Nghị định số 160/1999/NĐ-CPQuy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh về Tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở
- Số hiệu
- 160/1999/NĐ-CP
- Loại văn bản
- Nghị định
- Cơ quan ban hành
- Chính phủ
- Ngày ban hành
- 18/10/1999
- Lĩnh vực
- Phổ biến, giáo dục pháp luật
Toàn văn
NGHỊ ĐỊNH Quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh về tổ chức và họat động hòa giải ở cơ sở _______________ CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Căn cứ Pháp lệnh về Tổ chức và họat động hòa giải ở cơ sở ngày 25 tháng 12 năm 1998;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp sau khi thống nhất ý kiến với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, NGHỊ ĐỊNH:
Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1 . Phạm vi áp dụng 1. Nghị định này quy định chi tiết một số điều về Tổ chức và họat động hòa giải được quy định tại Pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội số 09/1998/ PL-UBTVQH ngày 25 tháng 12 năm 1998 về Tổ chức và họat động hòa giải ở cơ sở.
- Các quy định của Nghị định này không áp dụng đối với họat động hòa giải trong tố tụng của Tòa án nhân dân và của Trọng tài kinh tế.
Điều 2. Hòa giải ở cơ sở 1. Hòa giải ở cơ sở là việc hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên tranh chấp đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ nhằm giữ gìn đòan kết trong nội bộ nhân dân, củng cố, phát huy những tình cảm và đạo lý truyền thống tốt đẹp trong gia đình và cộng đồng dân cư, phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an tòan xã hội trong cộng đồng dân cư.
-
"Các bên" nói tại Điều 1 Pháp lệnh về Tổ chức và họat động hòa giải ở cơ sở có thể là các thành viên trong một hộ gia đình, các hộ gia đình với nhau hoặc các cá nhân với nhau.
-
Thuật ngữ "cơ sở" theo quy định của Pháp lệnh về Tổ chức và họat động hòa giải ở cơ sở và Nghị định này là thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố và các cụm dân cư khác như các chợ cố định, tụ điểm du lịch, vui chơi giải trí.
Điều 3. Hình thức hòa giải Hòa giải ở cơ sở được thực hiện thông qua họat động của Tổ hòa giải hoặc các tổ chức thích hợp khác của nhân dân ở thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố và các cụm dân cư khác phù hợp với pháp luật, đạo đức xã hội và phong tục tập quán tốt đẹp của nhân dân.
Điều 4 . Phạm vi hòa giải 1. Hòa giải được tiến hành đối với việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong cộng đồng dân cư, bao gồm :
a) Mâu thuẫn, xích mích giữa các thành viên trong gia đình do khác nhau về quan niệm sống, lối sống, tính tình không hợp hoặc mâu thuẫn, xích mích giữa các cá nhân trong quan hệ xóm giềng như sử dụng lối đi qua nhà, sử dụng điện, nước sinh họat, công trình phụ, giờ giấc sinh họat, gây mất vệ sinh chung ...;
b) Tranh chấp về quyền, lợi ích phát sinh từ quan hệ dân sự như tranh chấp phát sinh từ các quan hệ về tài sản, quan hệ hợp đồng dân sự, nghĩa vụ dân sự, thừa kế, quyền sử dụng đất;
c) Tranh chấp về quyền, lợi ích phát sinh từ quan hệ hôn nhân gia đình như : thực hiện quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng; quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con; nhận nuôi con nuôi; ly hôn; yêu cầu cấp dưỡng;
d) Tranh chấp phát sinh từ những việc vi phạm pháp luật mà theo quy định của pháp luật, những việc vi phạm đó chưa đến mức bị xử lý bằng biện pháp hình sự hoặc biện pháp hành chính như trộm cắp vặt, đánh chửi nhau gây mất trật tự công cộng, đánh nhau gây thương tích nhẹ, va quệt xe cộ gây thương tích nhẹ.
- Không hòa giải các vụ việc sau đây :
a) Các tội phạm hình sự. Riêng đối với các hành vi vi phạm pháp luật hình sự mà người bị hại đã không yêu cầu hoặc rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, Viện Kiểm sát hoặc Tòa án không tiếp tục tiến hành việc tố tụng và không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật đối với các hành vi như : cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì có thể hòa giải;
b) Hành vi vi phạm pháp luật bị xử lý vi phạm hành chính bao gồm : - Hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử lý vi phạm hành chính; - Hành vi vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an tòan xã hội nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính như : giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục; đưa vào cơ sở chữa bệnh; quản chế hành chính.
c) Các vi phạm pháp luật và tranh chấp mà theo quy định của pháp luật không được hòa giải quy định tại điểm c khỏan 2 Điều 3 của Pháp lệnh về Tổ chức và họat động hòa giải ở cơ sở bao gồm : Kết hôn trái pháp luật; Gây thiệt hại đến tài sản nhà nước; Tranh chấp phát sinh từ giao dịch trái pháp luật; Tranh chấp về lao động.
Điều 5 . Trách nhiệm của Bộ Tư pháp và ủy ban nhân dân các cấp về công tác hòa giải ở cơ sở 1. Bộ Tư pháp có trách nhiệm : Dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức và họat động hòa giải trình Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền; Hướng dẫn về tổ chức và họat động hòa giải trong phạm vi cả nước; Tổ chức bồi dưỡng và hướng dẫn các Sở Tư pháp tổ chức bồi dưỡng về đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nâng cao nghiệp vụ hòa giải cho người làm công tác hòa giải; Sơ kết, tổng kết công tác hòa giải của Tổ hòa giải trong phạm vi cả nước.
- ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về công tác hòa giải theo sự chỉ đạo và hướng dẫn của Bộ Tư pháp.
Căn cứ tình hình cụ thể và khả năng ngân sách của địa phương, ủy ban nhân dân các cấp tạo điều kiện, hỗ trợ về kinh phí cho việc kiện tòan tổ chức, bồi dưỡng nghiệp vụ, sơ kết, tổng kết, thi đua, khen thưởng nhằm nâng cao hiệu quả họat động hòa giải ở địa phương.
Điều 6 . Trách nhiệm của các cơ quan tư pháp địa phương về công tác hòa giải ở cơ sở Các cơ quan tư pháp địa phương giúp ủy ban nhân dân cùng cấp về công tác hòa giải, cụ thể :
- Sở Tư pháp có trách nhiệm :
a) Dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về công tác hòa giải trình ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành;
b) Theo sự chỉ đạo của Bộ Tư pháp và ủy ban nhân dân cấp tỉnh, hướng dẫn việc thực hiện quy định của cấp trên về tổ chức và họat động hòa giải trong phạm vi địa phương;
c) Tổ chức bồi dưỡng và hướng dẫn Phòng Tư pháp tổ chức bồi dưỡng về đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nâng cao nghiệp vụ hòa giải cho người làm công tác hòa giải;
d) Sơ kết, tổng kết và báo cáo ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Bộ Tư pháp về công tác hòa giải của tổ hòa giải ở địa phương; tổ chức thi đua, khen thưởng công tác hòa giải ở địa phương.
- Phòng Tư pháp có trách nhiệm :
a) Theo sự chỉ đạo của cơ quan tư pháp cấp trên và ủy ban nhân dân cấp huyện, hướng dẫn các Ban Tư pháp triển khai thực hiện các quy định về công tác hòa giải ở địa phương; đề xuất với ủy ban nhân dân cấp huyện biện pháp kiện tòan tổ chức và nâng cao hiệu quả họat động hòa giải ở địa phương;
b) Tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ hòa giải ở địa phương theo hướng dẫn của cơ quan Tư pháp cấp trên;
c) Sơ kết, tổng kết công tác hòa giải của Tổ hòa giải ở địa phương và báo cáo về công tác hòa giải với ủy ban nhân dân cấp huyện và cơ quan tư pháp cấp trên; tổ chức thi đua, khen thưởng công tác hòa giải của Tổ hòa giải ở địa phương.
- Ban Tư pháp có trách nhiệm :
a) Thực hiện việc bồi dưỡng nghiệp vụ hòa giải, cung cấp tài liệu nghiệp vụ cho tổ hòa giải ở địa phương theo sự hướng dẫn của cơ quan tư pháp cấp trên;
b) Sơ kết, tổng kết công tác hòa giải của Tổ hòa giải ở địa phương, báo cáo công tác hòa giải với ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và cơ quan tư pháp cấp trên; tổ chức thi đua, khen thưởng công tác hòa giải ở địa phương Chương II TỔ HÒA GIẢI VÀ TỔ VIÊN TỔ HÒA GIẢI
Điều 7. Tổ hòa giải 1. Tổ hòa giải ở cơ sở là tổ chức tự quản của nhân dân được thành lập ở thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố và các cụm dân cư khác để thực hiện hoặc tổ chức thực hiện việc hòa giải.
- Tổ hòa giải có Tổ trưởng và các tổ viên. Mỗi Tổ hòa giải có từ 3 tổ viên trở lên.
Căn cứ đặc điểm, tình hình cụ thể của cụm dân cư và kết quả cuộc họp thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố, kết quả cuộc họp chủ hộ hoặc kết quả phiếu lấy ý kiến chủ hộ, Chủ tịch ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn quyết định số lượng tổ hòa giải ở địa phương.
Điều 8. Thủ tục bầu tổ viên, tổ trưởng tổ hòa giải 1. ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn phối hợp với các tổ chức thành viên của Mặt trận lựa chọn, giới thiệu người để nhân dân bầu tổ viên tổ hòa giải. Công dân từ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự và có đủ các tiêu chuẩn quy định tại Điều 9 của Pháp lệnh về Tổ chức và họat động hòa giải ở cơ sở đều có quyền đề cử, ứng cử vào danh sách bầu tổ viên tổ hòa giải.
- Việc bầu tổ viên tổ hòa giải được tổ chức ở thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố và cụm dân cư nơi Tổ hòa giải họat động và được tiến hành theo một trong các hình thức sau đây : Họp nhân dân bàn, biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín; Họp chủ hộ trong thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố, biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín. Những người tham dự họp nhân dân hoặc đại diện cho chủ hộ trong cuộc họp chủ hộ phải là người từ 18 tuổi trở lên và có năng lực hành vi dân sự. Các cuộc họp nói trên được tiến hành khi có ít nhất 2/3 số người trong diện họp tham dự.
c) Trong trường hợp không tổ chức họp được thì phát phiếu lấy ý kiến chủ hộ gia đình. Người được bầu là tổ viên Tổ hòa giải phải được quá nửa số người tham gia bầu tán thành.
-
Tổ trưởng tổ hòa giải do các tổ viên tổ hòa giải bầu trong số tổ viên của tổ.
-
Trưởng thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố tổ chức và chủ trì các cuộc họp nhân dân, họp chủ hộ để bầu tổ viên Tổ hòa giải hoặc tổ chức việc phát phiếu lấy ý kiến chủ hộ. Biên bản bầu tổ viên tổ hòa giải trong các cuộc họp nhân dân, họp chủ hộ, biên bản kết quả phiếu lấy ý kiến chủ hộ và biên bản bầu Tổ trưởng Tổ hòa giải được gửi đến Chủ tịch ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xem xét để công nhận thành phần Tổ hòa giải.
Điều 9. Miễn nhiệm tổ viên tổ hòa giải 1. Việc miễn nhiệm tổ viên Tổ hòa giải được thực hiện trong những trường hợp sau đây :
a) Có hành vi vi phạm pháp luật;
b) Có hành vi trái đạo đức xã hội;
c) Thiếu nhiệt tình trong họat động hòa giải;
d) Theo nguyện vọng cá nhân xin rút khỏi tổ hòa giải.
Căn cứ biên bản họp nhân dân, họp chủ hộ hoặc kết quả phiếu lấy ý kiến chủ hộ về việc miễn nhiệm tổ viên Tổ hòa giải do Trưởng thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố chủ trì, Ban Tư pháp đề nghị bằng văn bản để Chủ tịch ủy ban nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định việc miễn nhiệm.
Điều 10. Tổ trưởng tổ hòa giải 1. Tổ trưởng Tổ hòa giải là người phụ trách Tổ hòa giải, đồng thời tham gia họat động hòa giải với tư cách là tổ viên Tổ hòa giải.
- Tổ trưởng tổ hòa giải có các quyền hạn, nhiệm vụ sau đây :
a) Phân công, điều hòa, phối hợp họat động của tổ viên Tổ hòa giải; phối hợp với các tổ hòa giải trong việc nâng cao nghiệp vụ và trong họat động hòa giải tranh chấp liên quan đến địa bàn họat động của các Tổ hòa giải đó;
b) Tổ chức các cuộc họp định kỳ và đột xuất để rút kinh nghiệm về công tác hòa giải và đề xuất với ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn về các biện pháp nâng cao hiệu quả của công tác hòa giải; cung cấp tài liệu và các thông tin nâng cao nghiệp vụ hòa giải;
c) Báo cáo định kỳ và đột xuất về công tác hòa giải cho ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp; Đại diện cho Tổ hòa giải trong quan hệ với Trưởng thôn, xóm, bản, ấp, Tổ trưởng tổ dân phố, cụm dân cư và với các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở.
Điều 11. Tổ viên tổ hòa giải Tổ viên Tổ hòa giải có các quyền hạn, nhiệm vụ sau đây :
-
Hòa giải các vụ việc theo quy định tại khỏan 1 Điều 4 của Nghị định này;
-
Thông qua họat động hòa giải, tuyên truyền, vận động nhân dân nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật;
-
Đối với những tranh chấp không thuộc phạm vi hòa giải có thể ảnh hưởng đến trật tự, an ninh ở địa phương, thì tổ viên Tổ hòa giải phải báo cáo ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn để xem xét và có biện pháp giải quyết.
Chương III HỌAT ĐỘNG HÒA GIẢI
Điều 12. Tiến hành việc hòa giải Việc hòa giải do các tổ viên Tổ hòa giải tiến hành hoặc tổ chức tiến hành trong các trường hợp sau đây:
-
Tổ viên Tổ hòa giải chủ động tiến hành hòa giải hoặc mời người ngòai Tổ hòa giải thực hiện việc hòa giải theo sáng kiến của mình trong trường hợp trực tiếp chứng kiến hoặc biết về việc tranh chấp;
-
Theo phân công của Tổ trưởng Tổ hòa giải;
Theo đề nghị của các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân;
- Theo yêu cầu của một hoặc các bên tranh chấp.
Điều 13. Thời gian, địa điểm tiến hành việc hòa giải 1. Việc hòa giải được tiến hành vào thời gian mà các đương sự yêu cầu hoặc theo sáng kiến của tổ viên Tổ hòa giải. Việc hòa giải có thể được tiến hành theo sáng kiến của tổ viên Tổ hòa giải ngay tại thời điểm xảy ra tranh chấp, nếu tổ viên Tổ hòa giải là người chứng kiến và xét thấy cần thiết phải hòa giải ngay.
- Tổ viên Tổ hòa giải lựa chọn địa điểm thuận lợi cho việc hòa giải, phù hợp với nguyện vọng của các bên.
Điều 14. Người tiến hành hòa giải 1. Việc hòa giải có thể do một hoặc một số tổ viên Tổ hòa giải tiến hành.
-
Tổ viên Tổ hòa giải có thể mời người ngòai Tổ hòa giải thực hiện việc hòa giải hoặc cùng tham gia hòa giải. Người được mời có thể là người có trình độ pháp lý, có kiến thức xã hội và có uy tín đối với các bên tranh chấp. Trong từng trường hợp cụ thể, người được mời có thể là người thân thích, bạn bè, người hàng xóm của một hoặc các bên, người cao tuổi, người biết rõ nguyên nhân tranh chấp.
-
Tổ viên Tổ hòa giải không tiến hành việc hòa giải nếu họ là người có liên quan đến vụ việc cần được hòa giải hoặc vì những lý do cá nhân khác mà không thể bảo đảm hòa giải được khách quan hoặc không đem lại kết quả. Trong trường hợp không thể tiếp tục tiến hành hòa giải, tổ viên Tổ hòa giải có trách nhiệm báo cáo kịp thời cho Tổ trưởng và bàn giao công việc cho tổ viên khác được Tổ trưởng phân công.
Điều 15 . Hòa giải tranh chấp mà các đương sự ở các cụm dân cư khác nhau Trong trường hợp các bên tranh chấp ở các cụm dân cư có các tổ hòa giải khác nhau, thì các tổ hòa giải đó phối hợp để thực hiện việc hòa giải. Việc phối hợp hòa giải do :
-
Tổ trưởng hoặc người được Tổ trưởng phân công hòa giải thực hiện.
-
Các tổ viên là người thực hiện việc hòa giải có thể trực tiếp phối hợp với nhau, nhưng phải báo cáo ngay với Tổ trưởng về việc phối hợp thực hiện việc hòa giải.
Điều 16. Kết thúc việc hòa giải 1. Việc hòa giải được kết thúc khi các bên đã đạt được thỏa thuận và tự nguyện thực hiện thỏa thuận đó. Trong trường hợp việc thực hiện thỏa thuận có khó khăn, thì tổ viên Tổ hòa giải động viên, thuyết phục các bên thực hiện thỏa thuận và có thể đề nghị Trưởng thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố hoặc kiến nghị với ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn tạo điều kiện để các bên tự nguyện thực hiện thỏa thuận.
- Trong trường hợp các bên không thể đạt được thỏa thuận và việc tiếp tục hòa giải không thể đạt kết quả, thì tổ viên Tổ hòa giải hướng dẫn cho các bên làm thủ tục cần thiết để đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết. Đối với tranh chấp phức tạp, mâu thuẫn giữa các bên gay gắt, có thể gây hậu quả ảnh hưởng đến an ninh, trật tự trong địa bàn dân cư, thì tổ viên Tổ hòa giải kịp thời báo cáo cho Tổ trưởng Tổ hòa giải để kiến nghị cơ quan có thẩm quyền có biện pháp giải quyết.
Chương IV KHEN THƯỞNG VÀ XỬ LÝ VI PHẠM
Điều 17. Khen thưởng 1. Tổ hòa giải và tổ viên Tổ hòa giải có thành tích trong công tác hòa giải thì được khen thưởng. Đối với việc khen thưởng ở xã, phường, thị trấn, Ban Tư pháp phối hợp với Ban công tác mặt trận, lập danh sách người được khen thưởng trên cơ sở bình xét trong các tổ hòa giải để đề nghị Chủ tịch ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn khen thưởng. Phòng Tư pháp lập danh sách người được khen thưởng ở cấp huyện trình Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện khen thưởng. Sở Tư pháp báo cáo ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và tổ chức việc khen thưởng ở cấp tỉnh; báo cáo Bộ Tư pháp về công tác thi đua, khen thưởng để tổ chức việc khen thưởng ở cấp Bộ.
- Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và cá nhân có thành tích trong việc xây dựng, củng cố tổ chức và nâng cao hiệu quả họat động hòa giải ở cơ sở thì được khen thưởng.
Điều 18 . Xử lý vi phạm Người nào có hành vi vi phạm Pháp lệnh về Tổ chức và họat động hòa giải ở cơ sở và Nghị định này và các quy định khác của pháp luật về hòa giải ở cơ sở, thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Chương V ĐIỀU KHỎAN THI HÀNH
Điều 19 . Việc công nhận các tổ hòa giải được thành lập trước ngày Pháp lệnh về Tổ chức và họat động hòa giải ở cơ sở có hiệu lực Các tổ hòa giải được thành lập trước ngày Pháp lệnh về Tổ chức và họat động hòa giải ở cơ sở có hiệu lực đều được ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi Tổ hòa giải đó họat động củng cố, kiện tòan, công nhận và cho tiếp tục họat động.
Điều 20. Hiệu lực thi hành Nghị định này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày ký. Bộ Tư pháp có trách nhiệm hướng dẫn thi hành Nghị định này. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.
TM. CHÍNH PHỦ THỦ TƯỚNG (Đã ký) Phan Văn Khải
Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/nghi-dinh-so-160-1999-nd-cp-quy-dinh-chi-tiet-mot-so-dieu-cua-phap-lenh-ve-to-chuc-va-hoat-dong-hoa-giai-o-co-so--6877.
Dịch vụ liên quan
Văn bản liên quan
- Hướng dẫn thi hành của Thủ tướng Chính phủ quy định về xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật
- Quy định về xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật
- Quy định về thành phần và nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật
- của Quốc hội về việc bổ sung một điều vào của Quốc hội về việc thi hành Luật Tổ chức Tòa án nhân dân
- Về xây dựng, quản lý, khai thác Tủ sách pháp luật
- Sửa đổi, bổ sung một số điều của của Thủ tướng Chính phủ quy định về thành phần và nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật
- Quy định về báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật
- Ban hành Kế hoạch công tác phổ biến, giáo dục Pháp luật của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2014