Thông tư liên tịch số 03/TK-TC/TTLiên Bộ Tổng cục Thống kê - Bộ Tài chính hướng dẫn một số điểm về kế toán, thống kê và phương pháp tính toán thực hiện các chỉ tiêu pháp lệnh nhằm bảo đảm quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở quốc doanh
- Số hiệu
- 03/TK-TC/TT
- Loại văn bản
- Thông tư liên tịch
- Cơ quan ban hành
- Bộ Tài chính
- Ngày ban hành
- 06/08/1986
Toàn văn
BỘ TÀI CHÍNH, TỔNG CỤC THỐNG KÊ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số : 03/TK-TC/TT Hà Nội, ngày 6 tháng 8 năm 1986
THÔNG TƯ LIÊN BỘ
Hướng dẫn một số điểm về kế tóan, thống kê và phương pháp tính tóan thực hiện các chỉ tiêu pháp lệnh nhằm bảo đảm quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở quốc doanh ________________________ Thi hành chỉ thị số 155/CT ngày 26 tháng 6 năm 1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ Trưởng về “Bảo đảm quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở” Tổng cục Thống kê và Bộ Tài chính sau khi thống nhất với Ủy ban kế họach Nhà nước hướng dẫn một số điểm về công tác kế tóan, thống kê và phương pháp tính tóan thực hiện các chỉ tiêu pháp lệnh nhằm bảo đảm quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh của đơn vị kinh tế cơ sở quốc doanh như sau: Phần một NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ CÔNG TÁC KẾ TÓAN, THỐNG KÊ Ở ĐƠN VỊ KINH TẾ CƠ SỞ QUỐC DOANH
-
Kế tóan và thống kê là hai công tác nghiệp vụ có nhiệm vụ chung là ghi chép, tính tóan, phản ánh,kiểm kê, kiểm sóat quá trình và kết quả họat động sản xuất kinh doanh, trước hết là sản xuất và phân phối sản phẩm xã hội; là công cụ chủ yếu phục vụ công tác quản lý kinh tế và công tác kế họach hóa trong phạm vi đơn vị cơ sở cúng như tòan bộ nền kinh tế quốc dân.
-
Số liệu kế tóan và thống kê trong các báo cáo chính thức là căn cứ pháp lý đề đánh giá kết quả và hiệu quả sản xuất, kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở , ngành kinh tế kỹ thuật và vùng lãnh thổ, đồng thời là căn cứ để đánh giá thực trạng kinh tế-xã hội của đất nước, qua đó Nhà nước quản lý, giám đốc ngân sách, kiểm tra, cấp phát và quyết tóan Tài chính , kiểm tra việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
-
Mọi đơn vị kinh tế cơ sở phải thực hiện nghiêm ngặt chế độ kế tóan, thống kê , bao gồm cả hạch tóan ban đầu và báo cáo thống kê, kế tóan định kỳ. Vi phạm chế độ báo cáo thống kê, kế tóan định lỳ, coi như vi phạm quy chế quản lý kinh tế xã hội chủ nghĩa 4. Mỗi đơn vị kinh tế cơ sở đều phải có tổ chức bộ máy kế tóan, thống kê và phải coi đó là điều kiện tiên quyết khi tiến hành các họat động sản xuất kinh doanh của đơn vị. Các đơn vị được quyền chủ động tổ cức bộ máy kế tóan, thống kê phù hợp với quy mô, trình độ tổ chức, trang bị kỹ thuật và tính chất họat động của mình, trên cơ sở tuân theo những nguyên tắc chung đã được quy định trong điều lẹ Tổ chức kế tóan, thống kê xí nghiệp công nghiệp quốc doanh, ban hành theo nghị định số 288/CP ngày 29-10-1977 của Hội đồng Chính phủ.
-
Trong điều kiện mở rộng quyền tự chủ sản xuất kinh doanh, xí nghiệp phải thực sự củng cố tăng cường công tác hạch tóan kinh tế nội bộ; phải hạch tóan chi tiết theo từng lọai họat động sản xuất kinh doanh, theo từng lọai sản phẩm, đơn đặt hàng, từng cây, com, từng công việc, từng công trình; phải tổ chức hạch tóan đến từng phân xưởng, tổ, đội sản xuất, từng quầy hàng, kho, trạm và từng người lao động; phải thực hiện chế độ tài chính công khai; phải thường xuyên kiểm tra công tác hạch tóan trong nội bộ đơn vị, đặc biệt là hạch tóan ban đầu.
-
Các đơn vị kinh tế cơ sở phải nghiêm chỉnh chấp hành hệ thống chứng tù, sổ sách kế tóan, thống kê do Nhà nước ban hành, trong trường hợp cần thiết thì được quyền mở thêm các chứng từ và sổ sách tổng hợp trung gian để phục vụ cho yêu cầu hạch tóan và thông tin kinh tế nội bộ. Nghiêm cấm việc lập các chứng từ, sổ sách giả mạo để hợp pháp hóa các việc sai trái trong quản lý kinh tế của đơn vị.
-
Kế tóan trưởng cùng với giám đốc xí nghiệp phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước về sự trung thực của các chứng từ, sổ sách và các báo cáo thống kê, kế tóan của đơn vị mình. Mọi số liệu trong các báo cáo thống kê , kế tóan chính thức đều phải được tổng hợp từ chứng từ, sổ sách hợp pháp và đảm bảp tính rõ ràng, khi cần thiết có thể kiểm tra được nhanh chóng.
Căn cứ vào yêu cầu quản lý, chỉ đạo sản xuất kinh doanh , điều kiện các đơn vị phụ thuộc phân tán trên các địa bàn khác nhau, xí nghiệp(đơn vị kinh tế cơ sở ) có quyền ban hành chế độ báo cáo nội dung áp dụng cho các đơn vị thuộc phạm vi quản lý của mình.
- Theo tinh thần Nghị quyết số 306/TLHN(dự thảo) của Bộ Chính trị ngày 08 tháng 4 năm 1986 và quyết định số 76/HDBT ngày 26 tháng 6 năm 1986 của Hội đồng Bộ Trưởng, Tổng cục Thống kê phối hợp với Bộ Tài chính đang khẩn trương nghiên cứu cải tiến, hòan thiện chế độ hạch tóan ban đầu, chế độ báo cáo thống kê, kế tóan định kỳ cho các đơn vị cơ sở theo hướng tinh giảm các chỉ tiêu và biểu mẫu để áp dụng trong năm 1987. Cơ quan Tài chính, thống kê Nhà nước các cấp, cơ quan chủ quản cấp trên của xí nghiệp cần chỉ đạo, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho xí nghiệp làm tốt công tác hạch tóan như: Cung cấp đủ chứng tù và biểu mẫu in sẵn, hướng dẫn nghiệp vụ, đào tạo bồi dưỡng cán bộ kế tóan, thống kê , thực hiện kiểm tra kế tóan thường xuyên các đơn vị trực thuộc theo đúng chế độ kế tóan, thống kê Nhà nước. PHẦN HAI NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP TÍNH TÓAN THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU PHÁP LỆNH ÁP DỤNG CHO CÁC XÍ NGHIỆP QUỐC DOANH I.CHỈ TIÊU PHÁP LỆNH TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ KẾ HỌACH HÓA Trong hệ thống chỉ tiêu kế họach, Nhà nước chọn và phê chuẩn một số chỉ tiêu quan trọng nhất để giao kế họach và bắt buộc các đơn vị kinh tế cơ sở(gọi tắt là xí nghiệp) phải thực hiện, được gọi là chỉ tiêu pháp lệnh. Tùy theo yêu cầu quản lý và công tác kế họach hóa nền kinh tế quốc dân trong từng thời kỳ, văn cứ vào tính chất họat động sản xuất kinh doanh , Nhà nước quy định cụ thể một số chỉ tiêu dùng làm pháp lệnh cho từng lọai hình xí nghiệp. Về bản chất kinh tế, các chỉ tiêu pháp lệnh phản ánh tập trung mối quan hệ kinh tế then chốt giữa Nhà nước và các đơn vị kinh tế cơ sở. Sử dụng các chỉ tiêu này để giao và kiểm tra kế họach vừa phát huy được quyền chủ động, sáng tạo của đơn vị cơ sở trong sản xuất kinh doanh vừa thể hiện được vai trò trung tâm của kế họach hóa trong quản lý kinh tế của Nhà nước, gắn kế họach với hạch tóan kinh tế và kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Để phát huy hiệu quả của công tác quản lý và kế tóan hóa của các đơn vị kinh tế cơ sở, các cơ quan quản lý cấp trên, trong công tác hạch tóan, quyết tóan kế họach và kiểm tra tình hình thực hiện kế họach Nhà nước, đòi hỏi phải sử dụng một hệ thống chỉ tiêu báo cáo phản ánh đầy đủ quá trình tái sản xuất trong nền kinh tế quốc dân và từng đơn vị kinh tế cơ sở. Do vậy Nhà nước yêu cầu các đơn vị kinh tế cơ sở không chỉ hạch tóan, báo cáo chính xác kịp thời và đầy đủ các chỉ tiêu pháp lệnh mà còn phải chấp hành nghiêm ngặt chế độ hạch tóan và báo cáo thống kê, kế tóan định kỳ do Nhà nước ban hành cho các đơn vị kinh tế cơ sở. II. HƯỚNG DẪN NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP TÍNH TÓAN THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU PHÁP LỆNH A. Đối với các xí nghiệp công nghiệp:
Căn cứ vào số lượng chỉ tiêu pháp lệnh được giao cho từng lọai hình xí nghiệp, xí nghiệp công nghiệp được xét duyệt một đến ba chỉ tiêu sau đây: - Giá trị sản lượng hàng hóa thực hiện(trong đó gi rõ kim ngạch xuất khẩu, nếu có) - Số lượng sản phẩm chủ yếu với quy cách và chất lượng quy định, tiêu thụ theo kế họach và hợp đồng (trong đó ghi rõ phần giao cho quốc phòng và xuất khẩu, nếu có) - Các khỏan nộp ngân sách (gồm lợi nhuận và các khỏan thu khác)
-
Giá trị sản lượng hành hóa thực hiện là giá trị của khối lượng sản phẩm hàng hóa do xí nghiệp sản xuất ra và đã tiêu thụ trong kì báo cáo tức là đã xuất kho và đã được thanh tóan hoặc đã được khách hàng chấp thuận thanh tóan bằng văn bản. Giá trị sản lượng hàng hóa thực hiện theo giá bán buôn công nghiệp ( hoặc giá bán) khi giao kế họach Giá trị sản lượng hàng hóa thực hiện bao gồm: - Giá trị thành phẩm, nửa thành phẩm, bao gồm cả sản phẩm ngòai thiết kế của xí nghiệp, được sản xuất bằng nguyên vật liệu của xí nghiệp, kể cả nguyên vật liệu do xí nghiệp tự cân đối theo hợp đồng kinh tế. - Giá trị gia công, chế biến sản phẩm bằng nguyên vật liệu của khách hàng - Giá trị công việc có tính chất công nghiệp làm cho bên ngòai - Các trường hợp sau đây không được tính vào giá trị sản lượng hàng hóa thực hiện của xí nghiệp kì báo cáo: - Giá trị các sản phẩm mua đi bán lại do trao đổi, liên kết ...không cho xí nghiệp gia công, chế biến kể cả sản phẩm thue ngòai gia công. - Giá trị tiêu thụ vật tư, phế liệu, phế phẩm và doanh thu tiêu thụ các họat động không phải công nghiệp. - Tiền nhận của khách hàng nhưng chưa giao sản phẩm Giá trị sản phẩm sản xuất ra và đã tiêu thụ nhưng không đúng quy cách và chất lượng theo hợp đồng, bị khách hàng trả lại kì nào phải trừ vào giá trị hàng hóa thực hiện của kỳ đó. Đối với xí nghiệp điện ( nhà máy điện, xí nghiệp phân phối điện) xí nghiệp nước(kể cả xí nghiệp cung cấp nước) giá trị sản lượng hàng hóa thực hiện về điện và nước được tính căn cứ vào sản lượng điện, nước ghi trên các đồng hồ tiêu thụ của khách hàng.
-
Số lượng sản phẩm củ yếu với quy cách và chất lượng quy định tiêu thụ theo kế họach và hợp đồng. Được tính vào sản phẩm chủ yếu tiêu thụ là số lượng các laọi sản phẩm thuộc danh mục sản phẩm chủ yếu do cơ quan quản lý cấp trên giao cho xí nghiệp phù hợp với quy cách và chất lượng quy định và đã tiêu thụ theo kế họach và hợp đồng đã kí kết với khách hàng, không phân biệt nguồn vật tư để sản xuất các sản phẩm đó. Các sản phẩm chủ yếu sau đây không được tính vào số lượng sản phẩm tiêu thụ của xí nghiệp kì báo cáo: - Các sản phẩm đã xuất kho nhưng chưa được thanh tóan hoặc chưa được khách hàng chấp nhận thanh tóan bằng văn bản. - Sản phẩm đã tiêu thụ nhưng không đúng quy cách, chất lượng theo hợp đồng bị khách hàng trả lại. - Sản phẩm đã tiêu thụ không đúng kế họach cấp trên duyệt và hợp đồng kinh tế đã ký kết Đối với các xí nghiệp điện và nước, số lượng điện và nước, số lượng sản phẩm điện và nước tiêu thụ tính theo số ghi ở đồng hồ tiêu thụ của khách hàng. Được tính là hòan thành kế họach chỉ tiêu số lượng sản phẩm chủ yếu tiêu thụ khi hòan thành tất cả các sản phẩm chủ yếu ghi trong kế họach tiêu thụ được duyệt của xí nghiệp, không được lấy sản phẩm này, bù cho sản phẩm kia. Để đánh giá tổng hợp mức độ hòan thành kế họach, các sản phẩm chủ yếu đã được tiêu thụ tính như sau: Tiêu thụ Tên sản phẩm chủ yếu Kế họach Thực hiện% hòan thành kế họach - Sản phẩm A(cái) 100 110110 - Sản phẩm A(cái) 60 70116,6 - Sản phẩm A(cái) 50 4080,0 Giá bán buôn công nghiệp của sản phẩm A=100đ, sản phẩm B=70đ, sản phẩm C=40đ (100x100đ)+(60x70)+(40x40đ) Mức hòan thành kế họach:=--------------------------------------x100%=97% (100x100đ)+(60x70)+(50x40đ)
-
Các khỏan nộp ngân sách bao gồm: - Nộp lợi nhuận - Nộp thu quốc doanh - Nộp khấu hao cơ bản - Các khỏan nộp khác có ghi trong kế họach nộp - Lợi nhuận nộp ngân sách năm báo cáo báo gồm lợi nhuận nộp ngân sách năm trước chuyển sang và lợi nhuận phát sinh nộp ngân sách trong năm được tính tóan theo quy định của Bộ Tài chính - Thu quốc doanh được tính theo chế độ thu quy định của Bộ Tài chính. - Khấu hao cơ bản nộp ngân sách là số trích khấu hao cơ bản theo tỷ lệ quy định sau khi trừ phần khấu hao cơ bản được để lạ xí nghiệp để bổ sung vốn tự có về đàu tư xây dựng cơ bản hoặc trả nợ ngân hàng, theo quy định của Bộ Tài chính. - Các khỏan nộp khác như nộp chênh lệch giá,... Khi tính mức độ hòan thành kế họach phải lấp số thực nộp trong năm, sau khi đã lọai trừ yếu tố biến động giá cả so với số phải nộp theo kế họach năm. B.-Đối với xí nghiệp nông nghiệp và lâm nghiệp: Xí nghiệp nông nghiệp, kể cả xí nghiệp dịch vụ kĩ thuật nông nghiệp và lâm nghiệp xét duyệt một đến ba chỉ tiêu sau đây: - Giá trị sản lượng hàng hóa thực hiện ( trong đó ghi rõ kim ngạch xuất khẩu nếu có). - Số lượng sản phẩm chủ yếu với quy cách và chất lượng quy định tiêu thụ theo kế họach và hợp đồng - Các khỏan nộp ngân sách (gồm lợi nhuận và các khỏan thu khác)
-
Giá trị sản lượng hàng hóa nông nghiệp, lâm nghiệp thực hiện là giá trị khối lượng sản phẩm nông nghiệp và lâm nghiệp do xí nghiệp sản xuất và giá trị các dịch vụ nông nghiệp đã tiêu thụ, tính theo giá bán hoặc giá thanh tóan với khách hàng trong khung fía quy định của cấp có thẩm quyền khi giao kế họach. Các trường hợp sau đây không được tính vào giá trị sản lượng hàng hóa thực hiện kì báo cáo của xí nghiệp nông nghiệp và lâm nghiệp: - Giá trị các sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp đã xuất kho nhưng chưa được thanh tóan nhưng chưa được khách hàng chấp nhận thanh tóan bằng văn bản. - Giá trị các sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp đã tiêu thụ nhưng không phù hợp với quy cách, chất lượng theo hợp đồng hoặc văn bản thỏa thuận giữa hai bên, bị khách hàng trả lại - Giá trị các sản phẩm sản xuất ra dùng cho lưu chuyển nội bộ và để lại sử dụng(hạt giống, cây giống, con giống, thức ăn gia súc ... để lại sử dụng...)
-
Số lượng sản phẩm chủ yếu nông nghiệp,lâm nghiệp tiêu thụ là các sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp thuộc danh mục sản phẩm chủ yếu cấp trên giao kế họach, do xí nghiệp sản xuất ra, phù hợp với quy cách, chất lượng quy định và đã tiêu thụ theo kế họach và hợp đồng đã ký với khách hàng. Các trường hợp sau đây không được tính vào số lượng sản phẩm chủ yếu tiêu thụ kì báo cáo của xí nghiệp nông nghiệp, lâm nghiệp: - Sản phẩm đã sản xuất kho nhưng chưa được thanh tóan học chưa được khách hàng chấp nhận thanh tóan bằng văn bản.. - Sản phẩm đã tiêu thụ nhưng không phù hợp quy cách, chất lượng quy định theo hợp đồng bị khách hàng trả lại. - Sản phẩm tiêu thụ không theo đúng kế họach được duyệt và hợp đồng đã ký kết.
-
Các khỏan nộp ngân sách gồm có nộp lợi nhuận, nộp khấu hao cơ bản, tiền nuôi rừng và các khỏan nộp khác có ghi trong kế họach (nội dung, phương pháp tính tóan xem chỉ tiêu này phần xí nghiệp công nghiệp) C. Đối với xí nghiệp xây lắp Xí nghiệp xây lắp, thăm dó, khảo sát, thiết kế xây dựng xét duyệt một đến ba chỉ tiêu sau đây: - Giá trị sản lượng xây lắp thực hiện đã được nghiệm thu - Danh mục các công trình, hạng mục các công trình hòan thành bàn giao - Các khỏan nộp ngân sách (gồm lợi nhuận và các khỏan thu khác)
-
Giá trị sản lượng xây lắp thực hiện đã được nghiệm thu là giá trị khối lượng sản phẩm xây lắp hòan thành tòan bộ hoặc hòan thành đến giai đọan kỹ thuật hợp lý hoặc phần việc xây lắp ghi trong kế họach được duyệt theo thiết kế quy định của các công trình, hạng mục công trình tính theo giá dự tóan khi giao kế họach, do đơn vị xây lắp nhận thầu thực hiện theo hợp đồng đã được bên A và ngân hàng xác nhận theo biên bản nghiệm thu, bao gồm khối lượng xây lắp đã thu tiền và chưa thu tiền. Giá trị sản lượng xây lắp thực hiện phải tính tóan đúng tiêu chuẩn, nội dung, phương pháp được quy định theo thông tư số 02/TCTK-XDCB ngày 15 tháng 12 năm 1985 của Tổng cục Thống kê và các văn bản hướng dẫn cụ thể của các Bộ chuyên ngành.
-
Danh mục công trình, hạng mục công trình hòan thành và bàn giao là công trình, hạng mục công trình hoặc phần việc nhận thầu xây lắp đã thi công xong phần việc cuối cùng theo hợp đồng kinh tế giữa bên giao thầu và nhận thầu theo đúng thiết kế dự tóan được cấp có thẩm quyền duyệt và đã bàn giao cho đơn vị giao thầu theo đùng chế độ nghiệm thu quy định.
-
Các khỏan nộp ngân sách gồm có nộp lợi nhuận, nộp khấu hao cơ bản và các khỏan nộp khác có ghi trong kế họach(nội dung và phương pháp tính tóan, xem chỉ tiêu này phần xí nghiệp công nghiệp) D. Đối với xí nghiệp thương nghiệp và cung ứng vật tư: Xí nghiệp thương nghiệp (bao gồm thương nghiệp lương thực, ăn uống công cộng, dược phẩm, phát hành sách) và xí nghiệp cung ứng vật tư xét duyệt một đến ba chỉ tiêu sau đây: - Doanh số mua vào, bán ra(trong đó kim ngạch xuất, nhập khẩu, nếu có) - Khối lượng mặt hàng chủ yếu mua vào, bán ra theo kế họach hợp đồng(trong đó khối lượng mặt hàng chủ yếu xuất, nhập khẩu nếu có) - Các khỏan nộp ngân sách (gồm lợi nhuận và các khỏan thu khác, trong đó ngọai tệ nộp ngân sách nếu có).
-
Được tính vào doanh số mua, khi bên mua đã thanh tóan hoặc chấp nhận thanh tóan bằn văn bản và đã nhận hàng. Được tính vào doanh số bán khi bên bán đã xuất hàng và đã được thanh tóan hoặc đã được khách hàng chấp nhận thanh tóan bằng văn bản. Doanh số mua vào, bán ra được tính theo giá mua, bán khi giao kế họach. Không được tính vào doanh số mua vào bán ra kì báo cáo các trường hợp sau: - Giá trị hàng hóa đã xuất kho nhưng chưa được thanh tóan hoặc chưa được khách hàng chấp nhận thanh tóan bằng văn bản. - Giá trị hàng hóa đã tiêu thụ nhưng không phù hợp quy cách, chất lượng theo hợp đồng hoặc thỏa thuận giữa hai bên bị khách hàng trả lại. - Giá trị hàng hóa mua vào không phải để bán hoặc gia công, chế biến mà để sử dụng nội bộ. - Giá trị hàng mua để làm bao bì, vật đóng gói - Tiền ứng trước cho khách hàng để mua hàng hóa hoặc tiền nhận trước của khách hàng về bán hàng hóa. Hàng nhận kí gửi chỉ tính vào doanh số bán ra phần hoa hồng mà xí nghiệp được hưởng.
-
Khối lượng mặt hàng chủ yếu mua vào, bán ra theo kế họach và hợp đồng là số lượng những mặt hàng thuộc danh mục mặt hàng chủ yếu trên giao kế họach, do xí nghiệp đã mua vào, bán ra. Riêng các xí nghiệp cung ứng vật tư, doanh số bán ra trong kì báo cáo được cộng giá trị vât tư đã tạm ứng cho khách hàng thuộc chỉ tiêu năm sau. Khối lượng mặt hàng chủ yếu bán ra của năm báo cáo cũng được tính như vậy.
-
Các khỏan nộp ngân sách bao gồm nộp lợi nhuận, nộp khấu hao cơ bản, nộp chênh lẹch giá và các khỏan nộp khác có ghi trong kế họach(nội dung, phương pháp tính tóan, xem chỉ tiêu này phần xí nghiệp công nghiệp). G. Đối với xí nghiệp kinh doanh hàng xuất nhập khẩu: Các xí nghiệp kinh doanh hàng xuất nhập khẩu xét duyệt một đến ba chỉ tiêu sau đây : - Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu(tính theo đồng rúp hoặc đôla) - Khối lượng mặt hàng chủ yếu xuất, nhập khẩu - Các khỏan nộp ngân sách(trong đó nộp ngọai tệ nếu có)
-
Tổng kim ngạch xuất khẩu tính theo giá FOB. Được tính là hàng xuất khẩu khi hàng hóa đã xếp xong lên phương tiện vận chuyển và được chủ phương tiện kí xác nhận trên vận đơn. Xí nghiệp ngọai thương được cộng khỏan ngọai tệ ưu đãi về giá đối với một số mặt hàng được thị trường thế giới ưa thích và được khách hàng nước ngòai thanh tóan thêm vào kim ngạch xuất khẩu và trừ đi khỏan ngọai tệ phải bồi thường cho khách hàng do hàng hóa xuất không đảm bảo quy cách, chất lượng ra khỏi kim ngạch xuất khẩu. Tổng kim ngạch xuất khẩu tính theo giá CIF. Hàng nhập khẩu tính theo thời điểm ghi trên tờ khai hàng nhập khẩu, được hải quan xác nhận.
-
Khối lượng mặt hàng chủ yếu xuất, nhập khẩu là số lượng mặt hàng chủ yếu nhập khẩu và xuất khẩu được cấp trên giao kế họach. Thời điểm nhập khẩu và xuất khẩu tính như quy định ở chỉ tiêu tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu.
-
Các khỏan nộp ngân sách gồm có nộp chênh lệch ngọai thương, nộp khấu hao cơ bản, ngọai tệ nộp ngân sách và các khỏan nộp khác có ghi trong kế họach(nội dung, phương pháp, tính tóan, xem chỉ tiêu này phần xí nghiệp công nghiệp). H. Đối với các xí nghiệp vận tải, bốc xếp: Các xí nghiệp vận tải (ô tô, sông, biển, đường sắt, hàng không) bao gồm vận tải hàng hóa và vận tải hành khách, xí nghiệp bốc xếp, xét duyệt một đến ba chỉ tiêu sau đây:
-
Khối lượng vận chuyển và luân chuyển hàng hóa (hoặc hành khách hoặc khối lượng hàng hóa thông qua).
-
Khối lượng vận chuyển những mặt hàng chủ yếu theo kế họach và hợp đồng(hoặc khối lượng vận chuyển hành khách trên các tuyến đường chủ yếu hoặc khối lượng vận chuyển hành khách trên các tuyến đường chủ yếu hoặc khối lượng mặt hàng chủ yếu bốc xếp).
-
Các khỏan nộp ngân sách( gồm lợi nhuận và các khỏan thu khác). Nội dung, phạm vi tính tóan chỉ tiêu một và hai phải phù hợp với kế họach đã được duyệt, phương pháp tính tóan phải theo đúng quy định đã ban hành trong quyết định số 611/TCTK-PPCĐ ngày 01 tháng 11 năm 1978 của Tổng cục Thống kê riêng chỉ tiêu 3, xem phần xí nghiệp công nghiệp I. Đối với xí nghiệp bưu điện: Xí nghiệp bưu điện xét duyệt một đến ba chỉ tiêu sau đây:
-
Giá trị nghiệp vụ bưu điện 2. Sản lượng chủ yếu nghiệp vụ bưu điện 3. Các khỏan nộp ngân sách (gồm lợi nhuận và các khỏan thu khác). Đối với chỉ tiêu một và hai, nội dung, phạm vi, giá cả tính tóan phải phù hợp với kế họach được duyệt, phương pháp tính tóan phải theo đúng quy định đã ban hành trong quyết định số 512/TCTK-PPCĐ ngày 22 tháng 11 năm 1984 của Tổng cục Thống kê. Riêng chỉ tiêu các khỏan nộp ngân sách, xem chỉ tiêu này phần xí nghiệp công nghiệp. K. Đối với các xí nghiệp kinh doanh phục vụ như khách sạn du lịch, chiếu bóng, nghệ thuật,...xét duyệt một đến hai chỉ tiêu sau đây:
-
Doanh thu phục vụ 2. Các khỏan nộp ngân sách 1/ Doanh thu phục vụ là số tiền đã được thanh tóan hoặc đã được khách hàng chấp nhận thanh tóan bằng văn bản về phục vụ tính theo giá được duyệt của cấp có thẩm quyền khi giao kế họach 2/ Các khỏan nộp ngân sách gồm có nộp lãi, nộp khấu hao cơ bản và các khỏan nộp khác có ghi trong kế họach. III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Căn cứ văn bản hướng dẫn nội dung, phương pháp tính tóan thực hiện các chỉ tiêu pháp lệnh trước đây trái với văn bản này đều bãi bỏ.
Căn cứ vào thông tư này, các Bộ quản lý chuyên ngành, các Ủy ban nhân dân Tỉnh, thành phố ra các văn bản hướng dẫn cụ thể để thực hiện trong Bộ, địa phương mình, nếu có quy định nào trái với thông tư này thì phải trao đổi với Tổng cục Thống kê và Bộ Tài chính trước khi ban hành. Các cơ quan Thống kê , Tài chính của Bộ, ngành và địa phương có trách nhiệm hướng dẫn nghiệp vụ. Trong quá trình thực hiện, có gì khó khăn, cần báo cáo với Tổng cục Thống kê và Bộ Tài chính để giải quyết. BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH THỨ TRƯỞNG (Đã ký) Hồ Tế TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THỐNG KÊ TỔNG CỤC PHÓ (Đã ký) Nguyễn Lực
Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/thong-tu-lien-tich-so-03-tk-tc-tt-lien-bo-tong-cuc-thong-ke-bo-tai-chinh-huong-dan-mot-so-diem-ve-ke-toan-thong-ke-va-phuong-phap-tinh-toan-thuc-hien-cac-chi-tieu-phap-lenh-nham-bao-dam-quyen-tu-chu-san-xuat-kinh-doanh-cua-cac-don-vi-kinh-te-co-so-quoc-doanh--79704.
Dịch vụ liên quan
Văn bản liên quan
- Bãi bỏ của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật và của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số Điều của
- Quy định mức thu, chế độ thu, nộp phí thuộc lĩnh vực đường sắt
- Sửa đổi, bổ sung một số điều của của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán được sửa đổi, bố sung bởi và BTC, của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định giao dịch cổ phiếu niêm yết, đăng ký giao dịch và chứng chỉ quỹ, trái phiếu doanh nghiệp, chứng quyền có bảo đảm niêm yết trên hệ thống giao dịch chứng khoán đưực sửa đổi, bổ sung bởi, của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về hoạt động của công ty chứng khoán đưực sửa đổi, bổ sung bởi
- Sửa đổi, bố sung một số điều của của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về kiểm tra, giám sát, tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; kiểm soát hàng giả và hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được sửa đổi, bổ sung bởi
- Hướng dẫn bố trí nguồn kinh phí, lập dự toán, quản lý, sử dụng, quyết toán kinh phí thực hiện ký kết hợp đồng thực hiện nhiệm vụ của công chức
- Hướng dẫn mức chi tổ chức thực hiện công tác thi đua, khen thưởng tại khoản 1 Điều 48 của Chính phủ quy định về phận cấp, phân quyền trong lĩnh vực thi đua, khen thưởng; quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng
- Quy định mức thu, chế độ thu, nộp phí sát hạch lái xe, lệ phí cấp bằng, chứng chỉ được hoạt động trên các loại phuong tiện và lệ phí đăng ký, cấp biển xe máy chuyên dùng
- Quy định mức thu, chế độ thu, nộp một số khoản phí, lệ phí thuộc lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch