Chưa xác định số Không sốKhông
- Số hiệu
- Không số
- Loại văn bản
- Chưa xác định
- Cơ quan ban hành
- Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Ngày ban hành
- 12/05/2005
Toàn văn
BẢN GHI NHỚ GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ NEDERLADSE FINANCIERINGS - MAATSCHAPPIJ VOOR ONTWIKKELINGSLANDEN N.V. ('FMO') Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (dưới đây được gọi là "Chính phủ Việt Nam" hiểu rằng Nederlandse Financierings - Maatschappij Voor Ontwikkelingslanden N.V. dưới đây được gọi là ''FMO'') mong muốn tăng cường quan hệ song phương và hợp tác với Chính phủ Việt Nam, dựa trên nền tảng - tương quan với nhiều yếu tố khác - Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư lẫn nhau giữa Vương quốc Hà Lan và nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 10/3/1994 (đính kèm tại Phụ lục I) và Hiệp định về Hợp tác Phát triển giữa Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Hà Lan ngày 24/10/2000 (đính kèm tại Phụ lục II). Chính phủ Việt Nam đánh giá cao mục tiêu của FMO nhằm đóng góp vào sự phát triển của doanh nghiệp sản xuất ở các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi để thúc đẩy sự tiến bộ kinh tế và xã hội phù hợp với các mục tiêu của Chính phủ các nước đó, cũng như chính sách về hợp tác quốc tế của Chính phủ Hà Lan. Chính phủ Việt Nam công nhận Nhà nước Hà Lan và cổ đông kiểm sóat nắm giữ năm mươi mốt phần trăm (51%) vốn cổ phần phát hành và đã góp của FMO. Chính phủ Việt Nam cũng ghi nhận, theo một hiệp định giữa Nhà nước Hà Lan và FMO ký ngày 16/11/1998, Nhà nước Hà Lan bảo lãnh việc chấp hành các nghĩa vụ đầu tư của FMO. Chính phủ Việt Nam, và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nói riêng, mong muốn tạo điều kiện cho FMO thực hiện các mục tiêu họat động của mình tại Việt Nam đối với các chủ thể khu vực tư nhân, và nếu phù hợp cũng như trong hợp tác với các tổ chức tài chính đa phương, song phương hoặc các tổ chức tài chính khác, bằng cách cấp cho FMO một Vị thế chủ nợ Ưu đãi với nội dung như sau:
Điều 1. Chính phủ Việt Nam thừa nhận FMO là một tổ chức tài chính phát triển song phương với mục tiêu khuyến khích và tài trợ cho khu vực kinh tế tư nhân của Việt Nam và do đó sẽ được đối xử bình đắng với các tổ chức tài chính song phương tương tự họat động tại Việt Nam về việc thực hiện dự án và các nghĩa vụ trả nợ của người vay, và có đầy đủ năng lực và tư cách pháp nhân để, nhưng không hạn chế:
a) Ký kết mọi lọai hợp đồng phù hợp với pháp luật Việt Nam;
b) Kiện hoặc bị kiện tại Tòa án đã thỏa thuận trong các hiệp định tương ứng.
Điều 2. Chính phủ Việt Nam sẽ tạo điều kiện cho việc cấp visa, giấy phép và các lọai ủy quyền khác cần thiết để cho phép các nhân viên hay đại lý của FMO sang khảo sát (các dự án) tại Việt Nam vào bất kỳ thời điểm cần thiết nào để tiến hành các họat động của FMO phù hợp với Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư lẫn nhau giữa Vương quốc Hà Lan và nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 10/03/1994 (Phụ lục I). Ngòai ra, trong khuôn khổ các hiệp định song phương đã ký kết giữa Vương quốc Hà Lan và nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chính phủ Việt Nam và các cơ quan hữu quan của mình sẽ tuân thủ Hiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư lẫn nhau giữa Vương quốc Hà Lan và nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 10/03/1994 (Phụ lục I), đặc biệt là, nhưng không hạn chế, liên quan đến việc Tự do chuyển nhượng (Điều 4) và trưng dụng và bồi thường (Điều 5) của Hiệp định này. Trong trường hợp Hiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư hai chiều này chấm dứt, trở nên hết hiệu lực, và/hoặc không được gia hạn, việc áp dụng Hiệp định trên đối với các họat động của FMO tại Việt Nam cũng sẽ chấm dứt, trừ trường hợp Chính phủ Việt Nam và FMO có thỏa thuận khác.
Điều 3. Các khỏan tài trợ được cấp trong khuôn khổ Biên bản ghi nhớ này nhằm tài trợ các dự án đầu tư sản xuất tại Việt Nam. Các khỏan tài trợ này thỏa mãn các điều kiện tài trợ của FMO và phù hợp với quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam và các quy định của Biên bản ghi nhớ này. FMO sẽ thông báo đều đặn cho Ngân hàng NN về các dự án được tài trợ đó.
Điều 4. FMO sẽ xem xét khả năng được tài trợ của các dự án liên quan và sẽ có quyết định cuối cùng ở cấp cao nhất. FMO sẽ gửi cho NHNN bản sao các hợp đồng tài trợ sau khi ký.
Điều 5. Các họat động tài trợ của FMO sẽ được thực hiện dưới các hình thức góp vốn, tài trợ gần như vốn, cho vay, bảo lãnh và tư vấn, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho họat động đầu tư tư nhân. Cụ thể là: - FMO phát triển các họat động khuyến khích và tài trợ cho khu vực tư nhân bằng cách tài trợ cho các dự án tham gia trực tiếp vào công cuộc xóa đói giảm nghèo và cải thiện đời sống của nhân dân; - FMO tài trợ cho các doanh nghiệp, hoặc thông qua hình thức tham gia góp vốn hoặc gần như vốn, hoặc thông qua các qũy đầu tư quốc gia và khu vực chuyên đầu tư cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ; - FMO cung cấp dịch vụ chuyên gia và hướng dẫn cách làm cho các chủ doanh nghiệp mới thành lập; - FMO tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hiện đại hóa các doanh nghiệp của nước sở tại hiện đang họat động và trợ giúp việc thành lập các doanh nghiệp mới của các nhà đầu tư trong nước; - FMO sẵn sàng ký thỏa thuận với các tổ chức khuyến khích phát triển các doanh nghiệp trong nước để lựa chọn và thẩm định các dự án. Ngòai ra, FMO có thể tham gia đồng tài trợ với các nhà tài trợ khác của nước ngòai hoặc của Việt Nam có vốn nhà nước hoặc tư nhân đang được phép họat động tại Việt Nam.
Điều 6. Các khỏan cho vay của FMO đối với bất kỳ người vay Việt Nam nào sẽ không thuộc bất kỳ thỏa thuận nợ nào tại tổ chức như Câu lạc bộ Paris hoặc Câu lạc bộ London. Chính phủ Việt Nam công nhận rằng, trừ khi có thỏa thuận bằng văn bản của FMO, các thỏa thuận cơ cấu lại nợ quốc gia chính thức sẽ không áp dụng đối với bất kỳ khỏan nợ đến hạn nào của FMO.
Điều 7. FMO sẽ không bị các cơ quan thẩm quyền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối xử như một ngân hàng thương mại hoặc một tổ chức cho vay - phải tuân thủ các quy định của Ngân hàng Nhà nước về cho vay, các họat động ngân hàng trong nước hoặc bất kỳ quy định nào khác, và sẽ không phải đăng ký như một công ty nước ngòai. Tuy nhiên, các họat động của FMO tại Việt Nam sẽ phải tuân theo các luật và quy định khác của Việt Nam.
Điều 8. FMO mặc nhiên được phép mua lại phần góp vốn của bất cứ người nào muốn bán và được quyền bán lại phần góp vốn của mình cho bất cứ người nào muốn mua, miễn rằng quyền mua và bán lại này không trái với các quy định của pháp luật Việt Nam, nhằm mục đích hỗ trợ cho sự phát triển của Việt Nam. FMO sẽ thông báo các họat động trên cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Điều 9. Việc thực hiện và quản lý các dự án được tài trợ theo Biên bản ghi nhớ này sẽ thuộc trách nhiệm của người thụ hưởng. Về nguyên tắc, các khỏan tài trợ trên không yêu cầu có bảo lãnh tài chính của Chính phủ Việt Nam, trừ trường hợp được yêu cầu và thỏa thuận cụ thể trước.
Điều 10. Các khỏan tín dụng của FMO sẽ được cấp bằng đồng Việt Nam, euro hoặc bằng ngọai tệ khác. Thông qua Biên bản ghi nhớ này, Chính phủ Việt Nam cho phép khách hàng vay của FMO, các đơn vị bảo lãnh tín dụng cũng như mọi ngân hàng trung gian chịu trách nhiệm chuyển vốn được mua ngọai tệ và được phép chuyển ra khỏi Việt Nam các khỏan tiền cần thiết để hòan trả nợ vay gốc, lãi thường, lãi chậm trả và chi phí phụ theo quy chế quản lý ngọai hối và Luật đầu tư nước ngòai tại Việt Nam.
Điều 11. FMO được miễn mọi lọai thuế trực tiếp hoặc gián tiếp, các khỏan phí và lệ phí, khấu trừ hoặc bất kỳ lọai thuế nào khác do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam đặt ra đối với các khỏan thanh tóan phải trả cho FMO như gốc, lãi, cổ tức, phí bảo lãnh, và các lọai phí khác, v.v. Các họat động hay dự án của FMO tại Việt Nam phải tuân thủ những quy định theo luật thuế hiện hành của Việt Nam. Tuy nhiên, FMO sẽ được hưởng sự đối xử về thuế không kém thuận lợi hơn so với các họat động dự án có bản chất tương tự.
Điều 12. Bản ghi nhớ này sẽ điều chỉnh các họat động tài trợ phát triển khu vực tư nhân của FMO tại Việt Nam. Các họat động hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) do FMO thực hiện theo sự ủy quyền của Chính phủ Hà Lan sẽ được điều chỉnh theo Hiệp định về Hợp tác Phát triển giữa Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Hà Lan ngày 24/10/2000 (đính kèm tại Phụ lục II). Bất kỳ vấn đề nào phát sinh trong khuôn khổ Bản ghi nhớ này sẽ được Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và FMO thảo luận trên quan điểm giải quyết nhanh chóng và hữu nghị.
Điều 13. Bản Ghi nhớ này có hiệu lực kể từ ngày ký và tiếp tục có hiệu lực trong vòng 6 tháng kể từ ngày nhận được thông báo của một trong hai Bên ký kết về ý định chất dứt Bản ghi nhớ. Trong trường hợp chấm dứt, các điều khỏan của Biên bản ghi nhớ này áp dụng cho các họat động được cam kết trước khi chấm đứt sẽ vẫn tiếp tục có hiệu lực. Nhưng trong mọi trường hợp, không được kéo dài hiệu lực quá 20 năm kể từ ngày chấm dứt Biên bản Ghi nhớ.
Điều 14. Mọi thông báo, yêu cầu hoặc trao đổi thông tin khác, được gửi hoặc cung cấp trong khuôn khổ hoặc tham chiếu theo Bản ghi nhớ này, sẽ được gửi đến các địa chỉ sau: Đối với Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 49 Lý Thái Tổ Fax: + 84 4 8250612 Đối với FMO: Anna van Saksenlaan 71, 2593 HW The Hague, The Netherlands P.O. Box 93060, 2509 AB The Hague, THe Netherlands Fax: + 31 70 314 9754 Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và FMO có thể thay đổi địa chỉ nêu trên thông qua thư thông báo có đăng ký gửi cho bên kia. Làm tại Hà Nội, ngày 11/05/2005, thành 4 bản: hai bản bằng tiếng Việt và hai bản bằng tiếng Anh đều có giá trị như nhau. Mỗi bên giữ một bản tiếng Việt và một bản tiếng Anh./.
Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/khong-so--12991.
Dịch vụ liên quan
Văn bản liên quan
- Hiệp định không
- Về việc cho trở lại quốc tịch Việt Nam
- Về hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào năm 2009
- Hiệp định 10/2009/SL-LPQT
- Hiệp định Không
- Trao đổi văn hóa, nghệ thuật, khoa học và giáo dục giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên giai đoạn 2008 - 2010
- Nghị định thư Không
- Hiệp định Không