Thông tư số 46/2011/TT-BCAQuy định việc phạm nhân gặp thân nhân; nhận, gửi thư; nhận tiền, quà và liên lạc điện thoại với thân nhân
- Số hiệu
- 46/2011/TT-BCA
- Loại văn bản
- Thông tư
- Cơ quan ban hành
- Bộ Công an
- Ngày ban hành
- 30/06/2011
- Lĩnh vực
- An ninh và trật tự, an toàn xã hội
Toàn văn
THÔNG TƯ Quy định việc phạm nhân gặp thân nhân; nhận, gửi thư; nhận tiền, quà và liên lạc điện thọai với thân nhân
Căn cứ Luật Thi hành án hình sự năm 2010;
Căn cứ Nghị định số 77/2009/NĐ-CP ngày 15-9-2009 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Bộ trưởng Bộ Công an quy định việc phạm nhân gặp thân thân; nhận, gửi thư; nhận tiền, quà và liên lạc điện thọai với thân nhân như sau:
Chương I QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này quy định việc phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại các trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ gặp thân nhân; nhận, gửi thư; nhận tiền, quà của thân nhân, cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác và liên lạc điện thọai với thân nhân.
Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư này áp dụng đối với phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại các trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; không áp dụng đối với các trường hợp thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự đối với phạm nhân là người nước ngòai.
Chương II TỔ CHỨC CHO PHẠM NHÂN GẶP THÂN NHÂN
Điều 3. Chế độ thăm gặp thân nhân 1. Phạm nhân được gặp thân nhân một lần trong 01 tháng (trừ trường hợp vi phạm Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ đang bị giam tại buồng kỷ luật), mỗi lần gặp không quá 01 giờ. Phạm nhân chấp hành tốt Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ, tích cực học tập, lao động hoặc để thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật thì Giám thị trại giam, trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện) cho phép kéo dài thời gian nhưng không quá 03 giờ. Phạm nhân được khen thưởng thì được gặp thân nhân thêm một lần trong 01 tháng. Phạm nhân chấp hành tốt Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ hoặc lập công thì được gặp vợ hoặc chồng ở phòng riêng trong nhà thăm gặp không quá 24 giờ.
-
Phạm nhân là người chưa thành niên được gặp thân nhân không quá 03 lần trong 01 tháng, mỗi lần gặp không quá 03 giờ; nếu chấp hành tốt Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ, tích cực học tập, lao động hoặc để thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật thì được kéo dài thời gian nhưng không quá 24 giờ.
-
Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải tổ chức cho phạm nhân được gặp thân nhân theo chế độ thăm gặp vào tất cả các ngày trong tuần, ngày nghỉ, ngày lễ, Tết theo quy định. Thời gian thăm gặp trong ngày buổi sáng từ 7 giờ 30 phút đến 11 giờ, buổi chiều từ 13 giờ đến 16 giờ 30 phút.
Điều 4. Đối tượng được thăm gặp phạm nhân 1. Những người là thân nhân phạm nhân được thăm gặp phạm nhân gồm: ông, bà nội, ngọai; bố, mẹ đẻ; bố, mẹ vợ (hoặc chồng); bố, mẹ nuôi hợp pháp; vợ hoặc chồng; con đẻ, con dâu, con rể, con nuôi hợp pháp; anh, chị, em ruột; anh, chị em vợ (hoặc chồng); cô, dì, chú, bác, cậu, cháu ruột.
- Đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác có đề nghị thăm gặp phạm nhân thì Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện xem xét, giải quyết nếu xét thấy phù hợp với lợi ích chính đáng của phạm nhân và yêu cầu của công tác quản lý, giáo dục cải tạo phạm nhân. Khi gặp đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác, phạm nhân được nhận thư, tiền mặt, đồ vật (trừ đồ vật thuộc danh mục cấm đưa vào trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ) và được sử dụng theo quy định tại Điều 46 Luật Thi hành án hình sự và quy định tại Thông tư này.
Điều 5. Thủ tục thăm gặp phạm nhân 1. Thân nhân đến thăm gặp phạm nhân phải là người có tên trong Sổ thăm gặp (trường hợp thăm gặp lần đầu chưa có Sổ thăm gặp thì phải có đơn xin thăm gặp có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi cư trú hoặc của cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập) và phải có một trong những giấy tờ sau (trừ người dưới 16 tuổi): Giấy chứng minh nhân dân; Hộ chiếu; giấy xác nhận là cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân. Trường hợp người đến thăm gặp không có giấy tờ tùy thân thì phải có đơn đề nghị có dán ảnh được Ủy ban nhân dân hoặc cơ quan có thẩm quyền nêu trên xác nhận, đóng dấu vào đơn và đóng dấu giáp lai vào ảnh.
-
Trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện cấp Sổ thăm gặp phạm nhân theo mẫu thống nhất của Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp. Sổ thăm gặp phải được Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện ký, đóng dấu và phải được Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập xác nhận danh sách những người là thân nhân của phạm nhân.
-
Thân nhân là vợ (hoặc chồng) của phạm nhân có đủ điều kiện được gặp phạm nhân từ 3 giờ đến 24 giờ tại phòng riêng thì phải có giấy đăng ký kết hôn hoặc giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân hoặc Công an cấp xã xác nhận tình trạng hôn nhân thực tế, nếu ngủ qua đêm với phạm nhân thì phải có giấy cam kết thực hiện nghiêm chỉnh Nội quy nhà thăm gặp, chịu trách nhiệm quản lý, giám sát phạm nhân trong thời gian thăm gặp, không để phạm nhân vi phạm pháp luật, Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ đồng thời thực hiện kế họach hóa gia đình, phòng, chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Phạm nhân nữ được gặp chồng tại phòng riêng phải sử dụng biện pháp tránh thai và có giấy cam kết không mang thai trong thời gian chấp hành án phạt tù.
-
Thủ tục thăm gặp phạm nhân là người nước ngòai thực hiện theo quy định tại khỏan 5, Điều 46, Luật Thi hành án hình sự.
-
Khi giao tiếp, người đến thăm và phạm nhân phải nói bằng tiếng Việt, trường hợp là người dân tộc ít người và người nước ngòai không biết tiếng Việt, thì phải qua phiên dịch hoặc có cán bộ biết tiếng dân tộc hoặc tiếng nước đó giám sát.
Điều 6. Trách nhiệm của thân nhân, phạm nhân trong thăm gặp 1. Mọi người đến thăm gặp phạm nhân phải chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, Nội quy nhà thăm gặp, tuân theo sự hướng dẫn của cán bộ làm nhiệm vụ tổ chức thăm gặp và những cán bộ có trách nhiệm khác.
- Khi gặp thân nhân, phạm nhân phải nghiêm chỉnh chấp hành Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ, Nội quy nhà thăm gặp và tuân theo sự hướng dẫn của cán bộ làm nhiệm vụ tổ chức thăm gặp. Trước khi gặp thân nhân, phạm nhân phải vệ sinh sạch sẽ, phải mặc quần áo dài đã được phát và đi giày hoặc dép. Trường hợp phạm nhân mới đến chấp hành án, chưa được phát quần áo thì được cho mượn quần áo hoặc mặc quần áo dài thường (nếu có), nhưng phải đóng dấu theo quy định.
Điều 7. Tiêu chuẩn và trách nhiệm của cán bộ làm nhiệm vụ tổ chức thăm gặp 1. Cán bộ làm nhiệm vụ tổ chức thăm gặp phải là sĩ quan nghiệp vụ, có trình độ, năng lực, có kinh nghiệm công tác và khả năng quản lý, giám sát phạm nhân. Việc bố trí cán bộ làm nhiệm vụ tổ chức thăm gặp theo chế độ luân phiên, mỗi người làm công tác này không quá 02 năm.
-
Trong khi làm nhiệm vụ, cán bộ làm nhiệm vụ tổ chức thăm gặp phải nghiêm chỉnh chấp hành Điều lệnh Công an nhân dân. Nghiêm cấm cán bộ, chiến sĩ có hành vi tiêu cực, gây phiền hà trong tổ chức thăm gặp, cho phạm nhân gặp thân nhân; nhận, gửi thư; nhận tiền, quà ngòai khu vực nhà thăm gặp hoặc ngòai nơi được bố trí cho phạm nhân thăm gặp; tự ý nhận, chuyển thư, tiền, quà cho phạm nhân.
-
Cán bộ làm nhiệm vụ tổ chức thăm gặp có trách nhiệm tiếp nhận, kiểm tra giấy tờ của người đến thăm gặp, lập danh sách phạm nhân được thăm gặp trình Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện ký, duyệt trước khi thăm gặp; chịu trách nhiệm quản lý, giám sát phạm nhân từ khi nhận phạm nhân ra đến khi đưa về cổng trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ giao cho cán bộ trực trại và ký vào Sổ xuất nhập phạm nhân. Nghiêm cấm sử dụng phạm nhân hoặc người khác nhận giấy tờ, làm thủ tục cho thăm gặp thay cán bộ. Trường hợp có nhiều thân nhân đến thăm cùng một lúc, cán bộ được giao nhiệm vụ tổ chức thăm gặp phải đề nghị lãnh đạo đơn vị tăng cường cán bộ để phối hợp giải quyết việc thăm gặp bảo đảm đúng quy định và quản lý, giám sát chặt chẽ phạm nhân, giữ gìn an ninh, trật tự chung.
-
Cán bộ làm nhiệm vụ tổ chức thăm gặp phải có Sổ theo dõi thăm gặp, cập nhật đầy đủ thông tin để tổng hợp và phản ánh tình hình, phục vụ tốt cho công tác quản lý, giáo dục cải tạo phạm nhân, đấu tranh phòng, chống tội phạm và lưu trữ tài liệu theo đúng chế độ quản lý hồ sơ của ngành Công an.
Điều 8. Nhà thăm gặp phạm nhân 1. Mỗi phân trại giam có một nhà thăm gặp phạm nhân được xây dựng theo mẫu thiết kế của Bộ Công an ở nơi thuận tiện cho việc quản lý, giám sát phạm nhân và tổ chức thăm gặp. Nhà thăm gặp phải được trang bị những dụng cụ cần thiết phục vụ cho yêu cầu thăm gặp và sinh họat của thân nhân phạm nhân. Đối với trại tạm giam, nhà tạm giữ, tùy theo điều kiện cụ thể, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện bố trí địa điểm thăm gặp cho phù hợp.
-
Nhà thăm gặp phải treo biển “Nhà thăm gặp phạm nhân” và có hòm thư góp ý để thân nhân, phạm nhân phản ánh, đóng góp ý kiến.
-
Nghiêm cấm việc thu lệ phí theo lượt thân nhân đến thăm gặp phạm nhân hoặc thu lệ phí cho phạm nhân gặp thêm thời gian.
Chương III TỔ CHỨC CHO PHẠM NHÂN NHẬN, GỬI THƯ; NHẬN QUÀ, SỬ DỤNG THUỐC CHỮA BỆNH
Điều 9. Tổ chức cho phạm nhân nhận, gửi thư và nhận quà 1. Khi gặp thân nhân, phạm nhân được nhận quà, thư. Thư và quà của phạm nhân phải được cán bộ làm nhiệm vụ tổ chức thăm gặp kiểm tra kỹ trước khi đưa vào trại giam.
-
Phạm nhân được gửi mỗi-02 lá thư; trường hợp xét thấy cần thiết như phạm nhân ốm nặng hoặc phải thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật thì được gửi điện tín. Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải kiểm tra, kiểm duyệt thư, điện tín mà phạm nhân gửi và nhận.
-
Ngòai việc được nhận thư và quà khi gặp thân nhân, mỗi tháng phạm nhân được nhận quà qua đường bưu điện do thân nhân gửi 02 lần, mỗi lần không quá 05kg (nếu gửi 01 lần thì không quá 10kg). Phạm nhân chấp hành tốt Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ; có thành tích trong lao động, học tập hoặc lập công thì được nhận thêm 01 lần quà không quá 05kg. Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải tổ chức kiểm tra thư, quà gửi qua đường bưu điện cho phạm nhân và xử lý theo quy định của pháp luật.
-
Nghiêm cấm phạm nhân nhận, sử dụng các lọai hàng hóa, đồ vật thuộc danh mục cấm đưa vào trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ theo quy định của pháp luật.
-
Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách nhiệm hướng dẫn phạm nhân thông báo cho thân nhân biết những hàng hóa, đồ vật, văn hóa phẩm phạm nhân không được nhận và biết chính xác địa chỉ nơi phạm nhân đang chấp hành án phạt tù (đội, tổ, phân trại) để thân nhân gửi thư, quà đúng địa chỉ.
Căn cứ vào điều kiện cụ thể, các trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện tổ chức họat động căng tin để bán lương thực, thực phẩm và hàng hóa thiết yếu cho phạm nhân. Giá bán lương thực, thực phẩm và các lọai hàng hóa phải được Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện duyệt, sau khi trừ chi phí hợp lý, không được cao hơn giá bán lẻ tại địa phương. Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp quy định cụ thể việc tổ chức họat động căng tin trong các trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ.
Điều 10. Tổ chức cho phạm nhân nhận, sử dụng thuốc chữa bệnh 1. Thân nhân phạm nhân khi đến thăm gặp hoặc qua đường bưu điện, có thể gửi thuốc chữa bệnh, thuốc bổ cho phạm nhân. Thuốc do thân nhân gửi cho phạm nhân phải có nhãn, mác, hàm lượng, công dụng, nơi sản xuất và còn thời hạn sử dụng.
-
Các lọai thuốc chữa bệnh, thuốc bổ do thân nhân gửi cho phạm nhân phải có tủ đựng riêng. Cán bộ y tế trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách nhiệm kiểm tra, quản lý và hướng dẫn phạm nhân sử dụng các lọai thuốc chữa bệnh, thuốc bổ của thân nhân gửi theo quy định. Thuốc hết hạn sử dụng phải lập biên bản hủy có chứng kiến, ký (hoặc điểm chỉ) xác nhận của phạm nhân. Khi phạm nhân chấp hành xong án phạt tù hoặc phải chuyển đi nơi khác, cán bộ y tế phải kiểm tra, đối chiếu, trả lại cho phạm nhân số thuốc chưa sử dụng hết hoặc bàn giao thuốc kèm theo hồ sơ sức khỏe của phạm nhân cho đơn vị tiếp nhận.
-
Khi phạm nhân ốm đau có nhu cầu sử dụng thuốc, cán bộ y tế căn cứ vào bệnh lý, phác đồ điều trị, cấp thuốc và hướng dẫn phạm nhân sử dụng trước sự chứng kiến của cán bộ. Thuốc của phạm nhân nào thì phạm nhân đó sử dụng và phải ghi rõ trong bệnh án: “Thuốc do thân nhân gửi” hoặc ghi vào Sổ theo dõi. Phạm nhân nhận, sử dụng thuốc phải ký tên hoặc điểm chỉ (nếu không biết chữ) vào bệnh án hoặc Sổ theo dõi.
-
Tùy điều kiện cụ thể, các trại giam, trại tạm giam có thể phối hợp với công ty dược địa phương để mở quầy thuốc tại các phân trại để phục vụ nhu cầu phòng, chữa bệnh, bảo vệ sức khỏe cho phạm nhân. Họat động của quầy thuốc phải bảo đảm đúng quy định của pháp luật. Quầy thuốc do cán bộ làm công tác dược của trại giam, trại tạm giam quản lý, bán thuốc và chịu trách nhiệm. Giá bán các lọai thuốc phải được Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam duyệt, sau khi trừ chi phí hợp lý, không được cao hơn giá bán lẻ tại địa phương.
Chương IV QUẢN LÝ ĐỒ LƯU KÝ VÀ CHO PHẠM NHÂN NHẬN, SỬ DỤNG TIỀN MẶT
Điều 11. Quản lý đồ lưu ký Phạm nhân khi đến trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ chấp hành án phạt tù hoặc trong thời gian chấp hành án có tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (tiền mặt), ngân phiếu, ngọai tệ, vàng bạc, đồng hồ, đồ trang sức qúy hiếm, quần áo chưa sử dụng hoặc những đồ vật có giá trị khác thì phải gửi vào lưu ký trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện quản lý và được nhận lại khi ra khỏi trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ. Trường hợp phạm nhân có nhu cầu được chuyển số tiền, đồ dùng, tư trang cho thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp thì trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách nhiệm thực hiện việc chuyển, giao trực tiếp cho thân nhân hoặc gửi qua đường bưu điện. Phạm nhân phải trả chi phí gửi đồ vật theo giá cước quy định.
Điều 12. Tổ chức cho phạm nhân nhận và sử dụng tiền mặt 1. Khi gặp thân nhân, phạm nhân được nhận tiền mặt. Ngòai ra, mỗi-02 lần, phạm nhân được nhận tiền mặt do thân nhân gửi đến. Trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách nhiệm tiếp nhận, quản lý và hướng dẫn sử dụng theo quy định của pháp luật. Trong thời gian chấp hành án phạt tù, phạm nhân không được sử dụng các giấy tờ có giá, ngọai tệ và trực tiếp sử dụng tiền mặt. Phạm nhân có tiền mặt được sử dụng để mua lương thực, thực phẩm và hàng hóa để phục vụ đời sống, sinh họat, gửi điện tín, liên lạc điện thọai bằng hình thức lưu ký và ký sổ do trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ quản lý. Nghiêm cấm phạm nhân cất giữ, trực tiếp sử dụng tiền mặt trong trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ. Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp hướng dẫn chi tiết việc ký sổ mua hàng hóa, gửi điện tín, liên lạc điện thọai của phạm nhân.
-
Thân nhân đến thăm gặp cho phạm nhân tiền mặt, cán bộ làm nhiệm vụ tổ chức thăm gặp có trách nhiệm nhận và ký nhận vào Sổ thăm gặp (nếu chưa có Sổ thăm gặp thì phải ghi giấy biên nhận cho người gửi tiền). Thân nhân phạm nhân gửi tiền mặt cho phạm nhân qua đường bưu điện thì Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện cử cán bộ đến bưu điện nhận tiền, sau đó bàn giao số tiền này cho cán bộ phụ trách lưu ký vào Sổ theo dõi, quản lý, đồng thời thông báo cho phạm nhân được nhận tiền biết và ghi số tiền này vào Sổ mua hàng hóa của phạm nhân.
-
Tiền thưởng, tiền bồi dưỡng làm thêm giờ, tăng năng suất lao động được chuyển vào lưu ký để phạm nhân sử dụng mua hàng hóa tại căng tin, gửi điện tín, liên lạc điện thọai với thân nhân, gửi về cho thân nhân hoặc nhận lại khi chấp hành xong án phạt tù.
-
Mỗi tháng, một phạm nhân được mua lương thực, thực phẩm không quá 3 lần định lượng ăn trung bình hàng tháng theo quy định của Nhà nước (định lượng này được quy ra tiền). Tiền mua các lọai hàng hóa khác như thuốc chữa bệnh, kem đánh răng, xà phòng, áo, quần... không tính vào số lượng tiền mua lương thực, thực phẩm ăn thêm của phạm nhân.
-
Phạm nhân có tiền mặt, đồ vật gửi lưu ký khi chuyển đến trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ khác, cán bộ có trách nhiệm phải thực hiện việc chuyển giao số tiền, đồ vật này cho nơi tiếp nhận phạm nhân. Việc giao nhận phải lập biên bản, có chữ ký của bên giao, bên nhận và phạm nhân.
-
Trường hợp phạm nhân chết, phải ghi rõ vào biên bản phạm nhân chết số tiền lưu ký còn lại chưa sử dụng, đồ vật gửi lưu ký và những tài sản cá nhân khác để bàn giao cho thân nhân họ hoặc đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Chương V TỔ CHỨC CHO PHẠM NHÂN LIÊN LẠC ĐIỆN THỌAI VỚI THÂN NHÂN
Điều 13. Tổ chức cho phạm nhân liên lạc điện thọai với thân nhân 1. Các trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phối hợp với cơ quan bưu chính viễn thông địa phương lắp đặt và tổ chức cho phạm nhân liên lạc điện thọai với thân nhân. Cước phí gọi điện thọai được tính theo giá của cơ quan bưu chính viễn thông và do phạm nhân chi trả.
-
Phạm nhân được liên lạc điện thọai trong nước với thân nhân mỗi-01 lần, mỗi lần không quá 05 phút, phạm nhân là người chưa thành niên được liên lạc điện thọai với thân nhân mỗi tháng không quá 04 lần, mỗi lần không quá 10 phút. Phạm nhân chấp hành tốt Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ, có thành tích trong lao động, học tập thì Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện quyết định tăng thêm mỗi-01 lần liên lạc điện thọai với thân nhân. Khi liên lạc điện thọai với thân nhân, phạm nhân phải nói bằng tiếng Việt, nếu là người dân tộc ít người, người nước ngòai không biết tiếng Việt thì phải có người biết tiếng nước ngòai, tiếng dân tộc đó giám sát. Trường hợp đặc biệt, khi phạm nhân có yêu cầu cần phải trao đổi với thân nhân để giải quyết những vấn đề cấp bách liên quan đến quyền và lợi ích chính đáng của họ thì Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện quyết định thêm thời lượng và nội dung trao đổi điện thọai với thân nhân.
-
Phạm nhân đang bị thi hành kỷ luật tại buồng kỷ luật; phạm nhân đang có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm; phạm nhân đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử về những tội khác hoặc có liên quan đến những vụ án khác đang được xem xét, xử lý, thì không được liên lạc điện thọai với thân nhân.
-
Nghiêm cấm phạm nhân liên lạc điện thọai ra nước ngòai, liên lạc không đúng số điện thọai, nội dung đăng ký, dùng tiếng lóng, tiếng nước ngòai hoặc dùng tiếng dân tộc ít người để liên lạc mà không có cán bộ biết tiếng đó giám sát.
-
Mọi cuộc liên lạc điện thọai của phạm nhân với thân nhân phải có cán bộ giám sát. Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện bố trí buồng gọi điện thọai, cử cán bộ có khả năng giám sát chặt chẽ nội dung trao đổi thông tin của phạm nhân với thân nhân. Nếu phát hiện nội dung trao đổi không đúng với nội dung đăng ký, trái với yêu cầu giáo dục, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự thì phải dừng ngay cuộc gọi, trường hợp xét thấy cần thiết phải lập biên bản, đề xuất xử lý kỷ luật.
-
Cán bộ giám sát phải có Sổ theo dõi, cập nhật thông tin về việc tổ chức cho phạm nhân liên lạc điện thọai với thân nhân.
-
Nghiêm cấm cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên cho phạm nhân dùng điện thọai của cá nhân để liên lạc với người khác. Nghiêm cấm phạm nhân mang điện thọai vào trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ; sử dụng điện thọai của mình hoặc của người khác để liên lạc với thân nhân và người khác.
Chương VI TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Điều 14. Hiệu lực thi hành Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 15-8-2011.
Điều 15. Trách nhiệm thi hành 1. Các đồng chí Tổng cục trưởng, Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Bộ trưởng, Giám đốc Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện trong phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư này.
-
Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp có trách nhiệm ban hành hệ thống sổ sách, biểu mẫu để thống nhất thực hiện trong tòan quốc; theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện Thông tư này.
-
Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc phát sinh, Công an các đơn vị, địa phương cần báo cáo về Bộ (qua Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp) để có hướng dẫn kịp thời.
Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/thong-tu-so-46-2011-tt-bca-quy-dinh-viec-pham-nhan-gap-than-nhan-nhan-gui-thu-nhan-tien-qua-va-lien-lac-dien-thoai-voi-than-nhan--122192.
Dịch vụ liên quan
Văn bản liên quan
- Sửa đổi, bổ sung một số điều của của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về trình tự cấp, thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự và sát hạch, cấp Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ; của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về trình tự đăng ký mẫu con dấu, thu hồi và hủy con dấu, hủy giá trị sử dụng con dấu, kiểm tra việc quản lý và sử dụng con dấu; của Bộ trưởng Bộ Công an quy định quy trình cấp, thu hồi đăng ký, biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ; của Bộ trưởng Bộ Công an quy định nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung và quy trình tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm hành chính về giao thông đường bộ của Cảnh sát giao thông; của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về quy trình tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính của Cảnh sát đường thủy; của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về mẫu hộ chiếu, giấy thông hành và các biểu mẫu liên quan
- Hướng dẫn thực hiện đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác phòng, chống khủng bố
- Hướng dẫn phối hợp công tác bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch
- Quy định thực hiện nhiệm vụ bảo vệ phiên tòa của lực lượng Công an nhân dân
- Quy định về biểu mẫu sử dụng trong công tác cấp, quản lý thẻ Căn cước công dân, tàng thư căn cước công dân và Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư
- Quy định về sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ trong Công an nhân dân để phát hiện vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông và bảo vệ môi trường
- Hướng dẫn thực hiện một số điều của của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước
- Hướng dẫn một số nội dung về cấp thị thực, cấp thẻ tạm trú, cấp giấy phép xuất nhập cảnh, giải quyết thường trú cho người nước ngoài tại Việt Nam