Thông tư liên tịch số 31/TT-LBHướng thực hiện về phân loại đô thị và phân cấp quản lý đô thị
- Số hiệu
- 31/TT-LB
- Loại văn bản
- Thông tư liên tịch
- Cơ quan ban hành
- Bộ Xây dựng
- Ngày ban hành
- 20/11/1990
Toàn văn
BAN TỔ CHỨC-CÁN BỘ CHÍNH PHỦ-BỘ XÂY DỰNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: 31/TTLT
Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 1990 THÔNG TƯ LIÊN BỘ BỘ XÂY DỰNG - BAN TỔ CHỨC CÁN BỘ CỦA CHÍNH PHỦ Hướng dẫn thực hiện Quyết định 132/HĐBT ngày 5-5-1990 về phân lọai đô thị và phân cấp quản lý đô thị Ngày 5-5-1990 Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết định số 132-HĐBT về phân lọai đô thị và phân cấp quản lý đô thị nhằm tạo cơ sở pháp lý cho các công tác: Phân cấp, phân lọai đô thị. Đề ra chính sách huy động các nguồn vốn, đầu tư xây dựng cho các đối tượng đô thị khác nhau. Kiện tòan bộ máy tổ chức hành chính quản lý đô thị. Ban hành quy trình, quy phạm tiêu chuẩn quy họach xây dựng đô thị. Phân cấp xét duyệt các đồ án quy họach đô thị v.v... Nay Liên Bộ hướng dẫn việc thực hiện như sau: I. ĐÔ THỊ VÀ NHỮNG YẾU TỐ CẤU THÀNH ĐÔ THỊ
-
Quy định về "Điểm dân cư đô thị" ở điểm 1- Điều 1 được giải thích cụ thể như sau: Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, của một tỉnh, của một huyện hoặc một vùng trong tỉnh, trong huyện. - Trung tâm tổng hợp: Những đô thị là trung tâm tổng hợp, khi chúng có vai trò và chức năng nhiều mặt về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội .v.v. .. - Trung tâm chuyên ngành: Những đô thị là trung tâm chuyên ngành, khi chúng có vai trò và chức năng chủ yếu về một mặt nào đó như: Công nghiệp cảng, du lịch- nghỉ dưỡng, đầu mối giao thông v.v. .. - Một đô thị là trung tâm tổng hợp của một vùng tỉnh có thể cũng là trung tâm chuyên ngành của một vùng liên tỉnh hoặc tòan quốc. Do đó, việc xác định một trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành còn phải căn cứ vào vị trí của đô thị đó trong một vùng lãnh thổ nhất định. - Lãnh thổ đô thị gồm: Nội thành hoặc nội thị (gọi chung là nội thị) và ngọai ô. Các đơn vị hành chính của nội thị gồm: Quận và Phường, còn các đơn vị hành chính của ngọai ô gồm: Huyện và Xã.
-
Quy mô dân số. Điểm 2. Điều 1 quy định chung quy mô dân số tối thiểu của một đô thị không nhỏ hơn 4.000 người. Riêng ở miền núi, quy mô dân số tối thiểu của một đô thị không nhỏ hơn 2.000 người. Quy mô này chỉ tính trong nội thị.
-
Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp. Điểm 3. Điều 1 quy định tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của một đô thị không nhỏ hơn 60%. Tỷ lệ này chỉ tính trong nội thị. Lao động phi nông nghiệp bao gồm: - Lao động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. - Lao động xây dựng cơ bản. - Lao động giao thông vận tải, bưu điện, tín dụng, ngân hàng. - Lao động thương nghiệp, dịch vụ, du lịch. - Lao động trong các cơ quan hành chính, văn hóa, giáo dục, y tế, phục vụ nghiên cứu Khoa học kỹ thuật. - Các lao động khác... Ngòai khu vực sản xuất nông nghiệp.
-
Cơ sở hạ tầng đô thị. Cơ sở hạ tầng đô thị gồm hạ tầng kỹ thuật ( giao thông, thông tin - liên lạc, cấp nước, cấp năng lượng, thóat nước, xử lý phân rác, vệ sinh môi trường) và hạ tầng xã hội (nhà ở, các công trình thương nghiệp, dịch vụ công cộng, ăn uống, nghỉ dưỡng, y tế, văn hóa, giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học, thể dục thể thao, công viên, cây xanh và các công trình phục vụ lợi ích công cộng khác). Yếu tố này phản ánh trình độ phát triển, mức tiện nghi sinh họat của người đô thị và được xác định theo các chỉ tiêu cơ bản sau: - Chỉ tiêu cấp nước sinh họat: Lít/người - ngày. - Chỉ tiêu cấp điện sinh họat:KWh/người. - Mật độ đường phố: Km/km 2 và đặc điểm hệ thống giao thông. - Tỷ lệ tầng cao trung bình.
-
Mật độ dân cư. Mật độ dân cư là chỉ tiêu phản ánh mức tập trung dân cư của đô thị được xác định trên cơ sở quy mô dân số nội thị và diện tích xây dựng trong giới hạn nội thị của đô thị, Đơn vị đo: Người/km 2 . II. PHÂN LỌAI ĐÔ THỊ
-
Việc phân lọai đô thị phải xuất phát từ những căn cứ sau: - Các yếu tố cấu thành đô thị đã được quy định tại Điều 1 và Điều 2 trong Quyết định 132-HĐBT. - Điều tra hiện trạng và dự báo tương lai phát triển của đô thị, chủ yếu trong giới hạn 5 năm đầu. Các chỉ tiêu phát triển tương lai của đô thị được xác định trên cơ sở các đồ án quy họach tổng thể đã được cấp có thẩm quyền xem xét, thỏa thuận hoặc phê duyệt. - Thực tiễn tình hình kinh tế, xã hội và các đặc thù riêng biệt của từng đô thị.
-
Khi tiến hành phân lọai đô thị, phải xác lập các căn cứ phân lọai và đối chiếu với những chỉ tiêu đã được quy định cụ thể trong Điều 2 của Quyết định 132-HĐBT.
-
Khi đối chiếu phân lọai, cần lưu ý một số điểm sau đây:
a) Việc xác định vai trò và chức năng của đô thị cần dựa vào tình hình hiện trạng đô thị và các kết qủa nghiên cứu phân bố phát triển lực lượng sản xuất, sơ đồ quy họach vùng hoặc sơ đồ liên hệ kinh tế vùng. Trường hợp những cứ liệu trên chưa có hoặc còn thiếu, thì nhất thiết phải lập quy họach tổng thể phát triển đô thị trong đó cần luận chứng rõ tính chất, vai trò, chức năng của đô thị trong giai đọan hiện nay và tương lai.
b) Việc xác định quy mô dân số và tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của đô thị chỉ tiến hành trong giới hạn nội thị và phải bảo đảm mức quy định tối thiểu như đã ghi trong Điều 2 của Quyết định 132-HĐBT. Riêng miền núi, quy mô dân số đô thị lọai 3 có thể quy định tối thiểu từ 8 vạn người, đô thị lọai 4 từ 2 vạn người là đô thị lọai 5 từ 2.000 người.
c) Các chỉ tiêu chính về trình độ phát triển hạ tầng kỹ thuật có thể tham khảo để phân lọai đô thị được quy định cụ thể ở phụ lục.
d) Đối với các đô thị lọai 1, 2, 3, 4 mật độ dân số được tính trên cơ sở mật độ dân số trung bình của các quận, phường trong nội thị. Riêng đối với đô thị lọai 5, mật độ dân số được tính trên cơ sở dân số của đô thị và diện tích thổ cư (trừ diện tích canh tác nông, lâm nghiệp). Mật độ dân cư các đô thị miền núi có thể thấp hơn, đô thị lọai 3 là: 8000 người/km 2 , đô thị lọai 4 là: 6000 người /km2 và lọai 5 là: 3.000 người /km2.
-
Khi đối chiếu các chỉ tiêu cụ thể của một đô thị với các chỉ tiêu phân lọai được quy định tại Điều 2 của Quyết định 132-HĐBT và trong Thông tư hướng dẫn này, cần lưu ý hai trường hợp sau: a. Trường hợp chỉ có một số chỉ tiêu đạt đúng tiêu chuẩn như quy định ở Điều 2 của Quyết định 132-HĐBT, thì việc xếp lọai đô thị có thể căn cứ ưu tiên vào ba chỉ tiêu cơ bản là: Vai trò chức năng, quy mô dân số và tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của đô thị đó. b. Trường hợp chỉ tiêu quy mô dân số và tỷ lệ lao động phi nông nghiệp hơi thấp so với chỉ tiêu quy định, thì việc xếp lọai đô thị có thể căn cứ chủ yếu vào chỉ tiêu chức năng của đô thị, nhưng phải xem xét triển vọng của đô thị có điều kiện cần thiết để đạt được chỉ tiêu còn thấp.
-
Chức năng và ranh giới ngọai ô: a. Chức năng của vùng ngọai ô các đô thị được quy định tại Điều 3 của Quyết định 132-HĐBT. Tuy nhiên, tùy thuộc vào lọai đô thị và các đặc điểm tự nhiên vùng kế cận của chúng, các vùng ngọai ô không nhất thiết phải có đầy đủ cả bốn chức năng đã nêu. b. Ngọai ô là vành đai chịu tác động ảnh hưởng trực tiếp của nội thị và nằm trong giới hạn ngọai thành, ngọai thị. Riêng đô thị lọai 5, không có ngọai ô. c. Việc xác định ranh giới ngọai ô phải căn cứ vào đặc điểm hiện trạng và tương lai phát triển của từng đô thị theo dự kiến quy họach và phải được Ban tổ chức và cán bộ cuả Chính phủ xem xét chuẩn bị chu đáo trước khi trình Nhà nước phê chuẩn. III. PHÂN CẤP QUẢN LÝ ĐÔ THỊ
-
Phân cấp quản lý đô thị về mặt hành chính Nhà nước được cụ thể hóa như sau: - Thành phố trực thuộc Trung ương tương đương cấp tỉnh phải là đô thị lọai 1 hoặc lọai 2 và chủ yếu do Trung ương quản lý. - Các thành phố thuộc tỉnh, các thị xã tương đương với cấp huyện đa số thuộc đô thị lọai 3 và lọai 4, một số ít có thể thuộc lọai 5 và do tỉnh quản lý.
-
Quan hệ giữa phân lọai đô thị và phân cấp quản lý đô thị: Nguyên tắc chung là dựa vào kết quả phân lọai đô thị để phân cấp quản lý đô thị. Tuy nhiên, có trường hợp đặc biệt một số đô thị được phân cấp quản lý cao hơn hoặc thấp hơn một bậc so với quy định trên với lý do: -Vai trò trung tâm chính trị đặc biệt của đô thị. - Quá trình hình thành và phát triển đô thị ở nước ta trải qua rất nhiều thời kỳ khác nhau. - Trình độ phát triển kinh tế - xã hội và đô thị hóa ở từng vùng khác nhau dẫn đến vị trí, vai trò và tính chất đô thị đối với từng vùng lãnh thổ cũng khác nhau. Ví dụ: Có đô thị lọai 4 nhưng vẫn là thành phố tỉnh lỵ và có đô thị thuộc lọai 5 nhưng vẫn là thị xã do tỉnh quản lý.
-
Thành lập đô thị mới: Việc xin thành lập đô thị mới phải được tiến hành theo trình tự sau: a. Lập luận chứng kinh tế - kỹ thuật xin thành lập đô thị mới. Trong luận chứng cần nêu rõ: - Lý do xin thành lập đô thị mới. - Xác định tính chất vai trò chức năng, quy mô dân số, tỷ trọng lao động phi nông nghiệp mật độ dân số của đô thị... chủ yếu tương ứng với 5 năm đầu phát triển. - Đối chiếu với các chỉ tiêu quy định trong Quyết định 132-HĐBT kiến nghị xin thành lập đô thị mới và phân lọai, phân cấp. b. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu lập tờ trình (có kèm theo luận chứng xin thành lập đô thị mới) trình Hội đồng Bộ trưởng phê duyệt. IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1.Ủy ban nhân dân các cấp cần tổ chức nghiên cứu quán triệt Quyết định 132-HĐBT và thông tư hướng dẫn thi hành của Liên Bộ vào việc rà xét lại quy họach tổng thể và ngọai ô của đô thị để lập tờ trình (có các luận chứng và số liệu cụ thể theo quy định ở Điều 2 của Quyết định) xin xét công nhận lọai đô thị.
-
Bộ Xây dựng phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố và đặc khu với sự tham gia của Ban Tổ chức - Cán bộ của Chính phủ xét duyệt việc phân lọai đô thị ở từng địa phương theo Quyết định 132-HĐBT. Trình Hội đồng Bộ trưởng Quyết định công nhận đô thị lọai 1 và 2 và Bộ trưởng Bộ Xây dựng công nhận lọai 3 và 4. Riêng đối với đô thị lọai 5, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố, đặc khu xét công nhận có tham khảo ý kiến của Bộ Xây dựng và ban tổ chức cán bộ của Chính phủ. Sau mỗi kỳ kế họach 5 năm, Bộ Xây dựng sẽ tiến hành điều chỉnh xếp lọai đô thị nếu có đề nghị của địa phương.
-
Trên cơ sở nghiên cứu Quyết định 132-HĐBT, Thông tư hướng dẫn Liên Bộ và sau khi đã có quyết định xếp lọai đô thị, Ủy ban nhân dân các địa phương phối hợp với Ban Tổ chức và cán bộ của Chính phủ lập tờ trình xin thay đổi cấp quản lý đô thị trong trường hợp cần thiết.
-
Theo Điều 3 Quyết định 132-HĐBT Ủy ban nhân dân các địa phương cần phối hợp với bộ xây dựng tiến hành lập quy họach vùng ngọai ô các đô thị để làm cơ sở xác định ranh giới hành chính vùng ngọai ô thông qua Ban Tổ chức cán bộ của Chính phủ để trình Hội đồng Bộ trưởng.
-
Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc về nội dung và phương pháp, Ủy ban nhân dân các địa phương phản ánh về Ban Tổ chức và cán bộ của Chính phủ và Bộ Xây dựng để nghiên cứu giải quyết.
-
Thông tư này có hiệu lực từ ngày ký, các địa phương cần tiến hành ngay công tác phân lọai đô thị trong năm 1990 để phục vụ kịp thời việc lập kế họach xây dựng đô thị 1991 -1995. Ngô Xuân Lộc (Đã ký) Phan Ngọc Tường (Đã ký)
Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/thong-tu-lien-tich-so-31-tt-lb-huong-thuc-hien-quyet-dinh-132-hdbt-ngay-5-5-1990-ve-phan-loai-do-thi-va-phan-cap-quan-ly-do-thi--1835.
Dịch vụ liên quan
Văn bản liên quan
- Phân cấp quản lý nhà nước về giao thông đường thủy nội địa thuộc phạm vi quản lý của Bộ Xây dựng
- Sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư trong lĩnh vực nhà ở
- Công bố vùng nước cảng biển, khu vực hàng hải thuộc địa phận thành phố Cần Thơ, tỉnh Vĩnh Long và khu vực quản lý của Cảng vụ Hàng hải Cần Thơ
- Công bố vùng nước cảng biển, khu vực hàng hải thuộc địa phận tỉnh An Giang, tỉnh Cà Mau và khu vực quản lý của Cảng vụ Hàng hải Kiên Giang
- Quy định về bảo trì công trình hàng hải và tần suất khảo sát thông báo hàng hải
- Ban hành Định mức kinh tế - kỹ thuật bảo dưỡng kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia
- Hướng dẫn một số điều của Nghị định về phát triển đô thị thông minh
- Công bố vùng nước cảng biển, khu vực hàng hải thuộc địa phận Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Tây Ninh, tỉnh Đồng Tháp và khu vực quản lý của Cảng vụ Hàng hải Thành phố Hồ Chí Minh