Thông tư số 13-TC/CNXDTC/CNXD Hướng dẫn thi hành chế độ phân phối lợi nhuận và trích lập các quỹ xí nghiệp để áp dụng trong cả nước từ năm 1977 trở đi
- Số hiệu
- 13-TC/CNXD
- Loại văn bản
- Thông tư
- Cơ quan ban hành
- Bộ Tài chính
- Ngày ban hành
- 23/08/1978
Toàn văn
BỘ TÀI CHÍNH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - tự do - hạnh phúc
Số : 03 TC/CNXD Hà nội, ngày 28 tháng 3 năm 1978
THÔNG TƯ
Hướng dẫn thi hành chế độ phân phối lợi nhuận và trích lập các qũy xí nghiệp để áp dụng trong cả nước từ năm 1977 trở đi Tiền bán sản phẩm (hay cung cấp lao vụ) còn lại sau khi nộp thu quốc doanh (hoặc thuế) và bù đắp lại vốn đã ứng ra là lợi nhuận. Vì giá cả và mức thu quốc doanh (hoặc thuế) do Nhà nước quy định, nên xí nghiệp phải chủ động phấn đấu tăng được số lượng sản phẩm tiêu thụ và phải giảm được giá thành và chi phí lưu thông để đóng góp ngày càng nhiều giá trị sử dụng và thu nhập thuần túy cho Nhà nước, đồng thời nâng cao thu nhập của công nhân viên chức xí nghiệp. Để phát huy tác dụng đòn xeo kinh tế của lợi nhuận, Nhà nước đã quy định lợi nhuận hợp lý (khi định chính sách, giá cả) và quy định chế độ phân phối lợi nhuận. Chế độ phân phối lợi nhuận xí nghiệp quốc doanh bắt đằu thi hành từ năm 1970 theo các Nghị định số 235-CP ngày 4 tháng 12 năm 1969, số 236-CP ngày 10/12/1970 và Thông tư sửa đổi bổ sung lần nữa theo thông tư số 165-TTg ngày 21/3/1978, nhằm: - Phát huy tinh thần trách nhiệm và ý thức làm chủ tập thể của xí nghiệp trong việc xây dựng và thực hiện kế họach Nhà nước; trên cơ sở ấy, mở rộng thêm một bước quyền chủ động về sản xuất kinh doanh của xí nghiệp và quyền chủ động về sản xuất kinh doanh của xí nghiệp và sư tự hủ về tài chính của xí nghiệp dưới sự quản lý tập trung của Nhà nước. - Khuyến khích xí nghiệp xây dựng kế họach tích cực, đảm bảo hòan thành tòan diện các chỉ tiêu kế họach của Nhà nước, gắn liền việc xét trích các qũy xí nghiệp với việc xí nghiệp đạt thành tích nhiều hay ít trong việc hòan thành kế họach Nhà nước. - Kết hợp chặt chẽ công tác kế họach hóa với chế độ hạch tóan kinh tế và việc vận dụng đòn bẩy kinh tế, động viên công nhân viên chức vừa quan tâm đến lợi ích của Nhà nước, vừa quan tâm đến lợi ích của xí nghiệp và của bản thân mà khai thác mọi năng lực tiềm tàng của xí nghiệp để hòan thành vượt mức kế họach của Nhà nước. I. XÁC ĐỊNH RÕ CÁC KHỎAN LỢI NHUẬN KẾ HỌACH VÀ LỢI NHUẬN THỰC TẾ: 1/ Lợi nhuận kế họach của xí nghiệp gồm: - Lợi nhuận dự kiến phải đạt được về các họat động kinh doanh cơ bản, căn cứ vào các chỉ tiêu của kế họach Nhà nước. - Lợi nhuận dự kiến phải đạt được về các họat động ngòai kinh doanh cơ bản, về cung cấp lao vụ cho bên ngòai của xí nghiệp và của các đơn vị phụ thuộc của xí nghiệp (như tổ chức thuê mua, tổ chức vận tải, xây lắp...), nằm trong bảng cân đối thu chi của xí nghiệp. - Lợi nhuận sản xuất mặt hàng phụ bằng phế liệu, phế phẩm do xí nghiệp khai thác mọi năng lực tiềm tàng của xí nghiệp. - Lợi tức về tiền gửi Ngân hàng và các lợi nhuận khác đã đi vào nề nếp thường xuyên, mà xí nghiệp có thể kế họach hóa được và cơ quan củ quản thấy cần ghi vào chỉ tiêu kế họach giao xuống cho xí nghiệp. 2/ Lợi nhuận thực tế của xí nghiệp là tòan bộ các khỏan lợi nhuận sau khi đã trừ đi các khỏan lỗ được ghi trong báo cáo quyết tóan tháng, hàng qúy hàng năm của xí nghiệp. Muốn đạt được kế họach lợi nhuận ngòai việc phấn đâu hạ giá thành và chi phí lưu thông, xí nghiệp cần phải chú ý đến các khỏan chi phí không được tính và giá thành và chi phí lưu thông, mà phải ghi thẳng vào lỗ xí nghiệp. Vì vậy, xí nghiệp phải có biện pháp giảm giá thành và biện pháp giảm bớt càng nhiều càng tốt các khỏan lỗ phát sinh trong năm kế họach như thiệt hại về thiên tai hỏa họan, lũ lụt, thiệt hại về vật tư hàng hóa bị mất cắp, mất trộm, lãi nợ quá hạn,..... 3/ Nếu trong thời gian kế họach do giá cả thay đổi mà số thu về lợi nhuận tăng lên, thíi nghiệp phải nộp tòan bộ số tiền thu thêm được do giá cả thay đổi vào ngân sách Nhà nước. Nếu do yếu tố giá cả thay đổi làm cho số thu về lợi nhuận giảm đi mà không thể điều chỉnh mức thu quốc doanh được thì lợi nhuận kế họach của xí nghiệp được trừ đi số tiền giảm bớt đó. Còn nói chung, về nguyên tắc xí nghiệp không được lọai trừ các yếu tố khách quan trong khi xác định hòan thành chỉ tiêu lợi nhuận kế họach, xác định lợi nhuận vượt kế họach. 4/ Đối với xí nghiệp được duyệt là không có lãi hoặc có kế họach lỗ (lỗ do chính sách giá cả của Nhà nước hay do nguyên nhân khác được Nhà nước công nhận) thì xác định chỉ tiêu lợi nhuận kế họach và lợi nhuận vượt kế họach như sau: - Số hạ giá thành (hoặc hạ phí lưu thông) hế họach so với giá thành (hặc phí lưu thông) thực tế năm trước coi như lợi nhuận kế họach. - Số tiết kiệm do hạ giá thành (hoặc hạ chi phí lưu thông) thực tế được nhiều hơn so với giá thành (hoặc phí lưu thông) kế họach được coi như lợi nhuận vượt kế họach. II. PHÂN PHỐI LỢI NHUẬN XÍ NGHIỆP: Tùy theo mức độ thành tích đạt được của xí nghiệp trong việc hòan thành kếhọac Nhà nước mà phân phối lợi nhuận có phân biệt, theo các trường hợp sau đây: 1/ Trường hợp xí nghiệp chỉ hòan thành kế họach về 2 chỉ tiêu củ yếu (không tòan diện, không có đăng ký cao) thì lợi nhuận phân phối như sau: - Trích lập qũy khuyến khích phát triển sản xuất theo một tỷ lệ phần trăm trên tòan bộ giá trị tài sản cố định của xí nghiệp. - Trích lập qũy khen thưởng và qũy phúc lợi theo mức trích cơ bản trên qũy lương cấp bậc bình quân thực tế cả năm của số công nhân viên chức được phân bổ tiền lương trong giá thành hoặc phí lưu thông của xí nghiệp, kể cả công nhân viên chức các bộ phận ngaòi kinh doanh cơ bản chưa hạch tóan độc lập, theo đúng quy định hiện hành trong Thông tư 88-CP. - Tham gia đầu tư vốn cố định và bổ sung vốn lưu động định mức cần tăng thêm. căn cứ theo yêu cầu cụ thể của kế họach năm được xét duyệt. - Trích nộp ngân sách Nhà nước. Sau khi đã tính trích các khỏan kể trên, số lợi nhuận còn lại nộp hết vào ngân sách Nhà nước. Nếu xí nghiệp còn nợ Ngân hàng Nhà nước về vay vốn đầu tư cơ bản thì sau khi đã trích đủ phần ấn định cho 3 qũy, phần lợi nhuận còn lại do hiệu quả sử dụng vốn vay sẽ dùng để trả nợ Ngân hàng (trong trường hợp xí nghiệp đã có khỏan nộp ngân sách Nhà nước về thu quốc doanh cho ngân sách Nhà nước, xí nghiệp chỉ dùng tối đa 50% phần lợi nhuận còn lại đó để trả nợ Ngân hàng). 2/ Trường hợp xí nghiệp hòan thành tòan diện các chỉ tiêu pháp lệnh của kế họach Nhà nước thì được trích lập qũy khen thưởng và qũy phúc lợi theo mức khuyến khích cao hơn mức trích cơ bản (xem quy định ở mục IV dưới đây). 3/ Trường hợp xí nghiệp có đăng ký cao - Nhà nước khuyến kkhích xí nghiệp xây dựng kế họach tích cực, chính xác và đăng ký cao hơn số kiểm tra Nhà nước giao chủ yếu bằng cách khai thác các khả năng tiềm tàng trong xí nghiệp. Thời hạn đăng ký cao phải được tiến hành trước khi giao kế họach chính thức co xí nghiệp. Riêng năm 1978 Chính phủ cho phép các xí nghiệp đăng ký cao hơn số kế họach Nhà nước giao đầu năm (theo chỉ thị số 09-TTg ngày 12/1/1978 của Thủ tướng Chính phủ). Nội dung kế họach đăng ký cao bao gồm cá chỉ tiêu sau đây: - Sản lượng sản phẩm chủ yếu tăng thêm (kể cả sản phẩm chủ yếu xuất khẩu) được tiêu thụ theo kế họach Nhà nước, những sản phẩm này phải theo đúng tiêu chuẩn chất lượng quy định. - Số lợi nhuận tăng thêm nộp vào ngân sách Nhà nước. Trường hợp kế họach được xét duyệt là kế haọch có đăng ký cao thì lợi nhuận phân phối như sau: - Xí nghiệp hòan thành kế haọch tính theo số kiểm tra của Nhà nước thì phần lợi nhuận này được phân phối theo mức trích cơ bản như nói ở điểm trên. Phần lợi nhuận đăng ký cao được trích vào các qũy nhiều hơn trước: - Cứ mỗi phần trăm thực hiện được về một chỉ tiêu đã đăng ký nói trên thì xí nghiệp được trích thêm vào qũy khen thưởng và qũy phúc lợi, mỗi qũy 0,1% số lợi nhuận tăng thêm (cộng hai chỉ tiêu được trích vào mối qũy 0,2%). Đối với xí nghiệp có đăng ký cao được duyệt thì kế họach có đang ký cao đó trở thành kế họach chính thức Nhà nước giao cho xí nghiệp và là căn cứ xét duyệt hòan thành tòan diện kế họach, xét duyệt hòan thành vượt mức kế họach; nhưng chỉ tính mức trích cơ bản vào các qũy xí nghiệp thì lấy kế họach tính theo số kiểm tra làm căn cứ. 4/ Phần lợi nhuận vượt kế họach nói chung phân phối lợi như sau: trích thêm vào qũy khen thưởng và qũy phúc lợi, mỗi qũy 5% số lợi nhuận vượt kế họach. Thí dụ: Sản phẩm tiêu thụ Lợi nhuận nộp Xí nghiệp được giao kế họach tính theo số kiểm tra 100.000 cái 50.000 đ Xí nghiệp đăng ký cao thêm được duyệt 12.000 cái 6.000 đ Cộng: 112.000 cái 56.000 đ Qũy lương cấp bậc bình quân thực tế của xí nghiệp là 175.000 đồng.
a) Trường hợp xí nghiệp hòan thành 100% kế họach (có đăng ký cao): Số thực hiện kế họach Mức trích cho mỗi qũy Các chỉ tiêu Tính theo số kiểm tra Đăng ký caotổng sốkhen thưởng và phúc lợi - Sản phẩm tiêu thụ 100.000 cái 12.000112.000Mức trích cơ bản: 6% x 175.000đ = 10.500 đ - Lợi nhuận nộp 50.000 đ 6.00056.000Mức trích đăng ký cao: 0,2% x 100% = 20% (20% x 6.000đ = 1.200 Cộng: 11.700 đ b) Trường hợp xí nghiệp hòan thành vượt mức kế họach: (có đăng ký cao) Số thực hiện kế họach Mức trích cho mỗi qũy Các chỉ tiêu Tính theo số kiểm tra Đăng ký caoVượt kế họachTổng sốkhen thưởng và phúc lợi - Sản phẩm tiêu thụ 100.000 cái 12.0003.000115.000Mức trích cơ bản:10.500 đ Mức trích đăng ký cao: 1.200đ - Lợi nhuận nộp 50.000 đ 6.0001.50057.500Mức trích vượt kế họach: (5% x 1.500đ = 75 Cộng: 11.775 đ c) Trường hợp xí nghiệp không hòan thành kế họach (có đăng ký cao), nhưng số thực hiện vẫn cao hơn kế họach tính theo số kiểm tra. Số thực hiện kế họach Các chỉ Tính theo Đăng ký caoTổng sốMức trích cho mỗi qũy tiêu số kiểm tra Số thực hiệnTỷ lệ thực hiệnkhen thưởng và phúc lợi = 75% - Sản phẩm tiêu thụ 100.000 cái 9.0009.000 12.000109.000Mức trích cơ bản:10.500 đ = 75% - Lợi nhuận nộp 50.000 đ 4.5004.500 600054.500Được trích thêm do thực hiện được 75% mức đăng ký cao: 0,2% x 75% = 15% x 4.500đ = 675đ Cộng: 11.175 đ d) Trường hợp xí nghiệp có đăng ký cao nhưng không hòan thành kế haọch tính theo số kiểm tra thì căn cứ vào kế họach tính theo số kiểm tra đó đểtính mức giảm trừ nói ở mục IV điểm 3b dưới đây: Số thực hiện kế họach Các chỉ Tổng số Hụt mứcMức trích cho mỗi qũy tiêu Số hụtTỷ lệ hụtkhen thưởng và phúc lợi = 2% - Sản phẩm tiêu thụ 98.000 cái 2.0002.000 10.000Mức trích cơ bản:10.500 đ = 2% - Lợi nhuận nộp 49.000 đ 1.0001.000 50.000Giảm trừ do hụt mức kế họach 2%: 5 x 2%= 10%x 10.500 = -1.050 Còn lại: 9.450 đ Chú ý: - Nếu kế họach có nhiều mặt hàng thì phải lậpthêm “bảng phântích tình hình hòan thành kế họach mặt hàng chủ yếu” nói dưới đây (mục IV). - Năm 1978, Chính phủ cho phép đăng ký cao hơn số kế họach Nhà nước giao đầu năm đó sẽ dùng làm căn cứ để tính mức trích cơ bản, cũng như để tính mức giảm trừ trong trường hợp d nói trên. Trong tất cả các trường hợp trên (hòan thành kê shaọch đăng ký bao, vượt kế họach lợi nhuận) làm cho lợi nhuận thực tế tăng lên đều được trích thêm vào qũy khuyến khích phát triển sản xuất nói ở mục III dưới đây. Sau khi đã trích đủ phần ấn định cho 3 qũy, phần lợi nhuận còn lại nộp hết vào ngân sách Nhà nước. 5/ Trường hợp xí nghiệp có lợi nhuận sản xuất mặt hàng phụ bằng phế liệu phế phẩm - Xí nghiệp hòan thành kế họach kinh doanh cơ bản và ngòai kinh doanh cơ bản; hòan thành được nhiệm vụ nộp thu quốc doanh (hoặc thuế) đối với mặt hàng phụ; chấp hành đúng chế độ của Nhà nước về sử dụng phế liệu, phế phẩm; và tổ chức hạch tóan rõ ràng, không để lẫn lộn giữa sản xuất kinh doanh chính với sản xuất mặt hàng phụ đó, thì lợi nhuận thực tế do tiêu thụ mặt hàng này được phân phối ở mức cao như theo quy định tại Thông tư số 13- TC/CNXD ngày 30 tháng 7 năm 1976 của Bộ Tài chính: - Nộp vào ngân sách Nhà nước 20% - Trích vào qũy khuyến khích phát triển sản xuất 40% - Trích vào qũy khen thưởng20% - Trích vào qũy phúc lợi20% III. TRÍCH LẬP VÀ SỬ DỤNG QŨY KHUYẾN KHÍCH PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT: 1/ Qũy khuyến khích phát triển sản xuất dùng cho việc hợp lý hóa sản xuất và cải tiến kỹ thuật nhằm vào các công việc đem lại hiệu quả kinh tế thiết thực cụ thể sau đây: - Cải tiến một phần máy móc thiết bị, thay thế thiết bị cũ và mua thêm thiết bị lẻ; cải tiến nhỏ quy trình công nghệ, bố trí sắp xếp lại dây chuyền sản xuất kinh doanh; nâng cao công suất máy móc thiết bị, đáp ứng tiêu chuẩn, quy trình tiến bộ và tăng thêm hiệu quả sản xuất kinh doanh; củng cố mở rộng mặt bằng, xây dựng nhỏ các công trình phục vụ hợp lý hỏa sản xuất và cải tiến kỹ thuật. - Mua sắm, chế tạo, thay đổi, xây dựng bổ sung nhưng bộ phận máy móc thiết bị hoặc công trình và các khỏan chi phí khác về nguyên vật liệu, tiền lương,... trong phạm vi nghiên cứu nhằm chế thử sản phẩm mới hoặc để sản xuất các mặt hàng phụ bằng phế liệu phế phẩm. - Mua sắm, chế tạo, thay đổi, xây dựng bổ sung những bộ phận máy móc thiết bị hoặc công trình nhằm cải thiện điều kiện lao động, đảm bảo vệ sinh công nghiệp, bảo vệ an tòan lao động. 2/ Áp dụng thống nhất cho xí nghiệp thuộc tất cả các ngành sản xuất, lưu thông, phân phối và phục vụ mức trích cơ bản hàng năm theo một tỷ lệ phần trăm trên tòan bộ giá trị tài sản cố định hiện có ở xí nghiệp tính theo nguyên giá (lọai trừ các tài sản cố định cho phép không tính khấu hao là đất và tài sản cố định đã có quyết định của cơ quan có thẩm quyền giao cho xí nghiệp tạm giữ chờ điều đi) Bộ chủ quản thỏa thuận với Bộ Tài chính quyết định mức trích tối thiểu và tối đa cho xí nghiệp từng ngành để áp dụng trong cả nước như dưới đây, các cơ quan chủ quản cấp trên xí nghiệp sẽ quyết định mức trích cụ thể cho từng xí nghiệp trực thuộc trong phạm vi mức tối thiểu tối đa này: - Các xí nghiệp thương nghiệp, cung ứng vật tư, phụ vụ, các xí nghiệp thuộc ngành văn hóa, các xí nghiệp cư khí từ 0,8% đến 1,2% - Xí nghiệp hóa chất, phân bón, nông trường từ 0,6% đến 1,0% - Xí nghiệp vật dụng, dược phẩm, chế biến thực phẩm, khai thác chế biến nông lâm sản, thủy hải sản, xí nghiệp dệt, vật liệu xây dựng, xây lắp, luyện kim, xí nghiệp khai thác mỏ, điện lực, bưu điện, vận tải từ 0,4% đến 0,8%. Ngành nào chưa được quy định tỷ lệ trích cơ bản hoặc có nhưng đặc điểm cần quy định riêng thì Bộ chủ quản lập phương án và thỏa thuận với Bộ Tài chính để quy định. 3/ Từ nay, không điều chỉnh mức trích cơ bản nói trên theo tỷ suất doanh lợi tặng giảm hàng năm, tỷ suất này chỉ dùng để kiểm tra hiệu quả và chất lượng thực hiện kế họach sản xuất - kỹ thuật - tài chính của xínghiệp. Nhưng để khuyến khích xí nghiệp đặt kế họach tích cực và phấn đấu hòan thành vượt mức kế họach, nay quy định các xí nghiệp có lợi nhuận tăng lên (do hòan thành kế họach đăng ký cao, hoặc do vượt kế họach lợi nhuận) được trích 40% số lợi nhuận tăng thêm để bổ sung cho qũy khuyến khích phát triển sản xuất. 4/ Nguồn vốn được trích lập qũy khuyến khích phát triển sản xuất bao gồm: - Nguồn vốn thứ nhất là lợi nhuận xí nghiệp trích lập theo quy định ở điểm 2, 3 nói trên - Nguồn vốn thứ hai là số tiền thu về bán những tài sản cố định thải lọai (còn gọi là thu biến giá tài sản cố định), hoặc tiền thu về nhượng bán tài sản cố định lớn hơn giá trị còn lại của tài sản đó. - Nguồn vốn thứ ba là tiền khấu hao cơ bản các tài sản cố định còn sử dụng được, nhưng xí nghiệp đã hòan thành nhiệm vụ nộp khấu hao cơ bản cho ngân sách Nhà nước (cũng như hòan thành việc hòan trả khấu hao cơ bản đối với tài sản cố định thuộc vốn vay Ngân hàng Nhà nước). Nếu trong năm kế họach, các nguồn vốn trên sử dụng không đủ cần vay thêm thì xí nghiệp sẽ vay Ngân hàng Nhà nước về cải tiến kỹ thuật và hợp lý hóa sản xuất theo chế độ quy định. Ngược lại, nếu đã sử dụng đủ cho các mục tiêu cải tiến kỹ thuật và hợp lý hóa sản xuất mà còn thừa thì xí nghiệp có thể dùng làm vốn đầu tư tự có để tham gia đầu tư vốn cố định theo kế họach Nhà nước. 5/ Việc trích lập qũy khuyến khích phát triển sản xuất mở rộng thêm quyền chủ động của xí nghiệp để tự lo liệu đến nhu cầu chi thường xuyên của mình về cải tiến kỹ thuật và hợp lý hóa sản xuất. Tuy vậy, nếu xí nghiệp không kế họach hóa được qũy này thì sẽ lúng túng trong việc sử dụng: do xí nghiệp muốn mua sắm thêm nhiều thiết bị mới, xây dựng thêm công trình mới đáng lẽ ra phải có kế họach được duyệt và phải vay vốn đầu tư cơ bản mới làm được; hoặc do xí nghiệp muốn dùng tòan bộ qũy khuyến khích phát triển sản xuất để mua sắm thêm các phương tiện làm việc như máy tính, máy chữ, quạt máy,... nên thiếu vốn sử dụng cho nhưng nhu cầu trực tiếp đến sản xuất kinh doanh đem lại hiiêụ quả kinh tế thiết thực. Vì vậy, hàng năm khi lập kế họach sản xuất kỹ thuật - tài chính, xí nghiệp phải lập kế họach và dự tóan sử dụng qũy khuyến khích phát triển sản xuất (có ghi rõ bảng kê các công viêc làm, chi phí cho từng việc, thời hạn hòan thành, hiệu quả kinh tế), và phải đăng ký kế họach và dự tóan sử dụng qũy khuyến khích phát triển sản xuất với cơ quan chủ quản cấp trên xí nghiệp. 6/ Qũy khuyến khích phát triển sản xuất được trích hàng tháng (hoặc hàng qúy) sau khi đã có báo cáo quyết tóan (bảng tổng kết tài sản) của xí nghiệp. Nếu xí nghiệp hòan thành hay vượt kế họach lợi nhuận của tháng (qúy) đó thì được trích theo mức kế họach phân bổ cho qũy khuyến khích phát triển sản xuất trong tháng (qúy) đó. Nếu xí nghiệp không đạt lợi nhuận kế họach thì chỉ được trích theo mức độ thực hiện kế họach lợi nhuận, nghĩa là: lấy tỷ lệ phần trăm thực hiện kế họach lợi nhuận của tháng (qúy) đó, nhân với (x) số kế họach định trích qũy khuyến khích phát triển sản xuất trong tháng (qúy) đó. Hàng tháng, hàng qúy, xí nghiệp tạm trích như trên đây; đến cuối năm phải tính tóan lại theo thực tế; nếu đã trích thừa thì nộp trả ngân sách, thiếu thì trích thêm 7/ Trường hợp xí nghiệp có kế họach lợi nhuận, nhưng khi thực hiện lại không có lợi nhuận hoặ bị lỗ tức là mất nguồn để trích lập quũy khuyến khích phát triển sản xuất thì xí nghiệp không được trích mà phải vay vốn Ngân hàng Nhà nước, nếu cần để chi cho kế họach phát triển sản xuất và sẽ dùng qũy khuyến khích phát triển sản xuất năm sau để trả. 8/ Trường hợp xí nghiệp không có lợi nhuận hoặc có lỗ kế họach (do chính sách giá cả của Nhà nước hay do nguyên nhân khách quan khác được Nhà nước công nhận) thì được ngân sách cấp số vốn cần thiết theo kế họach phát triển sản xuất được duyệt. Việc cấp phát này được xét căn cứ theo khả năng thực tế thực hiện kế họach đó, nhưng tối đa không được vượt quá mức cơ bản được trích trên giá trị tài sản cố định theo chế độ này. 9/ Sau khi hòan thành mỗi danh mục sử dụng qũy khuyến khích phát triển sản xuất, xí nghiệp phải quyết tóan và ghi tăng giá trị tài sản cố định hoặc ghi tăng vốn lưu động. 10/ Qũy khuyến khích phát triển sản xuất thuộc quyền sử dụng của xí nghiệp. Trường hợp giữa các xí nghiệp trong cùng một ngành sản xuất (trong một công ty, một liên hiệp xí nghiệp) cần huy động qũy này để sử dụng chung cho việc tổ chức hợp tác cải tiến kỹthuật và hợp lý hóa sản xuất thì cơ quan chủ quản cấp trên có thể điều hòa từ xí nghiệp thừa sang xí nghiêpj thiếu, nhưng phải được xí nghiệp thỏa thuận và mức huy động không được quá 20% số qũy khuyến khích phát triển sản xuất của xí nghiệp. 11/ Hàng năm, trong quá trình lập kế họach cũng như khi phân tích hiệu quản sử dụng qũy khuyến khích phát triển sản xuất, phải có sự tham gia của Công đòan cơ sở, nhất là ý kiến của Công đòan về các khỏan chi bảo vệ an tòan lao động. IV. TRÍCH LẬP VÀ SỬ DỤNG QŨY KHEN THƯỞNG VÀ QŨY PHÚC LỢI: 1/ Qũy khen thưởng dùng để - Khen thưởng tông kết hàng năm cho công nhân viên chức có thành tích trong việc hòan thành kế họach Nhà nước, trong đó có kết hợp với thưởng danh hiệu thi đua. - Khen thưởng đột xuất trong năm cho những điển hình tốt về cải tiến sản xuất và quản lý làm lợi cho xí nghiệp. Để thực hiện đúng chính sách khen thưởng của Nhà nước, xí nghiệp phải tổ chức hạch tóan được thành tích sc kinh doanh của từng người, từng tổ, để người có thành tích nhiều được hưởng nhiều hơn là người có thành tích ít, không có thành tích thì không được hưởng, tránh phân phối một cách bình quân. Như vậy, cần dành đại bộ phận tiền thưởng (ít nhất là 90%) cho việc khen thưởng tổng kết hòan thành kế họach (theo từng hạng thành tích), theo hướng dẫn của Bộ Lao động, phối hợp với Ban thi đua Trung ương và Tổng Công đòan, về việc sử dụng và phân phối tiền thưởng thường xuyên trong qũy lương. Số qũy còn lại (nhiều nhất là ) dành cho giám đốc xí nghiệp để chủ động khen thưởng cho những điển hình tốt trong các cuộc vận động đột xuất trong năm sau, nhằm khắc phục kịp thời những mặt yếu kém trong sản xuất và quản lý kinh doanh của xí nghiệp. Riêng đối với Giám đốc, các Phó giám đốc, kế tóan trưởng, cán bộ chuyên trách Đảng, Công đòan và Đòan thanh niên ở xí nghiệp thì quyền quyết định khen thưởng cho những cán bộ này thuộc cấp trên xí nghiệp, cấp trên xí nghiệp còn phải tham khảo ý kiến của cơ quan tài chính cấp tương đương. 2/ Qũy phúc lợi dùng để: - Trả tiền thưởng cho bộ phận công nhân viên chức nhà ăn, nhà trẻ, bệnh xá, bệnh viện xí nghiệp theo chế độ khen thưởng chung. - Xây dựng thêm, mở rông, sửa chữa nhà ở, câu lạc bộ, nhà nghỉ, trại điều dưỡng, nhà trẻ, nhà ăn, căng tin, các công trình thể dục thể thao, giếng nước, bếp ăn,... và làm những công việc khác phục vụ cho đời sống công nhân viên chức xí ghiệp. - Cải thiện điều kiện sinh họat văn hóa và chăm lo sức khỏe cho công nhân viên chức xí nghiệp, mua sắm thêm dụng cụ y tế, thuốc men cho cơ sở điều trị của xí nghiệp; trang bị dụng cụ cho nhà ăn, căng tin, cho cơ sở điều trị, cho câu lạc bộ, cho nhà trẻ, mua sắm dụng cụ phương tiện thẻ dục thể thao, chi phí về nghỉ, về điều dưỡng. - Cho vay làm vốn tăng gia sản xuất nhằm cải thiện sinh họat cho công nhân viên chức. - Chi phí thêm về bổ túc văn hóa và học tập nghiệp vụ, kỹ thuật ở xí nghiệp. - Trợ cấp thêm về hó khăn đột xuất cho công nhân viên chức. Qũy phúc lợi thuộc quyền sử dụng của xí nghiệp và xí nghiệp có thể góp vốn để xây dựng nhà ở và các công trình phúc lợi khác cho công nhân viên hức theo hớng dẫn của Tổng liên đòan phối hợp với Bộ Lao động về việc sử dụng qũy này. 3/ Việc xét trích hai qũy khen thưởng và phúc lợi này phải căn cứ vào báo cáo quyết tóan của xí nghiẹep và kết quả xét duyệt, công nhân xí nghiệp hòan thành cac chỉ tiêu kê họach Nhà nước mà phân biệt thích đáng mức khuyến khích vật chất giữa các xí nghiệp có thành tích nhiều ít khác nhau. Về mức trích cho qũy khen thưởng và qũy phúc lợi này được áp dụng: - Một mức thống nhất cho các xí nghiệp quốc donh trung ương và xí nghiệp quốc doanh địa phương. Khuyến khích xí nghiệp hòan thành tòan diện các chỉ tiêu pháp lệnh của kế họach Nhà nước được trích ở mức cao hơn xí nghiệp hòan thành hai chỉ tiêu chủ yếu. - Có phân biệt giữa xí nghiệp quốc doanh thuộc các ngành sản xuất và xí nghiệp quốc donh thuộc các ngành lưu thông phân phối và phục vụ với tinh thần khuyến khích xí nghiệp thuộc các ngành sản xuất nhiều hơn.
Căn cứ trích là qũy lương tính theo lương cấp bậc bình quân thực tế cả năm của số công nhân viêcn chức được phân bổ tiền lương trong giá thành (hoặc phí lưu thông) của xí nghiệp, kể cả công nhân viân chức các bộphận ngòai kinh doanh cơ bản chưa hạch tóan độc lập, theo đúng quy định hiện hành trong Thông tư 88-Chính phủ Thông tư 88- Chính phủ quy định căn cứ trích cho xí nghiệp công nghiệp là qũy lương cấp bậc bình quâNhà nước thực tế cả năm của số công nhân sản xuất, học nghề, cán bộ quản lý kinh tế, cán bộ quản lý kỹ thuật, cán bộ quản lý hành chính, cán bộ y tế trong qũy lương sản xuất của xí nghiệp (tính từ trạm xá trở xuống, không kể bệnh xã và bệnh viện); công nhân viên của các tổ chức vận tải, thu mua, xây lắp chưa hạch tóan kinh tế độc lập... Công nhân viên xây lắp, vận tải, thu mua có hạch tóan kinh tế độc lập thì hưởng mức trích khen thưởng và qũy phúc lợi theo chế độ quy định đối với những ngành này (công nhân viên ngành thu mua và ngành ưng ứng vật tư chuyên trách lớn cũng theo quy định đối với những ngành này). Cụ thể mức trích qũy khen thưởng và qũy phúc lợi thống nhất cho xí nghiệp thuộc tất cả cá ngành trong cả nước như sau:
a) Trường hợp xí nghiệp hòan thành các chỉ tiêu kế họach Nhà nước: Mức trích cho mỗi qũy khen thưởng và phúc lợi Phân lọai xí nghiệp thuộc các ngành kinh tế Mức trích cơ bản khi xí nghiệp hòan thành hai chỉ tiêu chủ yếu sau đây ()Mức khuyến khích cao khi xí nghiệp hòan thành tòan diện các chỉ tiêu pháp lệnh của kế họach Nhà nước 1 23 1- Xí nghiệp công nghiệp của tất cả các ngành, các nông trường, chăn nuôi, khai thác nông lâm sản, thủy hải sản, muối, xí nghiệp in, sản xuất phim, các đơn vị thăm dò địa chất, khảo sát thiết kế - 6% qũy lương cấp bậc bình quân thực tế cả năm của số công nhân viên chức theo quy định trong Thong tư 88-CP- 8% qũy lương cấp bậc bình quân thực tế cả năm của số công nhân viên chức theo quy định trong Thông tư 88-Chính phủ 2- Các xí nghiệp thương nghiệp (thuộc các ngành nội ngọai thương và lương thực), cung ứng vật tư, khách sạn, nhà trọ, ăn uống, phục vụ, gia công, du lịch, công viên, xuất bản, xuất nhập khẩu sách báo, phát hành sách báo, phát hành phim, nhiếp ảnh, chiếu bóng, biểu diễn nghệ thuật, các xí nghiệp dịch vụ và các đơn vị hạch tóan kinh tế khác - 4% qũy lương cấp bậc bình quân thực tế cả năm nói trên-6% qũy lương cấp bậc bình quân thực tế cả năm nói trên () Hai chỉ tiêu chủ yếu gồm: Một là sản lượng sản phẩm chủ yếu (kể cả sản phẩm chủ yếu xuất khẩu) đã được tiêu thụ theo kế họach Nhà nước, những sản phẩm này phải theo đúng tiêu chuẩn chất lượng quy định. Chỉ tiêu sản lượng sản phẩm chủ yếu đối với từng ngành có đặc điểm khác nhau theo quy định của kée haọch Nhà nước. Hai là lợi nhuận và các khỏan nộp ngân sách Nhà nước.
b) Trường hợp xí nghiệp không hòan thành các chỉ tiêu kế họach Nhà nước: Số trích qũy theo các mức cơ bản tính tóan ở điểm a cột 2 trên đây sẽ bị giảm trừ như sau: - Không hòan thành từ 1% đến 10% về từng chỉ tiêu chủ yếu nói trên: cứ mối phần trăm không hòan thành về một chỉ tiêu phải trừ đi 2,5% số tiền trích theo mức cơ bản của mỗi qũy (cộng hai chỉ tiêu phải trừ vào mỗi qúy 5%). - Không hòan thành từ 10% trở lên về từng chỉ tiêu chủ yếu nói trên: cứ mỗi phần trăm không hòan thành về một chỉ tiêu phải trừ đi 3% số tiền trích theo mức cơ bản củ mỗi qũy (cộng hai chỉ tiêu phải trừ vào mỗi qũy 6%)
c) Nhằm tăng cường trách nhiệm tập thể và pháp chế xã hội chủ nghĩa, cả hai trường hợp hòan thành hay không hòan thành các chỉ tiêu kê shọach Nhà nước, nếu xí nghiệp có vi phạm chế độ, chính sách quản lý kinh tế tài chính của Nhà nước kể dưới đây thì cứ mỗi vi phạm tùy theo mức độ vi phạm, còn bị giảm trừ thêm từ 2% đến 5% số tiền trích theo mức cơ bản của mối qũy: - Làm thiệt hại đến tài sản, vật tư, tiền vốn. - Để xảy ra tai nạn chết người do khuyết điểm về quản lý hoặc do thiếu trách nhiệm. - Vi phạm hợp đồng kinh tế, các chế độ phân phối, thu mua, giá cả Nhà nước. - Vi phạm các chế độ báo cáo kê stóan thống kê, quyết tóan và thu nộp ngân sách. Về các chỉ tiêu và mức giảm trừ nói trên, các ngành đều phải thi hành thống nhất. 4/ Sau khi đã tính ra mức trích cho hai qũy khen thưởng và phúc lợi thì nguồn vốn trích lấy từ lợi nhuận xí nghiệp: Trường hợp xí nghiệp thực hiện kế họach Nhà nước quá thấp, cả hai qũy khen thưởng và phúc lợi được trích lập cộng lại dưới 10 đ bình quân đầu người (của số công nhân viên chức theo quy định trong Thông tư 88-CP nói trên) thì xí nghiệp được trích thêm cho đủ mức tối thiểu cho hai qũy này cộng lại bằng 10đ bình quân đầu người để xí nghiệp có tiền khen thưởng thi đua cho một số bộ phận, một số cá nhân có thành tích, và bảo đảm một số khỏan chi về phúc lợi tối thiểu bình thường hàng năm. Trường hợp xí nghiệp không có lợi nhuận hoặc có lỗ kế haọch (do chính sách giá cả của Nhà nước hay do nguyên nhân khách quan khác được Nhà nước công nhận) thì sẽ căn cứ vào mức phấn đấu hạ giá thành và phí lưu thông, mức phấn đấu giảm lỗ và mức độ hòan thành cac chỉ tiêu sản lượng sản phẩm chủ yếu đã thiêu thụ theo kế họach Nhà nước mà cơ quan chủ quản cấp trên và cơ quan tài chính cung cấp xét duyệt mức trích qũy khen thưởng và qũy phúc lợi theo các quy định trong Thông tư này, số tiên trích qũy sẽ do ngân sách Nhà nước cấp. 5/ Trường hợp xí nghiệp có lợi nhuận do thực hiện kế họach đăng ký cao được duyệt và có lợi nhuận vượt kế họach thì lợi nhuận tăng thêm được phân phối bổ sung vào qũy khen thưởng và qũy phúc lợi theo quy định ở mục II điểm 3 và 4 nói trên. 6/ Về nguyên tắc, qũy khen thưởng và qũy phúc lợi là hai qũy riêng biệt, không được điều hòa cho nha u. Xí nghiệp làm ăn tốt, được trích thưởng ở mức cơ bản cộng thêm với số tiền trích thưởng ở mức khuyến khích cao trong 1, 2 hay cả 3 trường hợp sau đây: - Do hòan thành tòan tiện kế họach nn - Do hòan thành kế họach đăng ký cao - Do có lợi nhuận sản xuất mặt hàng phụ bằng phế liệu phế phẩm. Thì tổng số qũy khen thưởng cộng lại được nâng lên tối đa một tháng rưỡi qũy lương cấp bậc bình quân thực tế của số công nhân viên chức theo quy định trong thông tư 88-CP mói trên. Ngòai 3 trường hợp trên thì trong mọi trường hợp khác (kể cả vượt kế haọch lợi nhuận), qũy khen thưởng giữ nguyên mức tối đa một tháng lương như trước. Các số tiền vượt cao hơn mức tối đa đươcj bổ sung cho qũy phúc lợi: số tiền này dành riêng vào việc xây dựng nhà ở và các công trình phúc lợi khác cho công nhân viên chức của xí nghiệp. 7/ Đến hết năm, các xí nghiệp lập báo cáo theo các chỉ tiêu Nhà nước quy định về báo cáo hòan thành kế họach cuối năm. Trên cơ sở các báo cáo trên (gồm cả kế họach lẫn thực hiện), cơ quan chủ quản cấp trên lập phương án xét và tạm duyệt cho xí nghiệp trực thuộc trích lập các qũy khen thưởng và phúc lợi (có sự thỏa thuận với các ơ quan Tài chính, Thống kê, Kế họach và Ngân hàng cung cấp). Sau khi tạm duyệt, cơ quan chủ quản thôngbáo cho xí nghiệp tạm trích trước 75% số được rtạm duyệt để thực hiện trả tiền thưởng kịp thời cuối năm (thường vào dịp Tết). Đến đầu năm sau, khi báo cáo quyết tóan năm của xí nghiệp được cơ quan chủ quản duyệt chính thức (sau khi thỏa thuận với cơ quan tài chính cung cấp về sự chính xác của các báo cáo quyết tóan) xí nghiệp sẽ căn cứ vào để trích qũy khen thưởng và qũy phúc lợi được duyệt mà thanh tóan số tiền đã tạm trích, còn thiếu thì trích thêm, thừa thì hòan trả ngân sách Nhà nước. Để xác định mức độ hòan thành kế họach chỉ tiêu sản lượng sản phẩm chủ yếu theo tiêu chuẩn chất lượng quy định phải là sản phẩm đã tiêu thụ, giao nộp theo kê shaọch Nhà nước, xí nghiệp phải căn cứ vào báo cáo thống kê kê stóan về “sản xuất và tồn kho sản phẩm chủ yếu”, về “tiêu thụ sản phẩm” để lập bảng phân tích, xác định tình hình hòan thành kế họach mặt hàng chủ yếu đã tiêu thụ theo nguyên tắc: không được lấy mặt hàng vượt kê shaọch bù cho mặt hàng hụt kế họach, vượt kế họach bù cho mặt hàng hụt kế haọch, vượt kê shaọch cũng chỉ coi như hòan thành đúng kế họach. Thí dụ: Bảng phân tích, xác định tình hình hòan thành kê shaọch mặt hàng chủ yếu: Sản lượng hiện vật chủ yếu Giá trị tòan bộ sản phẩm chủ yếu Tên sản phẩm chủ yếu Kế họach Thực tế Giá đơn vị Kế họachThực tế Chú thích Tổng số Trong kế họach A 500 cái 500 cái 5 đ 2.500 đ2.500 đ2.500 đ B 800 - 900 - 6 đ 4.800 đ5.400 đ4.800 đ C 1.000- 700 - 7 đ 7.000 đ4.900 đ 4.900 đ D - 300 8 đ -2.400- Cộng % 14.30015.200 đ12.200đ 100%106%85.5% Bảng trên cho thấy xí nghiệp chỉ bảo đảm được có 85,5% kế họach mặt hàng chủ yếu (chứ không phải 106% kế họach mặt hàng chủ yếu) V. SỬ DỤNG LỢI NHUẬN ĐỂTHAM GIA VỐN ĐẦU TƯ CỐ ĐỊNH VÀ BỔ SUNG VỐN LƯU ĐỘNG ĐỊNH MỨC CẦN TĂNG THÊM THEO KẾ HỌACH NHÀ NƯỚC: 1/ Tham gia đầu tư vốn cố định theo kế họach Nhà nước: Hàng năm, xí nghiệp nào có kế họach đầu tư cơ bản cá công trình được Nhà nước duyệt thuộc đối tượng ngân sách Nhà nước cấp phát (thông tư liên bộ Ngân hàng Nhà nước - Tài chính - Ủy ban Kê họach Nhà nước số 21 - LB/TT ngày 17/2/1978) thì được: - Sử dụng lợi nhuận xí nghiệp và huy động vốn đầutư tự có từ qũy khuyến khích phát triển sản xuất, từ qũy phúc lợi của xí nghiệp, nếu trong năm đó, số lợi nhuận xí nghiệp chưa đủ khả năng tham gia ít nhất là 30% yêu cầu đầu tư vốn thuộc đối tượng ngân sách Nhà nước cấp phát thì không sử dụng lợi nhuận để tham gia đầu tư. Nguồn vốn nói trên được xác định trong kế họac tài chính của xí nghiệp. Xí nghiệp sẽ trích gửi vào Ngân hàng phục vụ mình theo kế họach các nguồn vốn dành cho đầu tư. Trường hợp xí nghiệp chưa trích kịp theo kế họach hoặc không thực hiện được kê shọach lợi nhuận hoặc kế họach nguồn vốn đầu tư tự có so với nhu cầu, cho nên không có đủ tiền để thực hiện đầu tư theo kế họach, thì xí nghiệp vay Ngân hàng Nhà nước theo thể lệ của Ngân hàng Nhà nước để bù vào số thiếu. Sang năm sau, xí nghiệp phải dự tính trong kế họach tài hcính xí nghiệp số tiền trả nợ Ngân hàng. Bộ Tài chính sẽ cùng Ngân hàng Nhà nước quy định tiếp theo thể thức thanh tóan số nợ Ngân hàng về vốn đầu tư cơ bản thuộc đối tượng ngân sách Nhà nước cấp phát. 2/ Bố sung vốn lưu động định mức cần tăng thêm theo kế họach được duyệt: Hàng năm, xí nghiệp nào có yêu cầu tăng vốn lưu động định mức và kế họach bổ sung vốn đó được duyệt thì: - Số vốn lưu động định mức thuộc phần ngân sách Nhà nước cấp phát còn thiếu, xí nghiệp đưqợc trích từ lợi nhuận năm kế họach để bổ sung. Nếu lợi nhuận kế họach không đủ (hoặc không có lợi nhuận kế họach) thì ngân sách Nhà nước mới cấp thêm. - Trong kê shọach tài chính được duyệt của xí nghiệp phải ghi rõ số vốn lưu động định mức thiếu xí nghiệp được trích từ lợi nhuận để bổ sung (và số ngân sách Nhà nước cấp thêm nếu có) Trường hợp xí nghiệp đã có kế họach được duyệt cho trích lợi nhuận bổ sung vốn lưu động mà chưa trích kịp hoặc không thực hiện được kế họach lợi nhuận, cho nên không có đủ số tiền để bổ sung vốn lưu động theo kế họach, thì xí nghiệp vay Ngân hàng Nhà nước theo thể lệ của Ngân hàng Nhà nước để bù vào số thiếu, ngân sách không cấp bù. Sang năm sau, xí nghiệp phải dự tính trong kế họach tài chính số tiền trả nợ Ngân hàng. VI. TRÍCH NỘP LỢI NHUẬN XÍ NGHIỆP VÀO NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC: 1/ Các xí nghiệp quốc doanh Trung ương và địa phương dù có nộp thu nhập thuần túy dưới hình thức thu quốc doanh hay không đều có nghĩa vự trích nộp lợi nhuận vào ngân sách Nhà nước, ngòai trường hợp có lý do khách quan được chấp nhận. 2/ Việc trích nộp lợi nhuận tiến hành hàng thàng dựa trên cơ sở lợi nhuận thực tế đạt được, căn cứ vào quyết tóan (hoặc bảng cân đối tài khỏan) đã được duyệt. Trong khi chưa xác định được số thực tế đạt được xí nghiệp phải trích nộplợi nhuận vào ngân sách theo kế họach và thanh tóan lại theo thực tế, đểđảm bảo thu kịp thời vào ngân sách và ngăn ngừa việc sử dụng ngòai kế họach những khỏan tiền phải nộp ngân sách. Đến hạn nộp quy định xí nghiệp phải chủ động trích và nộp lợi nhuận vào ngân sách theo đúng chế độ. 3/ Các xí nghiệp đến hạn trích nộp lợi nhuận vào ngân sách Nhà nước mà chưa nộp thì cứ mỗi ngày chậm nộp phải nộp một số tiền phạt bằng 0,1% số tiền chậm nộp. VII. ĐIỀU KHỎAN THI HÀNH 1/ Giám đốc xí nghiệp có nhiệm vụ thực hiện tốt các điều khỏan về ciệc phân phối lợi nhuận và trích lập các qũy xí nghiệp quy định trong Thông tư này. Sáu tháng và hàng năm, Giám đốc xí nghiệp phải báo cáo tình hình thực hiện kếhọach và việc sử dụng các qũy xí nghiệp trước đại hội công nhân viên chức. Kế tóan trưởng có trách nhiệm giúp Giám đốc xí nghiệp tổ chức hạch tóan chính xác và kiểm tra việc thực hiện các chỉ tiêu kế họach Nhà nước, các khỏan phân phối, sử dụng lợi nhuận và lập báo cáo đúng chế độ của Nhà nước. Nếu cơ quan có trách nhiệm thẩm tra các báo cáo xét thấy xí nghiệp làm sai, trích các qũy một cách không chính đáng, thì xí nghiệp phải bồi hòan cho Công ty số tiền trích sai đó. Những cán bộ có liên quan đến sai phạm kể cả Giám đốc xí nghiệp, kế tóan trưởng sẽ bị truất tiền thưởng và thi hành kỷ luật theo chế độ của Nhà nước. 2/ Các Công ty, các xí nghiệp quốc doanh (và công tư hợp doanh) thuộc các ngành sản xuất, cũng như các ngành lưu thông, phân phối và phục vụ trong cả nước, được áp dụng chế độ phân phối lợi nhuận và trích lập các qũy xí nghiệp là các đơn vị cơ sở sản xuất và kinh doanh có các điều kiện sau đâ y: - Có kế họach sản xuất - kỹ thuật - tài chính được duyệt. Khi xét duyệt kế họach cho đơn vị cơ sở, các Bộ, Tổng cục, Ủy ban nhân dân địa phương phải bảo đảm phân bổ đủ mức kế họach Nhà nước giao cho ngành hoặc địa phương đó. - đã thi hành chế độ hạch tóan kinh tế, hạch tóan được giá thành và phí lưu thông trên cơ sở các định mức kinh tế kỹ thuật được duyệt. Các Bộ, Tổng cục và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố xét quyết định, sau khi tham khảo ý kiến của cơ quan Tài chính đồng cấp, cho các xí nghiệp ở phía Nam đã có đủ cá điều kiện này cũng được trích lập các qũy xí nghiệp theo chế độ chung của cả nước. Đối với các xí nghiệp chưa có đủ cá điều kiện trên, tạm thời áp dụng chế độ khen thưởng đã thi hành trong năm 1976 (được trích qũy khen thưởng và qũy phúc lợi theo các căn cứ tính tóan và mức trích đã thi hành trong năm 1976). Đối với các Công ty, Liên hiệp xí nghiệp có các đơn vị trực thuộc đã hạch tóan kinh tế thì các Công ty, Liên hiệp xí nghiệp đó coi là tổ chức hạch tóan cấp trên, không phải là đơn vị cơ sở và sẽ được áp dụng chế độ trích lập qũy theo điều lệ Liên hiệp xí nghiệp; tạm thời, Bộ chủ quản thỏa thuận với Bộ Tài chính để áp dụng mức thưởng thích hợp theo nguyên tắc mức thưởng cho tổ chức hạch tóan cấp trên không được cao hơn mức phổ biến bình quân đầu người của các đơn vị cơ sở trực thuộc. Đối với các đơn vị sự nghiệp kinh tế hoặc đơn vị sản xuất kinh doanh mới có dự tóan thu chi ngân sách mà chưa được xét duyệt, công nhận chuyển sang chế độ hạch tóan kinh tế thì không áp dụng chế độ này mà áp dụng theo quy đinhj của Nghị định số 80-Chính phủ Liên Bộ Tài chính - Giáo dục và Đào tạòay 13/5/1964 của Hội đồng Chính phủ về khen thương thi đua.
Căn cứ vào quy định hiện hành và những quy định mới bổ sung trong Thông tư của Thủ tưởng Chính phủ, Bộ Tài chính hệ thống hóa bằng văn bản thống nhất này để hướng dẫn chi tiết việc thi hành trong cả nước, bắt đầu thống nhất thi hành ngay vào việc trích lập các qũy xí nghiệp năm 1977. Những quy định trước đây của Bộ Tài chính trong các Thông tư số 14-TC/CNXD ngày 1 tháng 8 năm 1974, số 10-TC/TNGI ngày 29 tháng 4 năm 1975 và số 07-TC/NLTL ngày 20 tháng 4 năm 1976 trái với Thông tư này, đều bãi bỏ./.
Nơi nhận: - Văn phòng Phủ Thủ tưởng (VP1, VP2) - Viện nghiên cứu quản lý kinh tế (Phủ thủ tướng), Công báo. - Các Bộ, cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ. - Các cơ quan, đòan thể trung ương - Ủy ban nhân dân các tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương. - Các Sở, Ty Tài chính, Chi hàng kiến thiết, phòng đại diện NHKT các tỉnh và thành phố. - Trạm thường trú Bộ Tài chính tại Thành phố Hồ Chí Minh. - Các Cục, Vụ, Viện, Ban 6 trường trực thuộc Bộ Tài chính, phòng Pháp chế (Văn phòng). Lưu Văn phòng + Vụ Công nghiệp xây dựng.
KT. BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH Thứ trưởng (Đã ký) Võ Trí Cao Văn bản liên quan:
Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/thong-tu-so-03-tc-cnxd-huong-dan-thi-hanh-che-do-phan-phoi-loi-nhuan-va-trich-lap-cac-quy-xi-nghiep-de-ap-dung-trong-ca-nuoc-tu-nam-1977-tro-di--78185.
Dịch vụ liên quan
Văn bản liên quan
- Bãi bỏ của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật và của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số Điều của
- Quy định mức thu, chế độ thu, nộp phí thuộc lĩnh vực đường sắt
- Sửa đổi, bổ sung một số điều của của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán được sửa đổi, bố sung bởi và BTC, của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định giao dịch cổ phiếu niêm yết, đăng ký giao dịch và chứng chỉ quỹ, trái phiếu doanh nghiệp, chứng quyền có bảo đảm niêm yết trên hệ thống giao dịch chứng khoán đưực sửa đổi, bổ sung bởi, của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về hoạt động của công ty chứng khoán đưực sửa đổi, bổ sung bởi
- Sửa đổi, bố sung một số điều của của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về kiểm tra, giám sát, tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; kiểm soát hàng giả và hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được sửa đổi, bổ sung bởi
- Hướng dẫn bố trí nguồn kinh phí, lập dự toán, quản lý, sử dụng, quyết toán kinh phí thực hiện ký kết hợp đồng thực hiện nhiệm vụ của công chức
- Hướng dẫn mức chi tổ chức thực hiện công tác thi đua, khen thưởng tại khoản 1 Điều 48 của Chính phủ quy định về phận cấp, phân quyền trong lĩnh vực thi đua, khen thưởng; quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng
- Quy định mức thu, chế độ thu, nộp phí sát hạch lái xe, lệ phí cấp bằng, chứng chỉ được hoạt động trên các loại phuong tiện và lệ phí đăng ký, cấp biển xe máy chuyên dùng
- Quy định mức thu, chế độ thu, nộp một số khoản phí, lệ phí thuộc lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch