Thông tư số 69-TC/ÐThướng dẫn việc thu nộp và sử dụng tiền bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước cho người đang thuê

Số hiệu
69-TC/ÐT
Loại văn bản
Thông tư
Cơ quan ban hành
Bộ Tài chính
Ngày ban hành
16/08/1994

Toàn văn

THÔNG TƯ CỦA BỘ TÀI CHÍNH SỐ 69-TC/ĐT NGÀY 17-8-1994 HƯỚNG DẪN VIỆC THU NỘP VÀ SỬ DỤNG TIỀN BÁN NHÀ Ở THUỘC SỞ HỮU NHÀ NƯỚC CHO NGƯỜI ĐANG THUÊ

Căn cứ vào Nghị định số 61-CP ngày 5-7-1994 của Chính phủ về mua bán và kinh doanh nhà ở, Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện việc thu nộp, sử dụng tiền bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước cho người đang thuê như sau: I. QUY ĐỊNH CHUNG

  1. Việc chuyển giao nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước do các cơ quan hành chính sự nghiệp, lực lượng vũ trang, đòan thể nhân dân, tổ chức chính trị - xã hội, các doanh nghiệp Nhà nước hiện đang quản lý cho các công ty kinh doanh nhà ở phải thực hiện theo chế độ bàn giao tài sản và giao vốn, bảo tòan vốn theo quy định hiện hành của Nhà nước.

  2. Các Giám đốc Công ty kinh doanh nhà cấp tỉnh, thành phố thuộc Trung ương, Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố thuộc tỉnh, thị xã, quận, huyện nơi chưa có Công ty kinh doanh nhà (sau đây gọi là bên bán nhà ở), hiện đang quản lý hoặc được nhân chuyển giao quản lý qũy nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước (nói tại điểm 2, Điều 8, Nghị định 61-CP), khi bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước phải thực hiện việc thu nộp tiền bán nhà ở theo quy định tại Thông tư này.

  3. Người được mua nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước là người đang thuê nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước.

  4. Tiền bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước được xá định trên cơ sở: - Quyết định bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. - Hợp đồng mua bán nhà ở đã được các bên mua bán nhà ở ký kết. Tiền bán nhà ở bao gồm: Tiền bán nhà ở (căn cứ vào giá trị còn lại của nhà ở) và tiền đất ở khi chuyển quyền sử dụng.

  5. Qũy nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước bán cho người đang thuê bao gồm: - Nhà ở tạo lập bằng vốn Ngân hàng Nhà nước (Trung ương, địa phương) dưới các hình thức: đầu tư xây dựng mới và giao cho ngành nhà đất địa phương quản lý; Đầu tư trực tiếp cho các cơ quan hành chính sự nghiệp, lực lượng vũ trang, tổ chức Đảng, đòan thể quần chúng (gọi chung là đơn vị sự nghiệp kinh tế) để phân phối nhà ở cho CBCNV; Đầu tư xây dựng mới nhà ở cho CBCNV doanh nghiệp Nhà nước; Mua nhà ở để phân phối cho CBCNV. - Nhà ở tạo lập bằng nguồn vốn của các đơn vị hành chính sự nghiệp, doanh nghiệp Nhà nước có nguồn gốc từ vốn ngân sách Nhà nước. - Nhà ở có nguồn gốc sở hữu khác đã được chuyển sang sở hữu Nhà nước. - Nhà ở tạo lập bằng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước và một phần tiền góp của cá nhân, tổ chức.

  6. Các bên bán nhà ở, bên chuyển giao nhà ở (nói tại điểm 2, Điều 8, Nghị định số 61-CP) phải phối hợp với cơ quan quản lý tài chính trực tiếp để theo dõi, xác nhận qũy nhà ở, đất đai sử dụng, vốn nhà ở và vốn đất ở khi thực hiện bán nhà ở và chuyển giao nhà ở theo chế độ quản lý tài sản cố định, quản lý đất đai hiện hành.

  7. Tòan bộ tiền thu về bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước, phải nộp vào ngân sách Nhà nước, qua Kho bạc Nhà nước. Tiền thu về bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước bao gồm: tiền bán nhà ở, tiền đất ở khi chuyển quyền sử dụng, tiền phạt do người mua vi phạm hợp đồng.

  8. Chế độ ưu đãi về nhà ở và đất ở đối với những người có công được thực hiện theo chính sách người có công. II. THU NỘP TIỀN BÁN NHÀ Ở THUỘC SỞ HỮU NHÀ NƯỚC

  9. Thanh tóan tiền mua nhà ở.

a) Bên bán nhà ở căn cứ vào hợp đồng mua bán nhà ở đã ký kết với bên mua, lập chứng từ thu tiền bán nhà ở (hóa đơn thu tiền theo quy định của Bộ Tài chính). Tùy theo phương thức thanh tóan tiền mua nhà ở, đã được ghi trong hợp đồng mua bán nhà ở, chứng từ thu tiền bán nhà ở, thể hiện các nội dung thanh tóan như sau: - Thanh tóan một lần sau khi ký kết hợp đồng thì được giảm giá bán là 10%. - Thanh tóan trong thời hạn một năm thì mức trả lần đầu ngay sau khi ký hợp đồng không dưới 20% tổng số tiền phải trả, được giảm giá bán là 2%. - Thanh tóan nhiều lần nhưng thời hạn thanh tóan không quá 10 năm. Mức trả lần đầu sau khi ký hợp đồng không dưới 20% tổng số tiền phải trả; mỗi năm thanh tóan tiếp theo phải trả không dưới 8% tổng số tiền phải trả. - Số tiền còn lại được quy ra vàng 98% để làm căn cứ thanh tóan các lần sau. Số lượng vàng để thanh tóan cho mỗi lần sau được quy đổi thành tiền đồng Việt Nam và vàng 98% theo giá bán ra của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (VND) giá quy đổi giữa đồng Việt Nam và vàng 98% theo giá bán ra của Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam (công ty kinh doanh vàng bạc Nhà nước trên địa bàn) tại thời điểm thanh tóan. Ví dụ: hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước giữa ông Nguyễn Văn A (bên mua) và Công ty kinh doanh Nhà ở tỉnh N (bên bán) là 81.000.000 đ trong đó: Tiền mua nhà ở: 20.000.000 đ; Tiền đất ở khi chuyển quyền sử dụng là: 61.000.000 đ. Thời hạn thanh tóan tiền mua nhà trong 10 năm. Thanh tóan lần đầu sau khi ký hợp đồng phải trả bằng 20% giá trị hợp đồng. Các lần thanh tóan tiếp theo mỗi năm không dưới 8% tổng sổ tiền phải trả. Ông A phải thanh tóan tiền mua nhà ở như sau: + Lần thanh tóan đầu tiên: 81.000.000 đ x 20% =16.200.000 đ. Số tiền còn lại là: 64.800.000 đ được quy ra vàng 98% tại thời điểm bán theo giá: 480.000 đ/chỉ vàng. Như vậy lượng vàng được quy đổi là: 64.800.000 đ: 480.000 đ = 135 chỉ vàng, trong 9 năm còn lại, để thực hiện hết hợp đồng bên mua phải thanh tóan, cho mỗi lần tiếp theo bằng: 135 chỉ vàng: 9 = 15 chỉ vàng. + Lần thanh tóan thứ 2 (năm thứ 2) theo giá vàng 98% là 500.000 đ/chỉ, số tiền người mua thanh tóan là: 15 chỉ vàng x 500.000 đ/chỉ = 7.500.000 đ + Lần thanh tóan thứ 3 (năm thứ 3): giá vàng 98% là 450.000 đ/chỉ, người mua phải thanh tóan là: 15 chỉ vàng x 450.000 đ = 6.750.000 đ như vậy, số lượng vàng còn lại sau 2 lần thanh tóan tiếp theo là 135 chỉ - 30 chỉ = 105 chỉ vàng. Các lần thanh tóan tiếp theo từ lần thứ 4 đến lần thứ 9 (không kể lần thanh tóan đầu tiên) cũng tính tóan tương tự, cho đến khi số lượng vàng quy đổi ban đầu (135 chỉ vàng) được thanh tóan hết.

b) Thanh tóan tiền phạt bằng 5% giá trị hợp đồng mua bán nhà ở, do người mua vi phạm hợp đồng mà không có lý do chính đáng trong các trường hợp như sau: người mua chưa trả hết tiền mua nhà, khi thời hạn hợp đồng đã kết thúc; người mua không thanh tóan tiền mua nhà theo đúng thời hạn thanh tóan đã ghi trong hợp đồng.

  1. Thu nộp tiền bán nhà ở:

a) Bên bán nhà ở là các Giám đốc Công ty kinh doanh nhà thuộc tỉnh, thành phố thuộc Trung ương, trường hợp bên bán nhà là Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch UBND thành phố thuộc tỉnh, thị xã, quận, huyện thì Phòng quản lý nhà đất thuộc các cấp nói trên thực hiện việc bán nhà ở. Bên bán chịu trách nhiệm hướng dẫn, theo dõi đôn đốc quá trình thực hiện cho đến khi kết thúc các hợp đồng mua bán nhà ở như: + Lập phiếu thanh tóan tiền mua nhà ở thành 3 liên: 1 liên lưu lại bên bán, 1 liên chuyển Kho bạc Nhà nước để thu tiền, 1 liên giao cho người mua để theo dõi; + Mở sổ sách theo dõi việc thực hiện các hợp đồng mua bán, phương thức thanh tóan tiền bán nhà, tiền phạt vi phạm hợp đồng và các nghiệp vụ khác liên quan; + Lưu giữ các hồ sơ chứng từ mua bán nhà ở: hợp đồng, phiếu thanh tóan tiền mua nhà ở, hóa đơn thu tiền... cho từng trường hợp mua bán nhà; + Lập biên bản thanh lý hợp đồng mua bán nhà ở.

b) Bên mua nhà có trách nhiệm: + Thực hiện đầy đủ và đúng các nội dung của hợp đồng mua bán nhà ở; + Nộp tiền mua nhà ở tại cơ quan kho bạc Nhà nước trên địa bàn; + Lưu giữ các chứng từ, văn bản liên quan đến việc mua bán nhà ở.

c) Cơ quan Kho bạc Nhà mước có trách nhiệm: +

Căn cứ phiếu thanh tóan tiền mua nhà ở do bên bán nhà lập để thu tiền bán nhà và lập hóa đơn thu tiền nộp NSNN. Chứng từ thu tiền lập thành 3 liên: 1 liên lưu giữ tại Kho bạc Nhà nước; 1 liên chuyển cho bên bán nhà ở lưu; 1 liên giao cho người mua. + Mở sổ sách theo dõi việc thu nộp tiền bán nhà ở cho từng trường hợp. + Theo dõi các nghiệp vụ khác liên quan đến việc mua bán nhà ở. Đối với nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước có một phần tiền góp của cá nhân, tổ chức, thì bên bán nhà ở chỉ bán phần giá trị nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước, sau khi đã trừ đi phần giá trị nhà ở của tổ chức, cá nhân góp vốn. Bên mua nhà ở phải thanh tóan tiền bán nhà ở của phần nhà ở thuộc quyền sở hữu Nhà nước, tiền đất đai khi chuyển quyền sử dụng. Phương thức thanh tóan thu nộp tiền mua, bán nhà ở như đã nói ở phần trên.

  1. Tiền bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước nộp vào NSNN được thực hiện theo Thông tư số 68 TC/NSNN ngày 15-8-1994 của Bộ Tài chính về hướng dẫn bổ sung, sửa đổi mục lục ngân sách hiện hành.

  2. Chế độ báo cáo - hạch tóan kế tóan: Bên bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước phải thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo kế tóan - thống kê theo chế độ quản lý tài chính hiện hành của Nhà nước, định kỳ báo cáo kết quả thực hiện đề án bán nhà ở lên Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố thuộc Trung ương, đồng gửi Bộ Xây dựng. Cơ quan Kho bạc Nhà nước chịu trách nhiệm tổ chức hạch tóan tiền thu về bán nhà ở, báo cáo KBNN cấp trên và cơ quan tài chính đồng cấp về tình hình thu nộp tiền thu về bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước. Cục KBNN tổng hợp báo cáo Bộ Tài chính. Tiền bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước nộp vào Ngân sách Nhà nước, được ghi vào Chương, Lọai, Khỏan, Hạng tương ứng với mục: "Thu tiền bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước và tiền đất ở khi chuyển quyền sử dụng" của Mục lục Ngân sách hiện hành. III. SỬ DỤNG TIỀN BÁN NHÀ Ở THUỘC SỞ HỮU NHÀ NƯỚC Tiền bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước được đầu tư xây dựng và hỗ trợ phát triển qũy nhà ở theo quy định tại Điều 11 của Nghị định số 61-CP ngày 5-7-1994 của Chính phủ (sau đây gọi tắt là xây dựng và hỗ trợ phát triển qũy nhà ở).

  3. Lập kế họach, thực hiện việc phát triển qũy nhà ở:

a)

Căn cứ vào đề án bán nhà đã được Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phê duyệt, bên bán nhà lập kế họach thu tiền bán nhà ở. Số tiền thu được từ việc bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước được thể hiện trong kế họach thu Ngân sách hàng năm của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

b)

Căn cứ vào kế họach thu đã được xác định nói trên UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo các cơ quan chức năng lập kế họach xây dựng và hỗ trợ phát triển qũy nhà ở trong năm của tỉnh, thành phố cho phù hợp. Kế họach xây dựng và hỗ trợ phát triển qũy nhà ở bao gồm nội dung sau: b.1. Kế họach xây dựng nhà ở và cải tạo nhà ở cao tầng hoặc các khu nhà ở cấp 4 thành nhà cao tầng để bán. Đối với lọai nhà này sau khi hòan thành được bàn giao cho hội đồng bán nhà ở của địa phương để lập đề án bán nhà theo quy định tại điểm 3 Điều 8 Nghị định số 61-CP ngày 5-7-1994 của Chính phủ. Nhà để bán nói trên được ưu tiên bán cho các hộ đang ở trong các nhà theo quy định tại khỏan 1, 2 và 3 Điều 5 Nghị định số 61-CP ngày 5 -7-1994 của Chính phủ. Giá bán lọai nhà này gồm: + Giá nhà theo quyết tóan bàn giao, cộng giá hạ tầng đã được phân bổ (nếu có). + Giá đất ở khi chuyển quyền sử dụng được xác định theo điểm 2 Điều 7 Nghị định số 61-CP ngày 5-7-1994 của Chính phủ. Trường hợp bán cho các đối tượng chưa có nhà hoặc nhà ở quá chật, giá bán bao gồm: + Giá nhà ở theo giá thỏa thuận đã ghi trong hợp đồng (cộng giá hạ tầng được phân bổ nếu có). + Giá đất ở khi chuyển quyền sử dụng theo giá hiện hành của các địa phương và khung giá do Nhà nước ban hành. Việc thu tiền bán nhà ở thuộc diện này thực hiện theo mục II nói trên. b.2. Kế họach xây dựng nhà và cải tạo nhà ở cao tầng hoặc các khu nhà cấp 4 thành nhà cao tầng để cho thuê. Đối với lọai nhà này khi hòan thành được bàn giao cho cơ quan quản lý và kinh doanh nhà. Việc cho thuê nhà của Công ty kinh doanh nhà được ưu tiên cho các đối tượng ghi trong điểm 1, 2 và 3 Điều 5 Nghị định số 61-CP ngày 5-7-1994 của Chính phủ. Cơ quan quản lý và kinh doanh nhà ở thực hiện việc cho thuê và quản lý nhà theo đúng chế độ quản lý và cho thuê nhà hiện hành của Nhà nước. Các đối tượng chưa có nhà hoặc nhà ở quá chật được cơ quan quản lý và kinh doanh nhà cho thuê với giá thỏa thuận được ghi trong hợp đồng thuê nhà. Cơ quan tài chính địa phương hướng dẫn việc xác định, hạch tóan nguồn vốn của các đơn vị chuyển giao nhà ở cho cơ quan quản lý kinh doanh nhà theo đúng chế độ quản lý TSCĐ và chế độ quản lý tài chính hiện hành của Nhà nước. b.3. Kế họach xây dựng cơ sở hạ tầng các khu vực đã quy họach để xây dựng nhà ở. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố giao cho cơ quan chức năng lập và thực hiện kế họach này. Khi hạ tầng cơ sở đã hòan thành, giá trị quyết tóan của khu hạ tầng được phân bổ cho các nhà ở xây dựng trên khu hạ tầng đó. Đơn vị quản lý kinh doanh nhà được Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố giao nhiệm vụ thực hiện kế họach xây dựng nhà ở để bán hoặc cho thuê phải nhận và bảo tòan số vốn hạ tầng được bàn giao và giá đất ở khi chuyển quyền sử dụng để làm cơ sở xác định giá bán nhà ở sau này. b.4. Kế họach cải thiện các khu nhà ở mà điều kiện ở quá thấp, bao gồm những nội dung sau: - Cải thiện đường giao thông nội bộ; - Cải thiện việc cấp nước; - Cải thiện việc thóat nước; - Xây dựng, lắp đặt điện chiếu sáng công cộng. Những công việc trên được thực hiện theo phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm. Tùy theo điều kiện cụ thể của từng khu Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố xem xét có quyết định hỗ trợ bằng phần vốn của qũy bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước cho kế họach này, nhưng không quá 50% dự tóan được duyệt của các công việc nói trên. b.5. Kế họach thực hiện chính sách xã hội về nhà ở gồm 2 trường hợp sau đây: - Nhà tình nghĩa đối với các gia đình liệt sĩ neo đơn không nơi nương tựa. - Nhà đối với những người có công với cách mạng. b.5.1. Trong trường hợp nhà ở xây dựng mới theo quy họach, kế họach vốn bao gồm: Tiền xây nhà, tiền đất khi chuyển quyền sử dụng, các chi phí khác có liên quan. b.5.2. Trong trường hợp trợ cấp tiền cho các đối tượng được hưởng chính sách nói trên thì Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố giao cho cơ quan chức năng lập phương án kinh phí cho từng trường hợp cụ thể. Các đơn vị được Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố giao nhiệm vụ lập, thực hiện kế họach xây dựng và hỗ trợ qũy nhà ở phải lập kế họach đúng quy định và thời hạn do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố quy định gửi đến Ủy ban Khoa học, Sở Tài chính Vật giá, thành phố để tổng hợp, cân đối báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố xem xét và trình HĐND cùng cấp thông qua.

c) Kế họach xây dựng và hỗ trợ phát triển qũy nhà ở theo các dự án đã được HĐND cùng cấp thông qua được thể hiện trong kế họach đầu tư XDCB trong năm của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gửi UBKHNN, Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng để tổng hợp báo cáo Chính phủ.

d) Việc quản lý, cấp phát vốn theo kế họach xây dựng và hỗ trợ qũy nhà ở đã được HĐND tỉnh thông qua và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt được thực hiện như sau: - Các kế họach nêu tại mục b.1; b.2; b.3; b.5.1 thực hiện theo chế độ quản lý vốn đầu tư XDCB hiện hành của Nhà nước. - Các kế họach nêu tại mục b.4; b.5.2. Các đơn vị được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố giao nhiệm vụ lập dự tóan kinh phí theo mức hỗ trợ của cấp có thẩm quyền, cơ quan tài chính địa phương thẩm tra trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân phê duyệt. Việc cấp phát và quản lý thực hiện theo dự tóan được duyệt.

  1. Lập kế họach chi phí cho việc bán nhà.

a) Chi phí cho bên bán nhà, hội đồng bán nhà để thực hiện việc bán nhà do bên bán nhà lập theo định mức chỉ tiêu tài chính hiện hành bao gồm những nội dung chủ yếu sau: - Chi phí in ấn tài liệu phục vụ cho việc bán nhà, văn phòng phẩm; - Chi phí tập huấn; - Chi phí hướng dẫn nghiệp vụ; - Tiền thuê phương tiện làm việc của hội đồng bán nhà; - Chi phí cho việc xác định giá trị còn lại của nhà ở; - Chi phí cho việc thẩm tra, thanh tra, phúc tra; - Chi phí cho hội họp, xét duyệt, thẩm định đề án; - Chi phí khác có liên quan đến họat động của hội đồng bán nhà.

b) Dự tóan chi phí bán nhà được cơ quan bán nhà lập đồng thời với việc lập kế họach, thực hiện phát triển qũy nhà của địa phương được cơ quan tài chính địa phương thẩm tra để hội đồng bán nhà thông qua, trình Chủ tịch Ủy ban nhân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phê duyệt. Kế họach chi phí cho việc bán nhà ở phải được thể hiện trong kế họach chi ngân sách trong năm của tỉnh, thành phố theo nguyên tắc tổng dự tóan các chi phí bán nhà không được vượt quá 2% số tiền thu được do bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước.

c) Việc quản lý, cấp phát kinh phí cho việc bán nhà ở do cơ quan tài chính địa phương thực hiện theo chế độ quản lý kinh phí sự nghiệp hiện hành của Nhà nước. Trước mắt trong qúy 4 năm 1994 kinh phí cho việc bán nhà được cơ quan tài chính địa phương ứng trước. Số kinh phí này được hòan trả khi có nguồn thu tiền bán nhà ở. IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

  1. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo cơ quan bán nhà, các cơ quan có liên quan thực hiện việc bán nhà, thu tiền nhà và quản lý, sử dụng tiền bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước cho người đang thuê theo hướng dẫn tại Thông tư này.

  2. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương báo cáo Thủ tướng Chính phủ, đồng gửi Bộ Tài chính về tiền thu bán nhà ở và sử dụng tiền thu được do bán nhà ở trước khi có Nghị định 61-CP ngày 5-7-1994 của Chính phủ để xem xét và xử lý.

  3. Thông tư này có hiệu lực từ ngày 5-7-1994. Những văn bản trước đây trái với Thông tư này đều không có hiệu lực thi hành. Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc, đề nghị các ngành, địa phương phản ánh kịp thời về Bộ Tài chính để nghiên cứu giải quyết.

Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/thong-tu-so-69-tc-t-huong-dan-viec-thu-nop-va-su-dung-tien-ban-nha-o-thuoc-so-huu-nha-nuoc-cho-nguoi-dang-thue--109043.

Dịch vụ liên quan

Văn bản liên quan