Thông tư số 27-TC/TNVTquy định chế độ phân phối lợi nhuận đối với các xí nghiệp cung ứng vật tư, thương nghiệp, dịch vụ
- Số hiệu
- 27-TC/TNVT
- Loại văn bản
- Thông tư
- Cơ quan ban hành
- Bộ Tài chính
- Ngày ban hành
- 19/10/1982
Toàn văn
THÔNG TƯ CỦA BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH SỐ 27-TC/TNVT NGÀY 20 - 10 - 1982 QUY ĐỊNH CHẾ ĐỘ PHÂN PHỐI LỢI NHUẬN ĐỐI VỚI CÁC XÍ NGHIỆP CUNG ỨNG VẬT TƯ, THƯƠNG NGHIỆP, DỊCH VỤ Hội đồng bộ trưởng đã ban hành quyết định số 146-HĐBT ngày 25-8-1982 về việc sửa đổi và bổ sung quyết định số 25-CP ngày 21-1-1981.
Căn cứ vào những điểm sửa đổi, bổ sung trong quyết định nói trên và để bảo đảm sự tương quan hợp lý giữa xí nghiệp sản xuất và xí nghiệp trong khâu lưu thông, Bộ Tài chính quy định và hướng dẫn chế độ phân phối lợi nhuận đối với xí nghiệp cung ứng vật tư, xí nghiệp thương nghiệp và xí nghiệp dịch vụ (khách sạn, ăn uống, giặt là, cắt tóc, sửa chữa xe đạp, xe máy, máy thu thanh, thu hình, đồng hồ ...) hạch tóan kinh tế độc lập, dưới đây gọi tắt là các xí nghiệp trong khâu lưu thông như sau . A. KẾ HỌACH KINH TẾ, TÀI CHÍNH LÀM CƠ SỞ CHO VIỆC PHÂN PHỐI LỢI NHUẬN Kế họach kinh doanh của các xí nghiệp trong khâu lưu thông gồm kế họach nghiệp vụ chính và kế họach sản xuất phụ (nếu có). I. KẾ HỌACH NGHIỆP VỤ CHÍ NH Kế họach nghiệp vụ chính của xí nghiệp gồm kế họach nghiệp vụ cơ bản và kế họach ngòai nghiệp vụ cơ bản (hạch tóan phụ thuộc).
-
Kế họach nghiệp vụ cơ bản là tòan bộ kế họach lưu chuyển hàng hóa và kế họach lợi nhuận thuộc phần kinh doanh cơ bản theo 3 lọai giá là giá cung cấp, giá chỉ đạo của Nhà nước, giá thỏa thuận. Tất cả họat động kinh doanh, lưu chuyển hàng hóa theo 3 lọai giá mới trên phải được kế họach hóa. Khi xét duyệt kế họach phải xét duyệt kế họach lưu chuyển, kế họach tích lũy của nghiệp vụ kinh doanh cơ bản gồm cả 3 lọai giá. Trong kế họach tích lũy cần phân biệt rõ giữa chêch lệch giá và lợi nhuận. a). Đối với lọai hàng mua bán và hạch tóan hàng tồn kho theo giá chỉ đạo của Nhà nước, thu lợi nhuận là chêch lệch giữa mức chiết khấu thương nghiệp hoặc chiết khấu vật tư đã được duyệt với mức phí tổn lưu thông. Còn tòan bộ số chênh lệch cao hơn mức chiết khấu được duyệt đều là chênh lệch giá, tòan bộ số chênh lệch giá phải nộp vào ngân sách Nhà nước. Xí nghiệp chỉ được phân phối lợi nhuận trong mức chiết khấu (nói cách khác là chỉ được phân phối lợi nhuận trích lập các qũy từ lợi nhuận định mức trong chiết khấu nhóm, mặt hàng). Số chênh lệch giá nói trên phát sinh ở 2 khâu: - Chênh lệch giá I phát sinh ở xí nghiệp cấp I có thể phát sinh lúc nhập kho, hoặc phát sinh lúc bán ra, phát sinh chênh lệch giá lúc nhập kho là khi giá mua thực tế thấp hơn giá chỉ đạo nhập kho (giá nhập kho là giá chỉ đạo bán lẻ, hoặc giá bán buôn vật tư trừ (-) chiết khấu); phát sinh chênh lệch giá lúc bán ra là khi giá chỉ đạo bán ra cao hơn giá hạch tóan hàng tồn kho. Tòan bộ số chênh lệch giá I nộp vào ngân sách trung ương. - Chênh lệch giá II phát sinh ở xí nghiệp cấp II (bao gồm cả công ty ăn uống) là mức chênh lệch giữa giá chỉ đạo bán ra thực tế cao hơn giá hạch tóan hàng tồn kho. Lọai chênh lệch này thường là chênh lệch giữa mức giá bán của chính quyền địa phương quy định cao hơn mức giá bán do trung ương quy định (đối với những mặt hàng, những đối tượng mà chính quyền địa phương được phép quy định giá bán cao hơn). Nói chung tòan bộ chênh lệch giá II nộp vào ngân sách địa phương. Trường hợp chênh lệch giá II phát sinh do giá bán hàng công nghiệp trong qũy hàng hóa thu mua theo hợp đồng hai chiều cao hơn giá chỉ đạo, thì chênh lệch giá này phải sử dụng để bù đắp số chênh lệch giá thu mua nông sản thực phẩm cao hơn giá chỉ đạo, số còn thừa phải nộp ngân sách. Khi địa phương giao hàng nông sản thực phẩm cho trung ương chỉ được thanh tóan theo giá chỉ đạo. b ) . Đối với lọai hàng mua bán theo giá thỏa thuận , xí nghiệp được hạch tóan tồn kho theo giá mua thực tế (hoặc giá bình quân). Về nguyên tắc kinh doanh lọai hàng này phải đủ bù đắp chi phí, có lãi để trích lập các qũy và nộp ngân sách. Lợi nhuận định mức lọai hàng mua bán theo giá thỏa thuận được xác định theo tỷ lệ lợi nhuận định mức trong chiết khấu hoặc thặng số của từng nhóm hàng, mặt hàng, xí nghiệp được phân phối trên cơ sở lợi nhuận định mức này. Do họat động theo phương thức giá thỏa thuận nên có thể số tích lũy thu được sẽ cao hơn lợi nhuận định mức, tòan bộ số tích lũy cao hơn này là chênh lệch giá phải nộp vào ngân sách Nhà nước. Trường hợp xí nghiệp kinh doanh tổng hợp nhiều mặt hàng, nhóm hàng theo giá thỏa thuận, mỗi nhóm hàng có định mức lợi nhuận khác nhau, thì xí nghiệp có thể tính theo mức lợi nhuận bình quân gia quyền của các nhóm hàng, mặt hàng. Hoặc căn cứ vào mức lợi nhuận của nhóm hàng, mặt hàng có doanh số chiếm đại bộ phận để tính chung cho tòan bộ doanh số.
-
Kế họach nghiệp vụ ngòai cơ bản là tòan bộ kế họach sản xuất, gia công, đại lý... hạch tóan phụ thuộc vào nghiệp vụ kinh doanh cơ bản, đều phải được kế họach hóa, và phải được duyệt chung trong kế họach nghiệp vụ chính của xí nghiệp lưu thông. Số tích lũy do nghiệp vụ ngòai cơ bản mang lại phải được phân biệt rõ giữa chênh lệch giá và lợi nhuận như sau: Lợi nhuận là chênh lệch giữa giá thành kế họach (hoặc định mức) với giá thành thực tế. Số lợi nhuận thu được này được cộng vào lợi nhuận của nghiệp vụ cơ bản nói trên để phân phối. Chênh lệch giá là chênh lệch giữa giá chỉ đạo nhập kho với giá thành kế họach (hoặc giá thành định mức). Tòan bộ số chênh lệch giá phải nộp vào ngân sách Nhà nước II. SẢN XUẤT PHỤ CỦA XÍ NGHIỆP LƯU THÔNG Đối với xí nghiệp lưu thông không có nghiệp vụ lưu thông phụ, tất cả các nghiệp vụ có tính chất lưu thông đó đều phải được ghi ở kế họach nghiệp vụ chính nếu ở mục I trên đây (nghiệp vụ kinh doanh cơ bản và ngòai cơ bản). Trường hợp xí nghiệp lưu thông tận dụng lao động dôi thừa, tận dụng các lọai phế liệu thu nhặt trong quá trình kinh doanh của mình để sản xuất ra mặt hàng phục vụ tiêu dùng, thì nghiệp vụ sản xuất này được gọi là sản xuất phụ của xí nghiệp lưu thông. Ví dụ cửa hàng ăn uống tận dụng nước thải, thức ăn thừa... để tổ chức chăn nuôi, cửa hàng may đo quần áo tận dụng vải vụn để may đo áo gối, vỏ chăn tiết kiệm..., cửa hàng công nghệ phẩm tận dụng bao bì thải lọai để sản xuất đồ chơi trẻ em... Trước khi đưa các lọai phế liệu thu nhặt vào sản xuất phụ, xí nghiệp lưu thông phải quản lý và trị giá thu hồi để giảm phí tổn lưu thông của nghiệp vụ chính. Những phế liệu Nhà nước quy định ghi trong kế họach phân phối nguyên liệu cho các đơn vị khác thì xí nghiệp không được giữ lại để làm sản xuất phụ. Việc quản lý và phân phối lợi nhuận sản xuất phụ của các xí nghiệp lưu thông được áp dụng như sản xuất phụ trong xí nghiệp sản xuất công nghiệp quy định tại quyết định số 146-HĐBT ngày 25-8-1992 của Hội đồng bộ trưởng và thông tư hướng dẫn số 21-TC/CNA ngày 1-9-1982 của Bộ Tài chính. Các Bộ chủ quản cần hướng dẫn cụ thể những nghiệp vụ nào là sản xuất phụ cho từng ngành kinh doanh. Việc này cần có sự thống nhất của Ủy ban Kế họach Nhà nước và Bộ Tài chính. Hàng năm, hàng qúy các xí nghiệp phải đăng ký kế họach sản xuất phụ, giá thành và giá bán với cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp của mình. B. PHÂN PHỐI LỢI NHUẬN I. Nếu hòan thành kế họach nghiệp vụ chính theo chỉ tiêu kế họach Nhà nước thì xí nghiệp được trích từ lợi nhuận thực hiện theo định mức để thành lập các qũy xí nghiệp như sau:
-
Qũy khuyến khích phát triển kinh doanh được trích từ 1% đến 2 % trên nguyên giá tài sản cố định, mức cụ thể của từng lọai xí nghiệp bao nhiêu do cơ quan chủ quản quy định sau khi nhất trí với cơ quan tài chính cùng cấp, trên cơ sở phát huy tốt hiệu quả của qũy. Trường hợp xí nghiệp không hòan thành kế họach lợi nhuận thì khuyến khích phát triển kinh doanh chỉ được trích theo mức độ hòan thành kế họach lợi nhuận.
-
Qũy phúc lợi và qũy khen thưởng. Các xí nghiệp kinh doanh hàng nông sản, thực phẩm, lâm sản, vật liệu xây dựng, muối và các xí nghiệp dịch vụ được trích 20% qũy lương thực hiện cả năm của kế họach nghiệp vụ chính. Các xí nghiệp kinh doanh hàng công nghiệp được trích 18% qũy lương thực hiện cả năm của kế họach nghiệp vụ chính. Tổng số được trích chia ra: Qũy khen thưởng 70%, Qũy phúc lợi 30%.
-
Số lợi nhuận còn lại xí nghiệp phải nộp vào ngân sách Nhà nước theo định kỳ do cơ quan thu quốc doanh quy định. II . Nếu có lợi nhuận vượt kế họach do chủ quan phấn đấu thực hiện vượt 2 chỉ tiêu: vượt được doanh số mua, bán, (sau khi lọai trừ yếu tố giá), giảm được phí tổn lưu thông, thì số lợi nhuận vượt kế họach đó nộp vào ngân sách Nhà nước 60%, số còn lại 40% để bổ sung cho các qũy theo tỷ lệ: 60% cho qũy khen thưởng, 20% cho qũy khuyến khích phát triển kinh doanh, 20% cho qũy phúc lợi. Khi xác định xí nghiệp hòan thành kế họach lợi nhuận, không thể đơn thuần căn cứ vào báo cáo quyết tóan hòan thành chỉ tiêu lợi nhuận, vì thường chỉ tiêu này trong quá trình hạch tóan, không bóc tách được đầy đủ các yếu tố chênh lệch giá. Cho nên cần phải kiểm tra chặt chẽ các yếu tố quyết định việc hòan thành kế họach lợi nhuận - Chỉ tiêu doanh số cả mua vào và bán ra, cả giá trị và cả số lượng, về giá trị cần phải lọai trừ yếu tố tăng giá, phải kiểm tra giữa giá mua thực tế với giá mua hạch tóan. - Chỉ thu phí tổn lưu thông cần phải xem xét số phí thực hiện trong kỳ, số phí trích trước, số phí phân bổ cho hàng tồn kho. Số phí giảm đã dùng để thưởng tiết kiệm. Số chi phí không hạch tóan vào phí mà lại hạch tóan vào giá mua. - Các khỏan tài sản thiếu, tổn thất công nợ khê đọng, khỏan phải thu nhưng không thu được, những khỏan này cần phải được xem xét và xử lý liên quan đến chỉ tiêu lợi nhuận, chỉ tiêu phí tổn lưu thông. Vì theo chế độ hiện hành khi các khỏan tổn thất do đơn vị gây ra, ngòai số phải đền bù theo chế độ trách nhiệm vật chất, có khỏan phải tính vào phí tổn lưu thông, có khỏan tính vào lãi ở trong kỳ. III. Trường hợp xí nghiệp không hòan thành các chỉ tiêu kế họach pháp lệnh chủ yếu và vi phạm chính sách chế độ quản lý kinh tế tài chính thì giảm trừ hai qũy khen thưởng và phúc lợi như sau:
-
Nếu không hòan thành ba chỉ tiêu chủ yếu sau đây thì cứ mỗi phần trăm (%) không hòan thành của một chỉ tiêu phải trừ đi 2% số tiền được trích theo mức cơ bản của mỗi qúy. - Tổng doanh số mua vào, bán ra, - Số lượng mua vào, bán ra của những mặt hàng chủ yếu, - Lợi nhuận và các khỏan phải nộp ngân sách (số thực nộp so với số phải nộp). Riêng đối với chỉ tiêu số lượng mua vào, nếu xét thấy có mặt hàng mua vào theo chỉ tiêu kế họach sẽ phát sinh ứ đọng thì xí nghiệp phải báo cáo lên cấp trên, và khi xét trích lập qũy sẽ được miễn trừ.
-
Nếu xí nghiệp vi phạm chế độ, chính sách quản lý kinh tế, tài chính của Nhà nước kê dưới đây, thì cứ mỗi vi phạm tùy theo mức độ bị giảm trừ từ 2 đến 5% số tiền trích theo mức cơ bản của mỗi qũy trong phần kinh doanh nghiệp vụ chính (bao gồm cả phần qũy trích từ lợi nhuận vượt kế họach nếu có). - Làm thiệt hại đến tài sản vật tư, tiền vốn. - Vi phạm hợp đồng kinh tế, vi phạm chế độ thu mua, phân phối giá cả của Nhà nước. - Vi phạm các chế độ báo cáo, kế tóan, thống kê và kỷ luật thu nộp ngân sách. - Để xảy ra tai nạn chết người do khuyết điểm về quản lý hoặc do thiếu trách nhiệm. IV . Nếu có lợi nhuận của sản xuất phụ , sau khi đã nộp thuế hoặc nộp thu quốc doanh, thì số lợi nhuận này được phân phối 30% nộp ngân sách Nhà nước, số còn lại 70% để bổ sung cho các qũy theo tỷ lệ: 60% cho qũy khen thưởng, 20% cho qũy phúc lợi, 20% cho qũy khuyến khích phát triển kinh doanh. V. Mức khống chế tối đa cho qũy khen thưởng . Qũy khen thưởng cả năm được trích ở mục I, mục II, mục IV trên đây cộng lại tối đa không qúa 6 tháng lương thực hiện bình quân trong năm của công nhân sản xuất kinh doanh của xí nghiệp. Số vượt 6 tháng lương xí nghiệp được để lại 30%, nộp cấp trên 20% (Bộ chủ quản đối với đơn vị trung ương quản lý, Sở, Ty chủ quản đối với xí nghiệp địa phương quản lý) để lập qũy dự trữ tài chính tập trung số còn lại (50% nộp ngân sách Nhà nước (Bộ Tài chính sẽ có quy định riêng về qũy dự trữ tài chính). Số 30% để lại cho xí nghiệp được phân phối: 60% qũy khen thưởng, 20% qũy phúc lợi. 20% qũy khuyến khích phát triển kinh doanh. VI. Trường hợp theo kế họach xí nghiệp có nhu cầu tăng vốn lưu động, hoặc nhu cầu xây dựng cơ bản thì xí nghiệp được trích một phần lợi nhuận nộp ngân sách để bổ sung vốn lưu động, vốn xây dựng cơ bản. Mức trích là bao nhiêu do cơ quan chủ quản cấp trên của xí nghiệp và cơ quan tài chính cùng cấp xác định cùng một lúc khi xét duyệt kế họach tài chính của xí nghiệp. VII. Trường hợp lợi nhuận định mức không đủ trích lập các qũy, ngân sách cấp bổ sung cho đủ. Nếu xí nghiệp không hòan thành kế họach hoặc bị giảm trừ qũy phúc lợi và qũy khen thưởng, cả hai qũy cộng không đạt 60đ/bình quân đầu người thì sẽ được ngân sách trợ cấp cho đủ 60đ/bình quân đầu người. Những xí nghiệp hoặc nhóm ngành nào chưa có lợi nhuận định mức thì cơ quan chủ quản xí nghiệp cùng cơ quan tài chính cùng cấp tham khảo các ngành nhóm hàng tương đương, xây dựng định mức lợi nhuận cho xí nghiệp, lợi nhuận định mức này do Bộ Tài chính xét duyệt (đối với xí nghiệp trung ương) và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố xét duyệt (đối với xí nghiệp địa phương). Những điểm không sửa đổi bổ sung trong thông tư này vẫn được áp dụng theo các điều kiện quy định trong thông tư số 3-TC/CNXD ngày 28-3-1978 và thông tư số 4-TC/VP ngày 18-3-1981 của Bộ Tài chính. Trước khi cơ quan chủ quản xét duyệt mức trích qũy xí nghiệp phải được sự nhất trí của cơ quan tài chính cùng cấp. Cơ quan chủ quản, cơ quan ngân hàng, cơ quan tài chính cần phải tăng cường kiểm tra tài chính đối với xí nghiệp, bảo đảm việc trích lập các qũy xí nghiệp theo đúng chế độ. Nếu xí nghiệp trích quá mức thì xí nghiệp phải trả lại, nếu trong qũy không còn tiền thì phải trừ vào kỳ kế họach sau: Ai có chủ trương làm sai chế độ thì người đó bị cắt tiêu chuẩn tiền thưởng. Thông tư này được áp dụng thống nhất cho tất cả các xí nghiệp lưu thông, cung ứng vật tư, thương nghiệp và các xí nghiệp dịch vụ hạch tóan kinh tế độc lập. Thông tư này được áp dụng cho việc phân phối lợi nhuận từ năm 1982 trở đi. Tất cả các điều liên quan đến phân phối lợi nhuận của các xí nghiệp lưu thông trái với thông tư này đều bãi bỏ. Đối với các xí nghiệp sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, vận tải hạch tóan độc lập trong các ngành lưu thông được áp dụng chế độ phân phối lợi nhuận quy định chung cho từng lọai xí nghiệp đó. Trong quá trình thực hiện, các ngành, các cấp, các xí nghiệp có vướng mắc gì cần báo cáo kịp thời cho Bộ Tài chính.
Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/thong-tu-so-27-tc-tnvt-quy-dinh-che-do-phan-phoi-loi-nhuan-doi-voi-cac-xi-nghiep-cung-ung-vat-tu-thuong-nghiep-dich-vu--107835.
Dịch vụ liên quan
Văn bản liên quan
- Bãi bỏ của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật và của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số Điều của
- Quy định mức thu, chế độ thu, nộp phí thuộc lĩnh vực đường sắt
- Sửa đổi, bổ sung một số điều của của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán được sửa đổi, bố sung bởi và BTC, của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định giao dịch cổ phiếu niêm yết, đăng ký giao dịch và chứng chỉ quỹ, trái phiếu doanh nghiệp, chứng quyền có bảo đảm niêm yết trên hệ thống giao dịch chứng khoán đưực sửa đổi, bổ sung bởi, của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về hoạt động của công ty chứng khoán đưực sửa đổi, bổ sung bởi
- Sửa đổi, bố sung một số điều của của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về kiểm tra, giám sát, tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; kiểm soát hàng giả và hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được sửa đổi, bổ sung bởi
- Hướng dẫn bố trí nguồn kinh phí, lập dự toán, quản lý, sử dụng, quyết toán kinh phí thực hiện ký kết hợp đồng thực hiện nhiệm vụ của công chức
- Hướng dẫn mức chi tổ chức thực hiện công tác thi đua, khen thưởng tại khoản 1 Điều 48 của Chính phủ quy định về phận cấp, phân quyền trong lĩnh vực thi đua, khen thưởng; quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng
- Quy định mức thu, chế độ thu, nộp phí sát hạch lái xe, lệ phí cấp bằng, chứng chỉ được hoạt động trên các loại phuong tiện và lệ phí đăng ký, cấp biển xe máy chuyên dùng
- Quy định mức thu, chế độ thu, nộp một số khoản phí, lệ phí thuộc lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch