ bản trả bằng phần lợi nhuận để lại xí nghiệp và khấu hao cơ bản của tài sản cố định đi vay và tự bổ sung mà đã trả hết nợ vay và lãi suất tiền vay thì giá trị còn lại của tài sản cố định được tính vào vốn xí nghiệp tự bổ sung. Mọi lọai vay khác của Ngân hàng, của các tổ chức, cá nhân.. . để XDCB sau khi đã trả hết nợ vay và và lãi suất tiền vay thì cũng được phân định thành vốn Ngân sách cấp và vốn xí nghiệp tự bổ sung theo các nguyên tắc nêu trên. III. THỦ TỤC VÀ TỔ CHỨC VIỆC GIAO NHẬN VỐN CHO CÁC ĐƠN VỊ KINH TẾ CƠ SỞ:
-
Các Bộ chủ quản cùng với Bộ Tài chính, UBND các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương thành lập các hội đồng giao nhận vốn cho xí nghiệp, do Bộ chủ quản và UBND ra quyết định thành lập. Chủ tịch Hội đồng là đại diện của cơ quan tài chính (đại diện Bộ Tài chính đối với đơn vị xí nghiệp Trung ương và đại diện Sở Tài chính - đối với đơn vị xí nghiệp địa phương). Các đơn vị, xí nghiệp trực thuộc Bộ, Sở chủ quản thì Bộ (Sở) chủ quản là bên giao vốn. Các xí nghiệp cấp quận, huyện, nếu do quận, huyện ra quyết định thành lập thì UBND quận, huyện là người giao vốn và đại diện cơ quan tài chính cấp trên của quận, huyện (Sở Tài chính) làm Chủ tịch Hội đồng giao vốn. Đối với các Tổng công ty, Công ty và Liên hiệp xí nghiệp không hạch tóan tập trung (LHXN mềm) thì Bộ (Sở) chủ quản giao vốn trực tiếp cho các xí nghiệp hạch tóan kinh tế độc lập trực thuộc Liên hiệp. Bộ (Sở) chủ quản có thể ủy nhiệm cho Tổng công ty, Công ty, Liên hiệp giao vốn cho một số đơn vị nhỏ trực thuộc. Đối với các Tổng công ty, Công ty, Liên hiệp xí nghiệp hạch tóan tập trung (LHXN cứng) thì Bộ (Sở) chủ quản giao vốn cho liên hiệp. Tổng Công ty, Công ty, Liên hiệp xí nghiệp giao vốn cho các đơn vị trực thuộc trên cơ sở số vốn đã nhận. Khi Tổng Công ty, Công ty và Liên hiệp xí nghiệp Trung ương giao vốn cho các đơn vị trực thuộc, nếu trường hợp Bộ Tài chính không có điều kiện cử người làm Chủ tịch Hội đồng thì phân cấp cho các Sở Tài chính địa phương hoặc đại diện các Vụ tài vụ Bộ chủ quản làm Chủ tịch Hội đồng; nhưng nhất thiết phải có đại diện cơ quan tài chính các cấp tham gia thành viên hội đồng để chứng kiến việc giao vốn cho các xí nghiệp trực thuộc và ký trong biên bản giao vốn cho xí nghiệp. Các thành viên chính thức của Hội đồng giao nhận vốn bao gồm:
-
Chủ tịch Hội đồng giao nhận vốn (đại diện cơ quan tài chính);
-
Đại diện bên giao vốn;
-
Đại diện cơ quan quản lý cấp trên xí nghiệp (áp dụng đối với trường hợp giao vốn cho xí nghiệp hạch tóan kinh tế độc lập có cấp trên là Tổng Công ty, Công ty, Liên hiệp xí nghiệp không hạch tóan tập trung - LHXN mềm).
-
Đại diện bên nhận vốn: Giám đốc xí nghiệp; Chủ tịch Hội đồng xí nghiệp (nếu có); Kế tóan trưởng xí nghiệp.
-
Những người chứng kiến: Đại diện cơ quan trọng tài kinh tế hoặc đại diện cơ quan công chứng; Đại diện công đòan xí nghiệp. Các thành viên chính thức nói trên đều phải ký vào biên bản giao nhận vốn. Bên giao vốn sau khi thống nhất ý kiến với cơ quan tài chính, ra quyết định thành lập Hội đồng giao nhận vốn và đồng thời ra quyết định thành lập tổ chuyên viên giúp việc Hội đồng. Trong tổ chuyên viên nhất thiết phải có đại diện cơ quan tài chính: chuyên viên quản lý tài vụ - Bộ Tài chính (đối với đơn vị xí nghiệp Trung ương) và Sở Tài chính (đối với đơn vị xí nghiệp địa phương). Ngòai ra, trường hợp Bộ (Sở) Tài chính không có điều kiện cử đủ cán bộ tham gia tổ chuyên viên giúp việc Hội đồng thì có thể ủy nhiệm và yêu cầu Cục thuế địa phương cử cán bộ tham gia tổ chuyên viên giúp việc Hội đồng. Lễ giao vốn cần được tổ chức gọn nhẹ, nghiêm túc, trên cơ sở chuẩn bị tốt và chính xác các số liệu cụ thể. Có thể tổ chức lễ giao vốn tập trung một lúc cho nhiều đơn vị xí nghiệp trong cùng một Tổng Công ty, Công ty, LHXN.
-
Hồ sơ giao nhận vốn bao gồm: Biên bản giao nhận vốn (theo mẫu "phụ lục 1" đính kèm); Bảng tổng kết tài sản đến thời điểm giao vốn. Các biểu tính tóan và giải trình kèm theo; Biểu tính tóan các lọai vốn giao cho xí nghiệp (Phụ lục đính kèm); Báo cáo chính thức kết quả kiểm kê và đánh giá lại vốn sản xuất - kinh doanh và biên bản phúc tra kiểm kê 1/1/1990; Biên bản kiểm tra và xét duyệt quyết tóan 1990 của xí nghiệp; Bảng kê chi tiết các TSCĐ và tài sản lưu động không cần dùng, chưa dùng, chờ thanh lý, cần điều đi đến 1/1/1990; Các tài liệu giải trình cần thiết khác kèm theo (nếu cần). Cần lưu ý rằng số liệu phúc tra kiểm kê và xét duyệt quyết tóan năm 1990 của xí nghiệp chưa phải là căn cứ cuối cùng để xác định số vốn giao cho xí nghiệp, mà tổ chuyên viên giúp việc Hội đồng cần kiểm tra, tính tóan xác định lại một cách chính xác số liệu các lọai vốn giao cho xí nghiệp, theo đúng những nguyên tắc qui định tại mục II thông tư này và lập hồ sơ trình Hội đồng giao nhận vốn xem xét quyết định. Hồ sơ giao nhận vốn ít nhất phải lập thành 5 quyển: 1 quyển bên giao vốn, 1 quyển bên nhận vốn, 1 quyển gửi cơ quan quản lý cấp trên của xí nghiệp, 1 quyển gửi cơ quan tài chính, 1 quyển gửi cơ quan thuế địa phương nơi xí nghiệp đóng. Kể từ thời điểm giao nhận vốn, hàng năm xí nghiệp phải bổ sung vào các quyển hồ sơ nói trên bảng tổng kết tài sản mới được duyệt với các số liệu về số vốn sản xuất - kinh doanh đã bảo tòan được, số vốn phải bảo tòan, và các số liệu về tăng, giảm vốn đã giao cho xí nghiệp.
-
Thời điểm xác định số liệu để giao vốn đợt này là 1/1/1991, trên cơ sở số liệu kiểm kê 1/1/1990 và số tăng, giảm vốn trong năm 1990. Thời gian tiến hành mở rộng việc giao vốn cho các đơn vị cơ sở quốc doanh là đến đầu tháng 7/1991 cần hòan thành về cơ bản đối với những đơn vị lớn; một số đơn vị nhỏ không có vai trò quan trọng nhiều trong nền kinh tế quốc dân, có thể lui sang qúy 3/1991. Do đó các đơn vị xí nghiệp cần khẩn trương hòan thành quyết tóan và xét duyệt quyết tóan 1990 để thực hiện việc giao vốn kịp thời. Trong khi chưa giao vốn chính thức thì đơn vị xí nghiệp vẫn thực hiện việc tạm nộp tiền sử dụng vốn theo các qui định hiện hành. IV. ĐIỀU KHỎAN THI HÀNH
-
Bộ Tài chính có thông tư hướng dẫn riêng về chế độ bảo tòan vốn đã giao cho xí nghiệp. Đối với ngành ngân hàng, chế độ giao vốn và bảo tòan vốn được quy định trong 1 thông tư riêng. Riêng đối với các xí nghiệp, Công ty sản xuất - kinh doanh hạch tóan kinh tế độc lập trong ngành ngân hàng thì áp dụng theo các qui định của Thông tư này.
-
Thông tư này thay thế cho các Thông tư số 41-TC/VKH ngày 18/9/1990 và Thông tư số 51-TC/VKH ngày 27/10/1990 của Bộ Tài chính. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn vướng mắc, đề nghị phản ánh kịp thời về Bộ Tài chính đề nghiên cứu có ý kiến giải quyết.
Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/thong-tu-so-33-tc-cn-huong-dan-trao-quyen-su-dung-trach-nhiem-bao-toan-va-phat-trien-von-san-xuat-kinh-doanh-cho-cac-don-vi-kinh-te-co-so-quoc-doanh-theo-chi-thi-so-138-ct-ngay-25-4-1991-cua-chu-tich-hoi-dong-bo-truong--11383.
Dịch vụ liên quan
Văn bản liên quan
- Hướng dẫn cơ chế sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước chi thường xuyên hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định tại của Chính phủ
- Sửa đổi, bổ sung và ngưng hiệu lực thi hành một số điều tại các Nghị định quy định về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế
- Sửa đổi, bổ sung một số điều của của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn cơ chế quản lý tài chính đối với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
- Bãi bỏ của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn một số nội dung về Quỹ dự phòng rủi ro, bồi thường thiệt hại về môi trường theo quy định tại của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Bảo vệ môi trường
- Sửa đổi, bổ sung một số điều của của Bộ Tài chính hướng dẫn một số nội dung về xử lý tài chính, xác định giá trị đơn vị sự nghiệp công lập, bán cổ phần lần đầu và quản lý, sử dụng tièn thu từ chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần
- Về cơ chế xử lý tài chính cho Tập đoàn Dầu khí Việt Nam khi thanh toán khoản tiền bù giá trong bao tiêu sản phẩm của Dự án liên hợp lọc hóa dầu Nghi Sơn
- Hướng dẫn một số điều của của Chính phủ về quản lý, sử dụng nguồn thu từ chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập, nguồn thu từ chuyển nhượng vốn nhà nước và chênh lệch vốn chủ sở hữu lớn hơn vốn điều lệ tại doanh nghiệp
- Sửa đổi, bổ sung một số điều của của quy định về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế