Thông tưTC/TCĐN Hướng dẫn việc quản lý và điều hành qũy ngoại tệ tập trung của nhà nước

Loại văn bản
Thông tư
Cơ quan ban hành
Bộ Tài chính
Ngày ban hành
28/03/1994
Lĩnh vực
Quản lý ngân sách nhà nước

Toàn văn

BỘ tài chính

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số: 07

TC/TCĐN Hà Nội, ngày 28 tháng 3 năm 1989

THÔNG TƯ

Hướng dẫn việc quản lý và điều hành qũy ngọai tệ tập trung của nhà nước __________________________ Để xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của cơ quan tài chính và Ngân hàng trong việc quản lý và điều hành qũy ngọai tệ tập trung của Nhà nước, sau khi trao đổi thống nhất với Ngân hàng Nhà nước (Ngân hàng ngọai thương Trung ương), Bộ Tài chính tạm thời hướng dẫn một số điểm như sau: A. QUY ĐỊNH CHUNG: Các khỏan thu, chi ngọai tệ thuộc qũy ngọai tệ tập trung của Nhà nước đều được hạch tóan vào tài khỏan 120 "Tiền gửi qũy ngọai tệ Nhà nước" mở tại Ngân hàng Ngọai thương Trung ương. Tài khỏan nói trên được mở và theo dõi riêng cho ngọai tệ tự do chuyển đổi và riêng cho Rúp chuyển nhượng. Để Bộ Tài chính có điều kiện quản lý, phân tích được từng nguồn thu thuộc qũy ngọai tệ Nhà nước, tài khỏan tiền gửi qũy ngọai tệ Nhà nước được mở theo các tiểu khỏan chi tiết sau đây: 120- 001 thu ngọai tệ về mậu dịch 120-002 thu ngọai tệ về vay nợ 120-003 thu ngọai tệ về viện trợ 120-004 thu ngọai tệ về hợp tác lao động và chuyên gia 120- 005 thu ngọai tệ về phi mậu dịch 120- 006 các khỏan thu khác bằng ngọai tệ. Các nguồn thu phải hạch tóan đúng vào các tiểu khỏan đã quy định trên, còn khi chi ra từ nguồn nào phải được chủ tài khỏan quyết định. Tài khỏan tiền gửi qũy ngọai tệ Nhà nước nói trêncũng như các tiểu khỏan của tài khỏan này đều được hạch tóan nguyên tệ, không hạch tóan đổi giá bằng đồng Việt nam. Tài khỏan tiền gửi qũy ngọai tệ Nhà nước được mở tại Ngân hàng Ngọai thương Trung ương và ở tất cả các chi nhánh Ngân hàng Ngọai thương Việt nam. Chế độ mở tài khỏan tiền gửi qũy ngoai tệ Nhà nước được quy định như sau: - Tải khỏan tiền gửi qũy ngọai tệ Nhà nước do Bộ trưởng Bộ Tài chính làm chủ tài khỏan được mở tại Ngân hàng Ngọai thương Việt nam Trung ương. - Tất cả các chi nhánh Ngân hàng Ngọai thương Việt nam chỉ hạch tóan chuyển thu vào tài khỏan tiền gửi qũy ngọai tệ Nhà nước không được hạch tóan chi, mọi khỏan chi đều được thực hiện ở Ngân hàng Ngọai thương Trung ương. Hàng ngày các chi nhành Ngân hàng Ngọai thương Việt nam phải điện báo và chuyển số thu ngọai tệ của Nhà nước về Ngân hàng Ngọai thương Trung ương vào tài khỏan "tiền gửi qũy ngọai tệ Nhà nước" và phân tích đưa vào các tiểu khỏan tương ứng của Bộ Tài chính tại Ngân hàng Ngọai thương Trung ương và hàng ngày gửi giấy báo "Có" cho Bộ Tài chính để theo dõi. B. ĐỐI VỚI NGỌAI TỆ TỰ DO CHUYỂN ĐỔI

  1. Các nguồn thu ngọai tệ Nhà nước được Ngân hàng Ngọai thương hạch tóan vào tài khỏan "tiền gửi qũy Ngọai tệ Nhà nước" bao gồm: - Tòan bộ doanh thu ngọai tệ do xuất khẩu, kinh doanh dịch vụ thu ngọai tệ được Nhà nước cân đối vật tư hàng hóa. - Ngọai tệ do các tổ chức kinh doanh XNK, kinh doanh dịch vụ thuộc các Bộ, ngành, địa phương thực hiện nghĩa vụ bán ngọai tệ cho Nhà nước. - Ngọai tệ do nước ngòai cho Nhà nước vay bằng tiền. - Ngọai tệ do nước ngòai viện trợ bằng tiền (bao gồm cả các khỏan viện trợ nhân đạo của các tổ chức quốc tế v.v...) - Các khỏan thu ngọai tệ về phi mậu dịch (kể cả việc mua ngọai tệ của các cơ quan đại diện và các tổ chức quốc tế và cá nhân thuộc các tổ chức quốc tế này thường trú tại Việt nam). - Các khỏan thu ngọai tệ về hợp tác lao động và chuyên gia. - Các khỏan thu ngọai tệ khác như: tiền nộp phạt, tiền phạm pháp bị công an, hải quan tịch thu đã được xử lý, tiền nộp thuế; nộp lệ phí của các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngòai tài Việt nam; tiền hoa hồng do các tổ chức kinh tế và công ty nước ngòai thanh tóan cho các tổ chức kinh tế Việt nam ...

  2. Quy định về quản lý chi từ tài khỏan "tiền gửi qũy ngọai tệ Nhà nước" Nguyên tắc chung trong việc quản lý chi ngọai tệ từ tài khỏan "tiền gửi qũy ngọai tệ Nhà nước" là căn cứ theo kế họach được Hội đồng Bộ trưởng xét duyệt. Bộ Tài chính thông báo hạn mức chi ngọai tệ hoặc cấp lệnh chi ngọai tệ từng lần cho các Bộ, ngành và địa phương a) Chi theo thông báo hạn mức: Ngân hàng Ngọai thương căn cứ vào hạn mức do Bộ Tài chính thông báo, thực hiện chi trong phạm vi hạn mức đó. Mỗi lần chi ngân hàng gửi giấy báo Nợ cho Bộ Tài chính, có ghi rõ số hạn mức chi do Bộ Tài chính đã duyệt.

b) Chi theo lệnh chi ngọai tệ từng lần:

Căn cứ vào lệnh chi do Bộ Tài chính duyệt Ngân hàng Ngọai thương thực hiện chi từng lần và gửi giấy báo Nợ cho Bộ Tài chính theo từng lần đó. Trước mắt, trong khi chưa triển khai được bộ máy quản lý của Bộ Tài chính tại các địa phương, tòan bộ việc chi ngọai tệ theo quy định tại điểm (a) và (b) nói trên đều thực hiện tập trung ở tài khỏan "tiền gửi qũy ngọai tệ Nhà nước" mở tại Ngân hàng Ngọai thương Trung ương. Tuy nhiên, để tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị được Nhà nước cáp ngọai tệ, Ngân hàng Ngọai thương Trung ương có thể căn cứ vào thông báo hạn mức chi ngọai tệ hoặc lệnh chi ngọai tệ của Bộ Tài chính, chuyển số ngọai tệ đã được Bộ Tài chính duyệt về các chi nhánh Ngân hàng trực thuộc để thực hiện việc chi cho các đơn vị.

c) Đối với các khỏan chi trả nợ nước ngòai (bao gồm trả nợ gốc và lãi - kể cả lãi quá hạn). Trên cơ sở kế họach trả nợ nước ngòai được Nhà nước duyệt, hàng qúy Bộ Tài chính và Ngân hàng Ngọai thương Trung ương thỏa thuận kế họach trả nợ cụ thể cho qúy đó, bao gồm trả nợ gốc và nợ lãi (kể cả lãi quá hạn). + Đối với khỏan trả nợ gốc cho các tư nhân hoặc cho các tổ chức quốc tế, Bộ Tài chính sẽ phát lệnh chi ngọai tệ từ tài khỏan tiền gửi qũy ngọai tệ Nhà nước để Ngân hàng Ngọai thương Trung ương chi trả nước ngòai. + Đối với khỏan trả nợ lãi (kể cả lãi quá hạn): do tính chất phức tạp của việc tính lãi phát sinh nên Bộ Tài chính và Ngân hàng Ngọai thương Trung ương cần lập kế họach cụ thể hàng qúy và dựa trên kế họach đã được thỏa thuận về các đối tường cần được trả lãi trong qúy, Ngân hàng Ngọai thương Trung ương được phép chi trả lãi từ tài khỏan "Tiền gửi qũy ngọai tệ Nhà nước", sau đó gửi giấy báo Nợ cho Bộ Tài chính để theo dõi.

  1. Về mua bán ngọai tệ và tỷ giá mua bán. - Trong tất cả các khỏan thu vào tài khỏan "tiền gửi qũy ngọai tệ Nhà nước" như quy định tại điều (2) nói trên, khỏan thu ngọai tệ do các tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu, kinh doanh dịch vụ của các Bộ, ngành, địa phương bán nghĩa vụ cho Nhà nước thì Bộ Tài chính chi tiền Việt nam để mua theo tỷ giá do Ngân hàng công bố. Tất cả các khỏan thu còn lại của điểm (2) Ngân hàng hạch tóan trực tiếp bằng nguyên tệ vào tài khỏan "tiền gửi qũy ngọai tệ Nhà nước". - Các tổ chức kinh doanh XNK, kinh doanh dịch vụ, các Bộ, ngành và địa phương được Bộ Tài chính cấp ngọai tệ để chi cho nhu cầu nhập khẩu vật tư, hàng hóa, chi cho họat động dịch vụ (nếu có), chi cho đòan ra công tác ở nước ngòai, kinh phí cho các cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngòai v.v... đều phải bảo tiền Việt nam theo tỷ giá do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm sử dụng ngọai tệ để mua số ngọai tệ được Bộ Tài chính cấp phát. - Để thuận tiện cho hệ thống Ngân hàng Ngọai thương trong việc tổ chức mua bán ngọai tệ của Nhà nước, việc mua bán ngọai tệ và hạch tóan được quy định như sau: + Bộ Tài chính mở tài khỏan "tiền gửi thanh tóan bằng đồng Việt Nam" tại Ngân hàng Ngọai thương Trung ương. Tài khỏan này được hạch tóan như sau: - Bên Có: Ghi số tiền Việt Nam thu được do bán ngọai tệ cho các Bộ, ngành, địa phương và số tiền Bộ Tài chính chuyển từ qũy Ngân sách vào tài khỏan để mua ngọai tệ. Để giúp Bộ Tài chính theo dõi được từng nguồn thu do bán ngọai tệ, Ngân hàng Ngọai thương ghi rõ trên chứng từ theo từng nội dung cụ thể như: bán ngọai tệ cho nhu cầu nhập khẩu, cho nhu cầu chi của các sứ quán ở nước ngòai, cho đòan đi công tác nước ngòai, cho các khỏan nộp niên liễm của các tổ chức kinh tế Việt nam cho các tổ chức kinh tế nước ngòai, cho nhu cầu thanh tóan dịch vụ v.v... Bên Nợ : Ghi số tiền cụ thể từng khỏan phải thanh tóan cho các Bộ, ngành, địa phương để mua số ngọai tệ mà các Bộ, ngành, địa phương bán nghĩa vụ cho Nhà nước. Để xử lý mâu thuẫn giữa việc tài khỏan chỉ mở tập trung ở Ngân hàng Ngọai thương Trung ương, trong khi đó phát sinh mua ngọai tệ lại xảy ra ở hầu hết các chi nhánh Ngân hàng ngọai thương, Bộ Tài chính và Ngân hàng Ngọai thương Trung ương thống nhất thực hiện như sau: Các chi nhánh Ngân hàng Ngọai thương được dùng vốn tín dụng để mua ngọai tệ về nghĩa vụ của các Bộ, ngành và địa phương rồi chuyển nó về cho Ngân hàng Ngọai thương, Ngân hàng Ngọai thương Trung ương ghi số ngọai tệ đã mua được vào tài khỏan "tiền gửi qũy ngọai tệ Nhà nước", đồng thời ghi Nợ vào tài khỏan "tiền qũy thanh tóan bằng đồng Việt Nam" số tiền Việt Nam tương ứng với số ngọai tệ đã mua để chuyển trả lại cho chi nhánh Ngân hàng Ngọai thương cơ sở. Về nguyên tắc tài khỏan "Tiền gửi thanh tóan bằng đồng Việt Nam" luôn dư "Có". Song trong trường hợp cần thiết tài khỏan này được phép dư Nợ tới mức 1 tỷ đồng trong thời hạn tối đa là 7 ngày, Số dư Có hoặc số dư Nợ của tài khỏan này đều được hưởng hoặc chịu lãi suất theo lãi suất Ngân hàng quy định.

  2. Về chế độ báo cáo Để Bộ Tài chính thường xuyên nắm được họat động thu chi trên các tài khỏan "tiền gửi qũy ngọai tệ Nhà nước và "tiền gửi qũy ngọai tệ Nhà nước và tài khỏan "tiền gửi thanh tóan bằng đồng Việt Nam". Bộ Tài chính trực tiếp nhận các chứng từ nói trên tại Ngân hàng Ngọai thương Trung cần - Tập trung hàng ngày và gửi cho Bộ Tài chính một liên chứng từ của Ngân hàng ghi "Nợ "và ghi "Có" của các tài khỏan "tiền gửi qũy ngọai tệ Nhà nước và tài khỏan", "tiền gửi thanh tóan bằng đồng Việt Nam". Bộ Tài chính trực tiếp nhận các chứng từ nói trên tại Ngân hàng Ngọai thương Trung ương. - Vào các ngày 10, 20, 30 hàng tháng gửi cho Bộ Tài chính bản sao kê sổ phụ về tình hình thu, chi các tài khỏan tiền gửi qũy Ngọai tệ Nhà nước và tài khỏan tiền gửi thanh tóan bằng đồng Việt Nam. - Hàng qúy gửi cho Bộ Tài chính báo cáo tổng hợp tình hình thực chi trả nợ nước ngòai theo kế họach trả nợ hàng qúy mà hai bên đã thỏa thuận. C. ĐỐI VỚI NGỌAI TỆ RÚP CHUYỂN NHƯỢNG Do tính chất hạn chế trong thanh tóan của RCN, do cơ chế thanh tóan đối ngọai tập trung và theo kế họach nên tòan bộ nguồn thu về RCN hạch tóan vào tài khỏan "tiền gửi qũy ngọai tệ Nhà nước" bằng RCN mở tại Ngân hàng Ngọai thương Trung ương. Tài khỏan này cũng hạch tóan nguyên tệ, không hạch tóan "đối giá" bằng đồng Việt Nam.

Chương I. QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ TÀI KHỎAN "TIỀN GỬI QŨY NGỌAI TỆ NHÀ NƯỚC"BẰNG RÚP CHUYỂN NHƯỢNG 1/ Các nguồn thu ngọai tệ RCN được hạch tóan vào tài khỏan "tiền gửi qũy ngọai tệ Nhà nước" bằng RCN bao gồm: - Khỏan ngọai tệ của các ngành kinh doanh XNK và dịch vụ không được cân đối vật tư nhưng được Nhà nước thanh tóan bằng tiền Việt nam theo tỷ giá do Nhà nước công bố. - Tòan bộ doanh thu ngọai tệ do xuất khẩu hàng hóa, kinh doanh dịch vụ của các Bộ, ngành, địa phương sang khu vực XHCN (thanh tóan tập trung qua Ngân hàng hợp tác kinh tế quốc tế (MBES) được Nhà nước cân đối vật tư. - Tòan bộ khỏan vay kỳ hạn của MBES. - Tòan bộ khỏan vay nợ, viện trợ ký kết tay đôi giĩa hai Chính phủ được thanh tóan qua MBES. - Số dư tài khỏan PMD được chuyển vào tài khỏan tiền gửi qũy ngọai tệ Nhà nước bằng RCN. Những khỏan thu nói trên Ngân hàng đều hạch tóan nguyên tệ bàng RCN vào tài khỏan tiền gửi qũy ngọai tệ Nhà nước bằng RCN và gửi cho Bộ Tài chính giấy "báo Có" ghi cụ thể nguồn thu ngọai tệ do xuất khẩu, do kinh doanh dịch vụ, do vay nợ, viện trợ.v.v... để theo dõi. Riêng "báo Có" về hàng xuất khẩu, kinh doanh dịch vụ Ngân hàng phải đồng gửi giấy sao báo Có đó cho tổ chức xuất khẩu hay dịch vụ để các tổ chức đó theo dõi doanh thu của mình. Các tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu và kinh doanh dịch vụ đều phải mở tài khỏan ngọai tệ để theo dõi kết quả kinh doanh của mình. Tài khỏan này hạch tóan như sau: Bên Có: hạch tóan doanh thu do xuất khẩu hoặc kinh doanh dịch vụ

Căn cứ để ghi vào tài khỏan này là các tờ sao "báo có" về việc nước ngòai đã thanh tóan tiền gửi hàng xuất khẩu hoặc dịch vụ của Ngân hàng Ngọai thương gửi đến. Bên Nợ : hạch tóan trị giá vật tư nhập khẩu được Nhà nước trả đối với những đơn vị áp dụng cơ chế cân đối vật tư trong số 410 triệu RCN của năm 1989.

Căn cứ đẻ ghi vào tài khỏan này là giấy 'báo nợ" bằng ngọai tệ của số vật tư hàng hóa mà các tổ chức nhập khẩu đã giao (theo cơ chế cân đối 410 triệu RCN cho thu mua hàng XK của năm 1989) Hàng qúy yêu cầu các tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu và dịch vụ gửi báo cáo quyết tóan tài khỏan nói trên cho Bộ Tài chính và Ủy ban kế họach Nhà nước. Báo cáo quyết tóan cần thể hiện rõ các nội dung sau: - Tỷ lệ phần trăm (%) đơn vị nhận vật tư trên doanh thu xuất khẩu do Bộ chủ quản quy định để thu mua hàng xuất khẩu. - Tổng doanh thu xuất khẩu (phát sinh bên có của tài khỏan). - Trị giá vật tư đã nhận (phát sinh bên nợ của tài khỏan). Ví dụ: Tổng công ty xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ (Bộ Kinh tế đối ngọai) được Bộ Kinh tế đối ngọai cân đối 90% vật tư để thu mua hàng xuất khẩu. Tài khỏan ngọai tệ của Tổng công ty tính từ 01/1/1989 đến 31/3/1989 như sau: Phát sinh bên có: 10 triệu RCN. Phát sinh bên nợ: 7 triệu RCN. Như vậy nếu theo định mức cân đối vật tư 90% thì Tổng Công ty xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ phải được nhận vật tư là 9 triệu RCN (10 triệu RCN x 90%). Nhưng thực tế Tổng công ty mới nhận 7 triệu RCN, như vậy Nhà nước (UBKHNN) còn nợ Tổng công ty 2 triệu RCN bằng vật tư. Đối với các đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu và kinhdoanh dịch vụ có xuất khẩu hoặc làm dịch vụ cho khu vực XHCN mà không được Nhà nước cân đối vật tư (như xuất khẩu ngòai nghị định thu, xuất vượt kế họach, tiền công trong gia công ...) thì tòan bộ doanh thu ngọai tệ của mình (thể hiện bằng tòan bộ sô phát sinh "bên Có" của tài khỏan nói trên). Số ngọai tệ này sẽ được Nhà nuơúc mua lại một phần hoặc tòan bộ bằng tiền Việt nam hoặc chỉ mua lại một phần bằng tiền Việt nam phần còn lại sẽ trả lại cho đơn vị bằng vật tư, hàng hóa. Trường hợp số ngọai tệ được xác định thanh tóan bằng tiền sẽ thực hiện theo tỷ giá do Nhà nước quy định. 2/ Quy định về các khỏan chi từ tài khỏan tiền gửi qũy ngọai tệ Nhà nước bằng RCN. - Nội dung chi ngọai tệ từ TK "tiền gửi" qũy ngọai tệ Nhà nước bằng RCN bao gồm: + Chi trả tiền nhập khẩu. + Bồi thường một phần hay tòan bộ tiền hàng xuất khẩu do người mua khiếu nại. + Trả tiền vay kỳ hạn của ngân hàng MBES. + Chi trả tièn lãi suất tiền vay. + Chi chuyển sang tài khỏan phi mậu dịch. - Do tính chất "tự động "trong thanh tóan MBES, căn cứ vào Telex của MBES báo lô hàng mà ta phải thanh tóan ngân hàng Ngọai thương thực hiện rồi ghi Nợ vào tài khỏan tiền gửi qũy ngọai tệ Nhà nước bằng RCN và báo cho Bộ Tài chính biết. Giấy "báo Nợ" gửi Bộ Tài chính cần được ghi rõ: + Chi trả tiền hàng nhập khẩu cho tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu . + Chi bồi thường hàng xuất khẩu cho tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu. + Chi trả nợ . + Chi trả lãi suất. + Trích chuyển từ tài khỏan tiền gửi qũy ngọai tệ Nhà nước bằng RCN sang tài khỏan phi mậu dịch để chi tiêu.

Chương II. QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ TÀI KHỎAN THANH TÓAN RÚP CLEARING. 1/ Tài khỏan rúp Clearing song biên áp dụng trong thanh tóan mậu dịch Trong trường hợp áp dụng phương thưc thanh tóan Clearing song biên, ngọai tệ phát sinh được ghi "Có" và ghi "Nợ" vào tài khỏan Clearing của Nhà nước. Cơ chế quản lý và thanh tóan áp dụng như đối với ngọai tệ RCN thanh tóan đã biên qua Ngân hàng MBES. 2/ Tài khỏan tiền gửi của Nhà nước về phi mậu dịch a) Mở tài khỏan: Bộ Tài chính mở tài khỏan tổng hợp tại Ngân hàng Ngọai thương Trung ương để quản lý mọi họat động thu chi phi mậu dịch giưã Việt nam với tất cả các nước XHCN theo Hiệp định về thanh tóan phi mậu dịch hiện hành. Tài khỏan "Tiền gửi ngọai tệ phi mậu dịch "của Bộ Tài chính đựơc hạch tóan như sau: - Bên Có: Phản ánh tòan bộ các nguồn thu về phi mậu dịch, kể cả nguồn ngọai tệ trích từ tài khỏan tiền gửi qũy ngọai tệ bằng RCN chuyển sang. Bên Nợ: Ghi tòan bộ các khỏan chi ngọai tệ phi mậu dịch theo lệnh chi của Bộ Tài chính (Bộ Tài chính cấp lệnh chi ngọai tệ phi mậu dịch dựa theo kế họach chi ngọai tệ phi mậu dịch hàng năm được Hội đồng Bộ trưởng duyệt).

b) Các đơn vị trong nước được Bộ Tài chính cấp lệnh chi ngọai tệ phi mậu dịch đều phải chuyển tiền Việt nam để mua số ngọai tệ được cấp theo tỷ gía mậu dịch được thỏa thuận với nước ngòai. Khi thực hiện nghiệp vụ này, Ngân hàng Ngọai thương gửi cho Bộ Tài chính một giấy "Báo Nợ" về việc đã rút tiền từ tài khỏan tiền gửi ngọai tệ phi mậu dịch và một giấy "báo Có" về việc đơn vị trong nước trả tiền mua ngọai tệ đó. Số tiền Việt nam thu được Ngân hàng Ngọai thương chuyển nộp vào tài khỏan "Tiền gửi thanh tóan bằng đồng Việt Nam" của Bộ Tài chính tại Ngân hàng Ngọai thương Trung ương.

c) Để đảm bảo thuận tiện trong quan hệ thanh tóan giữa Việt Nam với một trong các nước tham gia Hiệp định thanh tóan phi mậu dịch và với các nước thanh tóan phi mậu dịch song biên với ta, Ngân hàng Ngọai thương Trung ương sẽ mở tài khỏan thanh tóan phi mậu dịch với từng nước có quan hệ thanh tóan phi mậu dịch với Việt Nam để theo dõi họat động thu chi này. Số tiền được chuyển vào tài khỏan phi mậu dịch của Nhà nước ta ở các nước để sử dụng, Ngân hàng Ngọai thương sẽ thực hiện theo lệnh chi của Bộ Tài chính. Cuối năm, khi quyết tóan tài khỏan tổng hợp tiền gửi ngọai tệ phi mậu dịch, Bộ Tài chính sẽ trao đổi cụ thể với Ngân hàng về biện pháp xử lý trong trường hợp tài khỏan này có số "dư nợ" hoặc "dự có". Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1989. Trong quá trình thực hiện, nếu còn vướng mắc, Ngân hàng và các Tổng Công ty kinh doanh xuất nhập khẩu và dịch vụ sẽ trao đổi với Bộ Tài chính để bổ sung kịp thời./. BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH (Đã ký) Hòang Quy

Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/thong-tu-so-07-tc-tcdn-huong-dan-viec-quan-ly-va-dieu-hanh-quy-ngoai-te-tap-trung-cua-nha-nuoc--82446.

Dịch vụ liên quan

Văn bản liên quan