Thông tư số 76-HĐBTTC/HCVX Hướng dẫn về chế độ phân phối lợi nhuận và trích lập quỹ xí nghiệp trong ngành xuất bản

Số hiệu
76-HĐBT
Loại văn bản
Thông tư
Cơ quan ban hành
Bộ Tài chính
Ngày ban hành
03/12/1986

Toàn văn

THÔNG TƯ Hướng dẫn về chế độ phân phối lợi nhuận và trích lập qũy xí nghiệp trong ngành xuất bản ________________________ Thị hành Quyết định số 76/HĐBT ngày 26/6/1986 của Hội đồng Bộ Trưởng quy định tạm thời quyền tự chủ tài chính của các đơn vị kinh tế cơ sở, tiếp theo Thông tư số 11-TC/CNA ngày 22 /7/1986 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ phân phối lợi nhuận và trích lập qũy xí nghiệp trong công nghiệp quốc doanh; để phù hợp với đặc điểm ngành, Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ phân phối lợi nhuận và trích lập qũy xí nghiệp trong ngành xuất bản (gồm các Nhà xuất bản, các cơ quan báo chí, tạp chí- gọi tắt là Nhà xuất bản) như sau : I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG :

  1. Việc phân phối lợi nhuận và trích lập qũy xí nghiệp trong ngành xuất bản, báo chí về cơ bản được thực hiện theo những quy định chung tại Thông tư số 11-TC-CNA ngày 22/7/1986 của Bộ Tài chính.

Căn cứ để thực hiện chế độ phân phối lợinhuận là số lợi nhuận kế họach và lợi nhuận thực tế đạt được của từng Nhà xuất bản. a. Lợi nhuận kế họach hàng năm cuả Nhà xuất bản được xác định trên cơ sở tổng doanh thu kế họach, tính theo giá bán sản phẩm, sau khi trừ đi (-) các khỏan chênh lệch giá (nếu có), trừ đi (-) tổng giá thành kế họach và trừ (-) thu quốc doanh hoặc thuế phải bộp Ngân sách Nhà nước. Lãi định mức áp dụng cho các xuất bản phẩm được căn cứ vào quy mô, lao động, đầu tư cho công tác xuất bản; dựavào tính chất các lọai xuát bản phẩm; khả năng xuất bản và tiêu thụ. Lãi định mức kế họach được xác định theo tỷ lệ % so với giá thành kế họach được duyệt. Lãi định mức quy dịnh cho các xuất bản phẩm như sau: Lọai xuất bản phẩm Lãi định mức A. Sách :

  1. Sách giáo khoa phổ thông, bổ túc.

  2. Sách phục vụ thiếu nhi.

  3. Sách giáo khoa dùng trong các trường Đảng, trường đại học trung học chuyên nghiệp dạy nghề và sách tham khảo nghiên cứu trong hệ thống đào tạo của các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề.

  4. Sách phổ biến pháp luật, hướng dẫn nghiệp vụ công tác: - Các lọai sách chính trị, sách dân tộc. - Sách khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội phổ thông, chuyên ngành, sách dạy nghề phổ biến kỹ htuật.

  5. Sách ngọai văn phục vụ đối ngọai. B. Báo chí:

  6. Báo hàng ngày.

  7. Báo hàng tháng.

  8. Báo hàng tuần. - Báo phục vụ đối tượng xã hộ rộng rãi. - Báo ngành phục vụ đối tượng xã hội học.

  9. Báo tin phục vụ đối ngọai (quy cách khổ các lọai báo theo khổ thực tế Cục báo chí đã duyệt cho xuất bản phát hành). C. Văn hóa phẩm :

  10. Văn hóa phẩm phục vụ chính trị; mẫu biểu các lọai.

  11. Văn hóa phẩm khác (Quy cách khổ theo thực tế được duyệt cho xuất bản phát hành).

  12. Văn hóa phẩm phục vụ xuất khẩu. 0,6% 1,0% 2,0% 4,0% 5,0% 1,0% 2,0% 2,5% 3,0% 4,0% 1,0% 1,5% 2,0% Lợi nhuận xuất bản chính, xuất bản phụ và các khỏan lợi nhuận phụ trợ, lợi nhuận kinh doanh ngòai xuất bản đều phải được kế họach hóa trong một kế họach sản xuất kỹ thuật tài chính thống nhất của nhà xuất bản. Họat động xuất bản chính là họat động làm ra các xuất bản phẩm được cấp giấy phép xuất bản trong chức năng nhiệm vụ (như xuất bản sách, báo) và ngòai nhiệm vụ chủ yếu (như làm thêm lịch và xuất bản phẩm khác...) Họat động phụ trợ là các họat động bổ sung vào họat động xuất bản, như bồi phông lịch, đóng sách tự phát hành nếu được cơ quan phát hành thỏa thuận. Họat động kinh doanh ngòai xuất bản là các họat động không liên quan đến công tác xuất bản, như làm hộp cát-tông, sản xuất giấy, mua lề giấy, rơm rạ đổi lấy giấy in... được cấp có thẩm quyền cho phép. Họat động xuất bản phụ là họat động tận dụng phế liệu, phế phẩm làm ra các xuất bản phẩm. b. Lợi nhuận thực hiện của nhà xuất bản, bao gồm lợi nhuận của các họat động nói trên và được xác định trên cơ sở tổng doanh thu thực hiện, trừ đi (-) gia thành thực tế được duyệt, trừ đi (-) thu quốc doanh hoặc thuế và chênh lệch gia (nếu có). Nhà xuất bản hạch tóan kinh tế độc lập, hàng năm được trích lập qũy xí nghiệ sau khi đã hòan thành chỉ tiêu pháp lệnh về lợi nhuận và cacs khỏan khác nộp Ngân sách Nhà nước theo kế họach. II. PHÂN PHỐI LỢI NHUẬN VÀ TRÍCH LẬP QŨY XÍ NGHIỆP.

  13. Kế họach hóa phân phối lợi nhuận: - Tổng số lợi nhuận kế họach của nhà xuất bản được phân phối: + Đối với lợi nhuận kế họach của xuất bản chính, họat động phụ trợ, kinh doanh ngòai xuất bản được để lại nhà xuất bản 50% và nộp Ngân sách Nhà nước 50%. + Đối với lợi nhuận kế họach của họat động xuất bản phụ được để lại 70% và nộp Ngân sách Nhà nước 30%. - Tòan bộ phân lợi nhuận để lại nhà xuất bản theo kế họach được phân phối cho 3 qũy như sau: + Cho qũy khuyến khích phát triển sản xuất: 40% + Số còn lại dành khỏang 2/3 cho qũy khen thưởng và khỏang 1/3 cho qũy phúc lợi. Mức trích cụ thể do giám đốc nhà xuất bản quyết định sau khi có ý kiến tham gia của Công đòan cơ sở.

  14. Thực hiện phân phối lợi nhuận: Trên cơ sở tổng số lợi nhuận kế họach, số lợi nhuận phải nộp ngân sách được duyệt và trở thành chí tiêu kế họach pháp lệnh của Nhà nước giao cho nhà xuất bản. Số lợi nhuận phải nộp Ngân sách Nhà nước được chia làm 4 qúy và nhà xuất bản có nhiệm vụ nộp đều đặn kịp thời hàng tháng (hoặc định kỳ) vào Ngân sách Nhà nước. Số được trích 3 qũy theo kế họach cũng được phân ra làm 4 qũy và đăng ký với Ngân hàng cơ sở phục vụ nhà xuất bản. Nhà xuất bản được tạm trích 70% số trích theo kế họach qũy cho mỗi qũy (3 qúy), sau khi có quyết tóan qúy và đã hòan thành việc nộp lợi nhuận và các khỏan khác vào Ngân sách Nhà nước (có xác nhận của coư quan thu quốc doanh và quản lý tại chính xí nghiệp Trung ương - đối với nhà xuất bản Trung ương, cơ quan tài chính địa phương - đối với nhà xuất bản địa phương). Hết năm, khuyết quyết tóan chính thức (bao gồm việc xét duyệt để trích lập chính thức các qũy), nhà xuất bản sẽ được tính tóan đầy đủ số trích lập 3 qũy theo số lợi nhuận thực tế thực hiện. a. Tổng số lợi nhuận thực hiện trong phạm vi kế họach lợi nhuận đã được duyệt thì phân phối theo tỷ lệ như quy định ở điểm 1, mục II nói trên. Trường hợp nhà xuất bản không hòan thành kế họach nộp lợi nhuận của xuất bản chính (trên cơ sở của số lợi nhuận thực hiện) thì số lợi nhuận của xuất bản phụ phải nộp Ngân sách Nhà nước 50% và để lại nhà xuất bản 50% Tỷ lệ phân phối lợi nhuận của xuất bản phụ được áp dụng chung cho cả phần trong kế họach và vượt kế họach. b. Lợi nhuận thực hiện vượt kế họach của phần xuất bản chính, họat động phụ trợ kinh doanh ngòai xuất bản (nếu có) nộp Ngân sách Nhà nước 40% và để lại nhà xuất bản 60%. Phần để lại cho nhà xuất bản (kể cả trong kế họach và vượt kế họach) sau khi đã trừ các khỏan phải nộp phạt do vi phạm hợp đồng kinh tế, kỷ luật tiền mặt, tín dụng, thanh tóan... và lọai trừ các khỏan chi bất hợp lý, không hợp lệ, tiêu cực trong giá thành... mới được phân phối cho 3 qũy theo các tỷ lệ quy định ở điểm 1, mục II nói trên. Nếu nhà xuất bản không hòan thành các chỉ tiêu kế họach pháp lệnh chủ yếu sau đây: + Doanh thu tiêu thụ xuất bản phẩm (sau khi lọai trừ yếu tố giá cả). + Số lượng, chất lượng của xuất bản phẩm: - Số lượng cuốn, bản (với xuất bản sách) - Số lượng tờ, ký(với báo chí, tập san, tạp chí) - Số lượng lọai (với các lọai văn hóa phẩm) + Lợi nhuận và các khỏan khác nộp Ngân sách Nhà nước thì cứ mỗi tỷ lệ (%) không hòan thành về 1 trong 2 chỉ tiêu đều phải trừ đi 2% số tiền được trích của mỗi qũy (3 qũy) và mỗi % khôgn hòan thành chỉ tiêu thứ 3, phải trừ đi 3 % số tiền được trích vào mỗi qũy (3qũy). Khi đánh giá mức độ hòan thành chỉ tiêu số lượng, chất lượng của xuất bản phẩm cần phải đáhn giá kể cả cuốn, bản đối với sách (bản vượt kế họach những cuốn chưa đạt kế họach hoặc ngược lại, vượt kế họach cho hụt kế họach mà lấy chỉ tiêu hụt kế họach làm cơ sở giảm trừ; nếu cả cuốn và bản đều hụt kế họach thì lấy chỉ tiêu nào có % hụt nhiều làm cơ sở giảm trừ). Đối với báo chí, cách đánh giá chỉ tiêu số lượng tờ, ký cũng đánh giá như cuốn, bản đối với sách nói trên. Khi đấnh giá mức độ hòan thành chỉ tiêu phép lệnh về lợi nhuậnvà các khỏan khác nộp Ngân hàng Nhà nước cần phải so sánh số nộp thực tế với số nộp theo kế họach cho từng khỏan nộp như sau: Nếu số đã nộp cao hơn số phát sinh thực tế phải nộp thì mức độ hòan thành chỉ tính theo số phát sinh phải nộp, nếu số đã nộp thấp hơn số phát sinh thực tế phải nộp thì mức độ hòan thành tính theo số đã nộp. Sau đó tổng cộng các khỏan nộp theo số đã đánh giá mức độ hòan thành so sánh với tổng số phải nộp theo kế họach để đánh giá mức độ hòan thành chung về chỉ tiêu các khỏan nộp ngân sách Nhà nước. Ví dụ: Các khỏan phải nộp NSNN Theo K.H Theo thực tế Đánh giá mức độ hòan thành nộp Tổng số phát sinh Số phải nộp Tổng số phát sinh Số phải nộp Số đã nộp Số tuyệt đối % Lợi nhuận 10 5 8 4 5 4 80 Khấu hao cơ bản 6 3 4 2 2 2 66 Nộp khác 12 12 13 13 12 12 100 Cộng: 28 20 25 19 19 18 90 Ngòai ra, nếu nhà xuất bản vi phạm chế độ chính sách quản lý kinh tế tài chính; chế độ báo cáo thống kê, kế tóan; nộp không đều đặn, kịp thời các khỏan phải nộp vào Ngân sách Nhà nước, kể cả các khỏan phải nộp vượt kế họach... thì cứ mỗi vi phạm sẽ tùy theo mức độ nặng nhẹ mà bị giảm trừ từ 2 - 5% số tiền được trích vào mỗi qũy (3 qũy). - Các số phạt trừ nói trên vào 3 qũy của nhà xuất bản phải nộp vào Ngân sách Nhà nước. Trường hợp có xuất bản phẩm vi phạm về chính trị, phải đình chỉ xuất bản vì lý do chủ quan của nhà xuất bản gây ra thì không được xét trích qũy xí nghiệp.

  15. Đối với nhà xuất bản có lỗ theo chính sách: Nhà xuất bản được hưởng mức trích cơ bản vào 2 qũy khen thưởng và phúc lợi bằn 2 tháng lương cơ bản thực hiện trong năm của công nhân viên chức nhà xuất bản (trong đó khỏang 2/3 cho qũy khen thởng, 1/3 cho qũy phúc lợi) và được trích mức cơ bản cho qũy khuyến khích phát triển xuất bản tính bằng 1% nguyên giá tài sản cố định bình quân đagn dùng trong năm và tài sản lưu động trong định mức. - Nếu nhà xuất bản giảm lỗ kế họach do phấn đấu chủ quan, làm hạ giá thành, thì số giảm lỗ được coi như lãi vượt kế họach và được trích vào 3 qũy 60% số thực tế đã giảm lỗ, trong đó 40% cho qũy khuyến khích phát triển xuất bản, số còn lại dành khỏang 2/3 cho qũy khen thưởng và 1/3 cho qũy phúc lợi. - Để khuyến khích các nhà xuất bản có lỗ theo kế họach tích cực phấn đấu tăng các họat động phụ trợ, kinh doanh ngòai xuất bản, xuất bản phụ để lấy lãi bù đắp cho lỗ xuất bản chính, giảm cấp phát cho Ngân sách Nhà nước thì việc phân phối lợi nhuận được thực hiện như sau: + Lợi nhuận kế họach của các họat động phụ trợ, xuất bản phụ và kinh doanh ngòai xuất bản phải được kế họach hóa trong kế họach sản xuất - kỹ thuật - tài chính thống nhất của nhà xuất bản. Nhà xuất bản được lấy phần lợi nhuận kế họach phải nộp Ngân sách Nhà nước theo tỷ lệ phân phối lợi nhuận nói trên để bù lỗ kế họach của họat độn xuất bản chính. + Khi xét duyệt quyết tóan chính thức, nếu phần lợi nhuận thực hiện (trong kế họach và vượt kế họach) của các họat động nói trên phải nộp Ngân sách Nhà nước theo tỷ lệ phân phối lợi nhuận qyu định trên đây đã bù đắp đủ phần lỗ của xuất bản chính được duyệt thì phần lợi nhuận phải nộp Ngân sách Nhà nước còn lại của các họat động này được để lại 70% trích lập 3 qũy và 30% được chuyển sang năm sau làm nguồn bù cho kế họach lỗ của năm sau (nếu có) sau khi có sự thỏa thuận của cơ quan tài chính cùng cấp. Nếu nhà xuất bản có lỗ kế họach mà không hòan thành các chỉ tiêu pháp lệnh chủ yếu và vi phạm các chế độ, chính sách Nhà nước nói trên thì cũng bị giảm trừ theo tỷ lệ (%) số tiền được trích cho mỗi qũy (3 qũy) như quy định ở điểm 2, mục II nói trên như đối với các nhà xuất bản có lãi. Khi đánh giá mức độ hòan thành chỉ tiêu kế họach lỗ được lọai trừ khỏan lỗ tăng do tăn sản lượng tiêu thụ. Sau khi lọai trừ mà số lỗ vẫn tăn hơn số lỗ kế họach thì số lợi nhuận thực hiện của họat động phụ trợ và kinh doanh nòai xuất bản chỉ được để lại 50% cho 3 qu, 50% còn lại để bù đắp lỗ, vượt kế họach.

  16. Không hạn chế mức tối đa qũy khen thưởng và qũy phúc lợi nhưng khi tổng số trích vào 2 qũy (ken thưởng và phúc lợi) vượt quá 50% qũy lương cơ bản thực hiện cả năm của công nhân viên chức nhà xuất bản (qũy lương cơ bản là lương cấp bậc hoặc chức vụ, không kể các khỏan phụ cấp theo lương) thì số trích vượt tính từ trên mức 50% qũy lương cơ bản trở đi được phân phối như sau; - Từ trên 50% đến 70% qũy lương cơ bản thực hiện, nhà xuất bản phải nộp Ngân sách Nhà nước 50% và 10% nộp cơ quan quản lý cấp trên để lập qũy dự trữ tài chính tập trung, số còn lại 40% bổ sung vào các qũy xí nghiệp do giám đốc nhà xuất bản quyết định. - Từ trên 70% qũy lương cơ bản thực hiện trở đi nhà xuất bản phải nộp Ngân sách Nhà nước 70% và 10% nộp cơ quan quản lý cấp trên để lập qũy dự trữ tài chính tập trung, số còn lại 20% bổ sung vào các qũy xí nghiệp do giám đốc nhà xuất bản quyết định.

  17. Việc trích các qũy khuyến khích phát triển xuất bản, qũy phúc lợi và qũy khen thưởng của nhà xuất bản để lập các qũy nghiên cứu khoa học kỹ thuật tập trung, qũy dự trữ tài chính và qũy Bộ trưởng được quy định như sau: Ngòai mục đích sử dụng qũy khuyến khích phát triển xuất bản để bổ sung cho nhu cầu tăng vốn lưu động, vốn tự có về đầu tư xây dựng cơ bản theo chiều sâu, mở rộng phát triển xuất bản chính, xuất bản phụ; Nhà xuất bản phải trích qũy nghiên cứu khoa học tập trung (theo quy định tại thông tư Liên Bộ Bộ Tài chính - Ủy ban KH-KTNN số 28/TC-KHKT ngày 24/9/1986 hướng dẫn việc trích lập và sử dụng qũy phát triển khoa học - kỹ thuật tập trung trích từ 1 - 3% đã lập qũy dự trữ tài chính tập trung ở cơ quan quản lý cấp trên (ở cấp Bộ đối với các nhà xuất bản trung ương). Mức cụ thể (từ 1 - 3%) do cơ quan quản lý cấp trên quy định cho phù hợp với nhu cầu cụ thể của ngàhn và khả năng của từng nhà xuất bản. ở địa phương không phải nộp lên cơ quan chủ quản cấp trên, không lập qũy này ở các Sở chủ quản. Qũy dự trữ tài chính tập trung ở Bộ chủ quản được sử dụng để hỗ trợ kịp thời những khó khăn đột xuất về tài chính cho các đơn vị xí nghiệp cơ sở trực thuộc theo nguyên tắc cấp phát có hòan lại hoặc không hòan lại do cơ quan quản lý cấp trên đó quyết định. - Dành 1% qũy phúc lợi và qũy khen thưởng của nhà xuất bản để lập qũy Bộ trưởng ở cấp Bộ (có chế độ riêng về qũy Bộ trưởng). III. ĐIỀU KHỎAN THI HÀNH:

Căn cứ vào nhiệm vụ và chỉ tiêu kế họach Nhà nước giao cho ngành chủ quản, cơ quan quản lý cấp trên của nhà xuất bản phải giao kế họach co nhà xuất bản từ cuối năm trước hoặc đầu năm kế họach, trong đó bao gồm cả chỉ tiêu lợi nhuận, các khỏan phải nộp vào Ngân sách Nhà nước. Tổng số lợi nhuận, các khỏan khác nộp Ngân sách giao cho các đơn vị trực thuộc không được thấp hơn kế họach Nhà nước giao cho cơ quan chủ quản. Nếu cơ quan chủ quản giao chậm làm ảnh hưởng đến thu nộp vào Ngân sách, hoặc giao thấp hơn kế họach Nhà nước giao phải chịu trách nhiệm về việc hòan thành kế họach nộp lợi nhuận cho Nhà nước. Trường hợp, nếu giao kế họach thấp hơn thì cứ mỗi % giao hụt kế họach bị phạt trừ 2% tổng số qũy Bộ trưởng được trích trong năm. Số bị phạt trừ này phải nộp vào Ngân sách Nhà nước.

  1. Trên cơ sở kế họach được duyệt, nhà xuất bản phải đăng ký kế họach trích lập 3 qũy có phân chia ra từng qýu với cơ quan tài chính cùng cấp và Ngân hàng, địa phương trực tiếp phục vụ nhà xuất bản thì mới được tạm trích vào qũy xí nghiệp theo kế họach hàng qúy như đã nêu trên.

  2. Khi duyệt quyết tóan chính thức hàn năm cho nhà xuất bản, cơ quan chủ quản cùng với cơ quan tài chính cùng cấp và có sự tham gia của cán bộ chuyên quản thu quốc (đối với nhà xuất bản Trung ương) xét duyệt số lợi nhuận nộp Ngân sách Nhà nước.

  3. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày ký và được áp dụng cho việc phân phối lợi nhuận, trích lập qũy xí nghiệp cả năm 1986 của các nhà xuất bản đã hạch tóan kinh tế độc lập thuộc tất cả các ngành, các cấp, các đòan thể ở Trung ương và địa phương. Những quy định trước đây trái với Thông tư này đều bãi bỏ. Các nhà xuất bản chưa thực hiện hạch tóan kinh tế độc lập được thực hiện trích thưởng như các đơn vị hành chính - sự nghiệp hoặc các đơn vị sự nghiệp có thu (có hướng dẫn riêng).

Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/thong-tu-so-44-tc-hcvx-huong-dan-ve-che-do-phan-phoi-loi-nhuan-va-trich-lap-quy-xi-nghiep-trong-nganh-xuat-ban--79728.

Dịch vụ liên quan

Văn bản liên quan