Thông tư số 21-TC/QLNT/NgthgQuy định và hướng dẫn chế độ thanh toán hàng viện trợ của các tổ chức quốc tế, các tổ chức liên chính phủ, chính phủ, các tổ chức quần chúng và tư nhân nước ngoài (gọi tắt là hàng viện trợ)
- Số hiệu
- 21-TC/QLNT/Ngthg
- Loại văn bản
- Thông tư
- Cơ quan ban hành
- Bộ Tài chính
- Ngày ban hành
- 08/12/1980
Toàn văn
BỘ TÀI CHÍNH Số : 21 - TC/QLNT/Ngthg
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Hà nội ngày 8 tháng 12 năm 1980
THÔNG TƯ
Quy định và hướng dẫn chế độ thanh tóan hàng viện trợ của các tổ chức quốc tế, các tổ chức liên chính phủ, chính phủ, các tổ chức quần chúng và tư nhân nước ngòai (gọi tắt là hàng viện trợ) ______________________________ Quyết định 261-CP ngày 14/9/1977 của Hội đồng Chính phủ (1) về việc sửa đổi và bổ sung nhiệm vụ của Ban Thống nhất quản lý viện trợ ở cuối điều 6 có ghi:" Chế độ về giao nhận và thanh tóan hàng viện trợ áp dụng theo quy chế hàng nhập đã được quy định ở Nghị định 200-CP ngày 31/12/1973 của Hội đồng Chính phủ " Chỉ thị số 192-TTg ngày 24/5/1979 và số 340-TTg ngày 23-10-1979 của Thủ tướng Chính phủ về công tác quản lý viện trợ của các tổ chức quốc tế đã nói rõ: "Các nguồn viện trợ dù dưới dạng nào, đều là nguồn bổ sung nhằm đáp ứng yêu cầu của kế họach Nhà nước và Ngân sách Nhà nước " Điều 4 phần III của Chỉ thị 192-TTg và Điều 3 phần II của Chỉ thị 340-TTg có nêu: "Bộ Tài chính cần giải quyết kịp thời việc cấp vốn cho các đơn vị hành chính sự nghiệp có nhận hàng viện trợ, ban hành chế độ thanh tóan hàng viện trợ cho phù hợp với tình hình và tính chất viện trợ hiện nay. Ngân hàng kiến thiết Trung ương cần kịp thời giải quyết vốn về thiết bị máy móc cho các ngành, các địa phương nhận hàng viện trợ". Thi hành các quy định của Hội đồng Chính phủ và các chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và căn cứ tình hình thực tế công tác giao nhận và thanh tóan hàng viện trợ thời gian qua, Bộ Tài chính quy định chế độ thanh tóan hàng viện trợ nhằm đảm bảo tăng cường quản lý tài sản của Nhà nước, quản lý vật tư, hàng hóa, ngọai tệ và tài chính, phát huy hiệu quả kinh tế số viện trợ quốc tế, đề cao trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị đối với việc quản lý số tài sản viện trợ đồng thời đảm bảo sự kiểm tra tài chính đối với việc phân phối sử dụng và thanh tóan hàng viện trợ của Nhà nước. (1) Nay nhiệm vụ chỉ đạo công tác tiếp nhận viện trợ được chuyển sang Ủy ban Quan hệ kinh tế với nước ngòai theo Nghị định số 137/CP ngày 3/5/1980 của Hội đồng Chính phủ. I- NGUYÊN TẮC CHUNG Hàng hóa, vật tư, tiền mặt (bằng các lọai ngọai tệ và tiền Việt nam) do nước ngòai viện trợ cho ta dưới mọi hình thức đều là tài sản của Nhà nước, cần được quản lý thống nhất thông qua kế họach Nhà nước và Ngân sách Nhà nước: 1/ "Hàng viện trợ" được phân phối cho các ngành, các địa phương, theo yêu cầu của kế họach Nhà nước do Chính phủ quyết định, và được ghi vào Ngân sách Nhà nước. 2/ Ban tiếp nhận viện trợ là cơ quan được giao nhiệm vụ làm các thủ tục giao nhận và thanh tóan hàng viện trợ, đôn đốc cơ quan nhận hàng viện trợ trả tiền hàng đúng thời hạn đã quy định ở điều 44 chương V của Nghị định 200-CP của Hội đồng Chính phủ, thu và nộp tiền hàng viện trợ vào Ngân sách Nhà nước. 3/ Mọi thủ tục thanh tóan tiền hàng viện trợ đều tập trung đầu mối vào Bộ, ngành (cấp Trung ương) được Nhà nước cho phép tiếp nhận và sử dụng hàng viện trợ, có trách nhiệm nhận hàng nhanh chóng đưa vào sử dụng và thanh tóan tiền hàng đúng thời hạn. 4/ Tùy theo tính chất hàng hóa, các Bộ, các ngành sử dụng nguồn vốn thích hợp (vốn lưu động, vốn dự trữ, vốn kiến thiết cơ bản, kinh phí hành chính, sự nghiệp . . .) để đảm bảo việc quản lý vốn, quản lý vật tư rành mạch, chặt chẽ ngay từ đầu. 5/ Giá cả để thanh tóan hàng viện trợ được áp dụng theo điều 24 chương III của Nghị định 200-CP của Hội đồng Chính phủ và Thông tư Liên Bộ Ủy ban Vật giá Nhà nước - Bộ Tài chính - Bộ Ngọai thương số 3-TT/LB ngày 15/11/1975 cụ thể là: a. Giá ban buôn hàng nhập khẩu đã được Ủy ban Vật giá Nhà nước công bố là cơ sở để tính và thanh tóan hàng viện trợ. b. Những mặt hàng viện trợ chưa có giá công bố của Ủy ban Vật giá Nhà nước thì áp dụng theo giá bán lẻ của ngành Nội thương trừ (-) tỷ lệ phần trăm về chiết khấu thương nghiệp. c. Những mặt hàng viện trợ chưa có giá trong nước (nói ở điểm a và b) thì sẽ theo giá hóa đơn nước ngòai (bằng ngọai tệ) quy ra tiền Việt nam theo tỷ giá kết tóan nội bộ hiện hành, cộng thêm chi phí giành cho Ban Tiếp nhận viện trợ để làm giá thanh tóan tạm thời. Khi có giá bán buôn hàng nhập do Ủy ban Vật giá Nhà nước công bố hoặc giá bán lẻ của ngành Nội thương, đơn vị nhận hàng được thanh tóan khỏan chênh lệch tăng (+) hoặc giảm (-) giữa giá tạm tính và giá chính thức với Bộ Tài chính. d. Những mặt hàng viện trợ đã cũ, kém phẩm chất, giá trị không lớn, số lượng không nhiều thì giá thanh tóan do Ban Tiếp nhận viện trợ và đơn vị nhận hàng thỏa thuận. đ. Trường hợp có nhiều lọai hàng được đóng gói chung trong một kiện (caisse, carton, centainer . . .) thì Ban Tiếp nhận viện trợ cần kiểm kê, phân lọai, định giá để giao cho các đơn vị nhận hàng và lập hóa đơn thanh tóan, bảo đảm nhanh chóng và chính xác. II. NHỮNG QUY ĐỊNH CỤ THỂ 1/ Hàng viện trợ thanh tóan bằng vốn kiến thiết cơ bản: Các lọai thiết bị, trang bị đồng bộ cho các xí nghiệp, bệnh viện, trường học, viện nghiên cứu khoa học, phòng thí nghiệm . . . Bộ, ngành được nhận viện trợ phải chỉ định ngay một đơn vị hạch tóan kinh tế, có tài khỏan ở Ngân hàng kiến thiết Trung ương, thay mặt Bộ, ngành ký hợp đồng nhận hàng và thanh tóan tiền hàng viện trợ với Ban Tiếp nhận viện trợ. Đơn vị được chỉ định ký hợp đồng, nhận hàng và thanh tóan phải lập kế họach hàng về có trị giá thành tiền Việt nam gửi Bộ Tài chính, Ban Tiếp nhận viện trợ, kèm theo kế họach xin cấp phát vốn kiến thiết cơ bản. Hàng về năm nào thì phải xin ghi vào kế họach đầu tư XDCB và Ngân sách năm ấy để khi hàng về là có vốn thanh tóan. Trường hợp, các thiết bị đồng bộ giao ngòai kế họach, đơn vị được chỉ định nhận hàng phải báo cáo ngay với Ủy ban kế họach Nhà nước để xin bổ sung kế họach và Bộ Tài chính để xin cấp phát vốn kiến thiết cơ bản bổ sung. Trường hợp các công trình, dự án xây dựng cho địa phương thì Bộ, ngành chủ quản phải thông báo cho Ban Tiếp nhận viện trợ biết đơn vị và địa phương được chỉ định nhận hàng để đảm bảo việc giao hàng được chính xác kịp thời. Việc thanh tóan tiền hàng viện trợ của các công trình, dự án này vẫn do Bộ, ngành chủ quản chịu trách nhiệm trả tiền hàng cho Ban Tiếp nhận viện trợ. Khi giao hàng xong, căn cứ vào phiếu giao hàng, Ban Tiếp nhận viện trợ lập hóa đơn và nhờ thu gửi đến Ngân hàng Ngọai thương Việt nam; Sau khi kiểm tra đầy đủ các chứng từ thanh tóan, Ngân hàng Ngọai thương Việt nam chuyển ngay các chứng từ thanh tóan này đến Ngân hàng kiến thiết Trung ương, để thanh tóan theo chế độ hiện hành. 2/ Hàng viện trợ thanh tóan bằng nguồn vốn lưu động: - Hàng viện trợ thuộc lọai hàng thông dụng như lương thực, thực phẩm, bông vải sợi, quần áo may sẵn, các lọai bách hóa, các lọai máy khâu, máy thu thanh, thu hình . . . giao cho các đơn vị chuyên doanh thuộc Bộ Lương thực thực phẩm và Bộ Nội thương . . . - Dược phẩm, dược liệu các lọai giao cho xí nghiệp sản xuất và công ty chuyên doanh thuộc Bộ Y tế. - Các lọai thiết bị, máy lẻ phục vụ giao thông vận tải nông nghiệp, hải sản, thủy lợi . . . giao cho các đơn vị chuyên doanh thuộc các Bộ, các ngành được phân công quản lý các lọai hàng đó. - Các lọai nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu . . . giao cho các công ty, xí nghiệp, Liên hiệp các xí nghiệp thuộc các Bộ, các ngành quản lý sản xuất. Tất cả các lọai hàng hóa viện trợ kể trên, cơ quan nhận hàng sử dụng vốn lưu động (tự có, hoặc vốn vay Ngân hàng) để trả tiền hàng cho Ban Tiếp nhận viện trợ. Ban Tiếp nhận viện trợ căn cứ vào phiếu giao hàng lập hóa đơn và nhờ thu gửi đến Ngân hàng Ngọai thương Việt nam để chuyển cho Ngân hàng phục vụ bên mua. Ngân hàng phục vụ bên mua báo cho cơ quan nhận hàng biết để làm thủ tục trích tài khỏan hoặc xin vay Ngân hàng để trả tiền hàng cho Ban Tiếp nhận viện trợ. Quá hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được giấy báo của Ngân hàng đơn vị nhận hàng không làm các thủ tục thanh tóan nói trên thì Ngân hàng phục vụ bên mua tự động trích tài khỏan của đơn vị nhận hàng để thanh tóan tiền hàng cho Ban Tiếp nhận viện trợ, trường hợp tài khỏan của bên mua không còn tiền thì Ngân hàng phục vụ bên mua cho vay để trả tiền hàng cho Ban Tiếp nhận viện trợ và áp dụng các chế độ phạt chậm trả đối với đơn vị nhận hàng. 3/ Hàng viện trợ thanh tóan bằng nguồn vốn cấp phát của Ngân sách Nhà nước: - Hàng viện trợ được Thủ tướng Chính phủ quyết định phát không cho nhân dân các vùng bị thiệt hại vì thiên tai, địch họa; cho trẻ em (trong và ngòai nhà trẻ) hoặc một số đối tượng và trường hợp đặc biệt khác đều do nguồn kinh phí của Ngân sách Nhà nước cấp phát để thanh tóan. Cơ quan được giao nhiệm vụ phân phối hàng viện trợ phát không phải lập dự tóan đề nghị Bộ Tài chính cấp phát kinh phí để nhận hàng và thanh tóan tiền hàng cho Ban Tiếp nhận viện trợ hoặc cơ quan được phân công quản lý hàng. Cơ quan được giao nhiệm vụ phân phối hàng viện trợ phát không cần phải lập kế họach phân phối hàng hóa. Kế họach phân phối phải ghi rõ: + Tên hàng, số lượng, trị giá thành tiền + Đối tượng được phân phối + Tên địa phương được phân phối. Kế họach phân phối phải gửi đến cơ quan quản lý hàng, Bộ Tài chính (Vụ quản lý tài vụ Hành chính Văn xã, hoặc Vụ tài vụ ngành liên quan, Vụ quản lý Ngân sách Nhà nước) và Ban Tiếp nhận viện trợ. Cơ quan quản lý hàng giao chỉ tiêu cho đơn vị của mình điều hàng xuống từng địa phương cho khớp với yêu cầu của cơ quan chủ quản. Bộ Tài chính (Vụ Quản lý tài vụ hành chính văn xã hoặc Vụ tài vụ ngành, Vụ quản lý Ngân sách Nhà nước) cấp phát kinh phí cho cơ quan chủ quản làm các thủ tục thu tiền hàng viện trợ cho Ngân sách Nhà nước đồng thời thông báo trị giá hàng viện trợ phát không xuống các Sở, Ty tài chính các cơ quan giao hàng và các đơn vị sử dụng hàng các địa phương được phân phối hàng viện trợ phát không. - Hàng viện trợ giao cho các cơ quan hành chính sự nghiệp, Ban Tiếp nhận viện trợ căn cứ vào phiếu giao hàng lập hóa đơn và nhờ thu gửi Bộ Tài chính (Vụ Hành chính Văn xã hoặc Vụ Tài vụ ngành, Vụ Quản lý Ngân sách Nhà nước) để Bộ Tài chính cấp phát kinh phí thanh tóan tiền hàng cho Ban Tiếp nhận viện trợ, đồng thời làm lệnh thu tiền hàng viện trợ vào Ngân sách Nhà nước. 4/ Các khỏan viện trợ bằng ngọai tệ: Ngòai các khỏan viện trợ bằng thiết bị kỹ thuật và hàng hóa, các tổ chức quốc tế, các tổ chức quần chúng hoặc Chính phủ các nước có viện trợ bằng ngọai tệ (tiền mặt hoặc phiếu chuyển tiền) được chuyển qua Ngân hàng Ngọai thương Việt nam hoặc giao trực tiếp cho các sứ quán ta tại nước ngòai để chuyển về nước . . . để thanh tóan các chi phí về nhân công xây dựng, mua vật liệu tại chỗ, để thực hiện các dự án công trình đã thỏa thuận hoặc để giúp các địa phương và các cơ quan của ta tự xây dựng một số công trình nhất định như trường học, bệnh viện, nhà trẻ . . . Khi nhận được các khỏan ngọai tệ kể trên Ngân hàng Ngọai thương Việt nam ghi vào tài khỏan riêng cho Ban Tiếp nhận viện trợ và báo cho cơ quan này biết để làm thủ tục nộp tiền Việt nam (tính chuyển từ ngọai tệ theo tỷ giá kết tóan nội bộ hiện hành vào Ngân sách Nhà nước và thông báo cho cơ quan chủ quản và các địa phương được nhận viện trợ biết để làm việc với Bộ Tài chính và Ban Tiếp nhận viện trợ về việc sử dụng khỏan viện trợ này. Ban Tiếp nhận viện trợ có trách nhiệm hướng dẫn các cơ quan chủ quản và các địa phương được nhận khỏan viện trợ bằng tiền Việt nam (từ ngọai tệ chuyển đổi ra) để sử dụng các yêu cầu của các tổ chức viện trợ và hướng dẫn làm thông báo việc sử dụng (nếu có yêu cầu) cho các tổ chức viện trợ. Những quy định trên đây căn cứ vào chương V "Trả tiền hàng nhập khẩu trong Điều lệ "Lập kế họach nhập khẩu, ký kết hợp đồng, giao nhận và trả tiền hàng nhập khẩu" ban hành kèm theo Nghị định 200-CP ngày 31/12/1973 của hội đồng Chính phủ và Thông tư Liên Bộ Tài chính - Ngọai thương - Ngân hàng Nhà nước số 13-TT/LB ngày 10/7/1974 hướng dẫn thi hành chương V "Trả tiền hàng nhập khẩu". Những quy định này còn căn cứ vào các chế độ về quản lý vốn, quản lý vật tư, tài sản hàng hóa, quản lý ngọai tệ về chế độ trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong tình hình mới. Trong quá trình thực hiện, các Bộ, ngành phản ánh kịp thời những vướng mắc để Bộ Tài chính hướng dẫn bổ sung./. KT/ BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH THỨ TRƯỞNG (Đã ký) Đào Thiện Thi
Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/thong-tu-so-21-tc-qlnt-ngthg-quy-dinh-va-huong-dan-che-do-thanh-toan-hang-vien-tro-cua-cac-to-chuc-quoc-te-cac-to-chuc-lien-chinh-phu-chinh-phu-cac-to-chuc-quan-chung-va-tu-nhan-nuoc-ngoai-goi-tat-la-hang-vien-tro--78415.
Dịch vụ liên quan
Văn bản liên quan
- Bãi bỏ của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật và của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số Điều của
- Quy định mức thu, chế độ thu, nộp phí thuộc lĩnh vực đường sắt
- Sửa đổi, bổ sung một số điều của của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán được sửa đổi, bố sung bởi và BTC, của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định giao dịch cổ phiếu niêm yết, đăng ký giao dịch và chứng chỉ quỹ, trái phiếu doanh nghiệp, chứng quyền có bảo đảm niêm yết trên hệ thống giao dịch chứng khoán đưực sửa đổi, bổ sung bởi, của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về hoạt động của công ty chứng khoán đưực sửa đổi, bổ sung bởi
- Sửa đổi, bố sung một số điều của của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về kiểm tra, giám sát, tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; kiểm soát hàng giả và hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được sửa đổi, bổ sung bởi
- Hướng dẫn bố trí nguồn kinh phí, lập dự toán, quản lý, sử dụng, quyết toán kinh phí thực hiện ký kết hợp đồng thực hiện nhiệm vụ của công chức
- Hướng dẫn mức chi tổ chức thực hiện công tác thi đua, khen thưởng tại khoản 1 Điều 48 của Chính phủ quy định về phận cấp, phân quyền trong lĩnh vực thi đua, khen thưởng; quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng
- Quy định mức thu, chế độ thu, nộp phí sát hạch lái xe, lệ phí cấp bằng, chứng chỉ được hoạt động trên các loại phuong tiện và lệ phí đăng ký, cấp biển xe máy chuyên dùng
- Quy định mức thu, chế độ thu, nộp một số khoản phí, lệ phí thuộc lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch