Thông tư số 43/CTTC/TCĐN Hướng dẫn việc thanh toán và thu nộp ngân sách nhà nước hàng nhập khẩu theo QĐ số của Chủ tịch HĐBT
- Số hiệu
- 43/CT
- Loại văn bản
- Thông tư
- Cơ quan ban hành
- Bộ Tài chính
- Ngày ban hành
- 18/04/1989
- Lĩnh vực
- Quản lý ngân sách nhà nước
Toàn văn
BỘ TÀI CHÍNH ___________ Số : 08 TC/TCĐN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc _____________________ Hà Nội, ngày 18 tháng 4 năm 1989
THÔNG TƯ
Hướng dẫn việc thanh tóan và thu nộp ngân sách nhà nước hàng nhập khẩu theo QĐ số 43/CT ngày 3/3/1989 của Chủ tịch HĐBT _________________________ Chủ tịch HĐBT đã có quyết định số 43/CT ngày 3/3/1989 về xóa bỏ tỷ giá kết tóan nội bộ và quy định việc hạch tóan, thanh tóan, quyết tóan vật tư nhập khẩu theo cơ chế giá trong nước. Bộ Tài chính hướng dẫn việc thanh tóan và thu nộp ngân sách tiền thiết bị vật tư hàng hóa nhập khẩu (dưới đây gọi tắt là vật tư nhập khẩu) theo tinh thần quyết định của HĐBT nói trên như sau: I. THANH TÓAN VÀ THU NỘP NGÂN SÁCH TIỀN VẬT TƯ NHẬP KHẨU TỪ KHU VỰC I BẰNG NGUỒN VỐN NGỌAI TỆ TẬP TRUNG CỦA NHÀ NƯỚC 1/ Tổng số hàng nhập khẩu từ các nước XHCN về trong năm 1989 được trừ các khỏan vật tư nhập khẩu dưới đây khi xác định nguồn thu cho ngân sách Nhà nước: - Số vật tư nhập khẩu Nhà nước dành cân đối cho các ngành hàng xuất khẩu để tự cân đối về tài chính. - Số vật tư nhập khẩu của các ngành hàng thực hiện các hiệp định hợp tác kinh tế đối với các nước Bạn như các hiệp định về hợp tác kinh doanh cao su, chè, cà phê v.v... - Số vật tư nhập khẩu Nhà nước dành làm nguồn bán cho các ngành, các địa phương để thu ngọai tệ mạnh (bán thu Đô la). - Số vật tư nhập khẩu Nhà nước dành để trả nợ quyền sử dụng ngọai tệ cho địa phương (nếu còn). - Số vật tư nhập khẩu còn lại thuộc nguồn thu của ngân sách Nhà nước. Khi nhập các lọai vật tư bằng nguồn vốn ngọai tệ tập trung của Nhà nước, các tổ chức nhập khẩu (kể cả tổ chức vừa làm nhiệm vụ nhập khẩu trực tiếp, vừa làm nhiệm vu cung ứng trong nước), không phải vay vốn bằng tiền Việt nam để thanh tóan số ngọai tệ đó với Ngân hàng Ngọai thương Việt nam theo tỷ giá kết tóan nội bộ nữa. Bộ Tài chính và Bộ chủ quản căn cứ vào chỉ tiêu hàng về, chỉ tiêu thu mua xuất khẩu (kể cả hợp tác, gia công, vật tư bán thu đô la...) để xác định nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước của các Tổng công ty, Công ty nhập khẩu (dưới đây gọi tắt là tổ chức nhập khẩu) trong năm kế họach. 2- Gía cả để thanh tóan vật tư nhập khẩu giữa tổ chức nhập khẩu với chủ hàng trong nước (kể cả tổ chức vừa làm nhiệm vụ nhập khẩu trực tiếp, vừa làm nhiệm vụ cung ứng trong nước) áp dụng theo cơ chế giá bán hàng nhập quy định tại các văn bản của Ủy ban Vật giá Nhà nước. Riêng đối với một số vật tư nhập khẩu còn bán trong nước theo 2 giá "cứng"và "mềm" thì chủ hàng trong nước thanh tóan tiền hàng cho tổ chức nhập khẩu căn cứ vào tỷ lệ vật tư bán giá "cứng" và giá "mềm" mà đơn vị đã được duyệt theo kế họach để xác định. 3- Để các đơn vị chủ hàng trong nước nhận hàng nhập khẩu có thể chủ động về vốn liếng trong quan hệ thanh tóan với tổ chức nhập khẩu, tránh tình trạng bị ứ đọng vật tư, gây ách tắc vốn ,các chủ hàng trong nước căn cứ vào chỉ tiêu thông báo nhận hàng nhập khẩu của Ủy ban Kế họach Nhà nước ký kết ngay hợp đồng với các tổ chức nhập khẩu. Nếu việc ký kết ngay hợp đồng với các tổ chức nhập khẩu. Nếu việc ký kết này không bảo đảm các yêu cầu về số lươg, chất lượng, giá cả, thời gian hàng về thì đơn vị đặt hàng có thể báo cáo lại với Ủy ban Kế họach Nhà nước, Bộ Tài chính và Bộ chủ quản xin điều chỉnh chỉ tiêu nhập khẩu hoặc đề nghị tổ chức nhập khẩu đàm phán lại vơi Bạn trong việc ký hợp đồng nhằm đáp ứng thảo đáng yêu cầu hợp lý của chủ hàng trong nước nhận hàng nhập khẩu phải có trách nhiệm chuẩn bị vốn trong nuơúc để trả tièn hàng cho tổ chức nhập khẩu ngay sau khi đơn vị chủ hàng trong nước nhận được hàng tại cảng và đã ký vào lệnh giao hàng. 4- Để đảm bảo việc thu nộp cho Ngân sách Nhà nước được đầy đủ và kịp thời, trình tự và thru tục thanh tóan quy định như sau:
a) Khi Ngân hàng Ngọai thương Việt nam nhận được bộ chứng từ đòi tiền của người bán hàng nước ngòai, sau khi kiểm tra đối chiếu nếu thấy hợp lệ thì Ngân hàng Ngọai thương ghi Nơ qúy ngọai tệ tập trung của Nhà nước và thông báo cho Bộ Tài chính biết; đồng gửi giấy báo "Nợ"đó bằng ngọai tệ cho tổ chức nhập khẩu để đơn vị này làm tiếp các thủ tục phục vụ cho việc thanh tóan đối ngọai và đối nội. Kèm theo bộ chứng từ đòi tiền bán hàng gửi cho chủ hàng trong nước nhận hàng nhập khẩu, tổ chức nhập khẩu phải lập bảng phân tích rõ tiền bán hàng, thặng số ngọai thương, số thuế nhập khẩu (nếu có) để Ngân hàng hạch tóan cụ thể từng khỏan thu bằng tiền Việt nam vào tài khỏan của Bộ Tài chính (TK theo dõi số thu hàng nhập khẩu) và tài khỏan của tổ chức nhập khẩu.
b) Chủ hàng trong nước (kể cả tổ chức vừa làm nhiệm vụ nhập khẩu trực tiếp, vừa làm nhiệm vụ cung ứng trong nước) khi nhận được bộ chứng từ đòi tiền bán hàng của tổ chức nhập khẩu do Ngân hàng phục vụ mình chuyển đến, nếu kiểm tra thấy hợp lệ thì dùng vốn tự có (nếu thiếu thì vay Ngân hàng) để chuyển Việt nam thanh tóan cho tổ chức nhập khẩu. Trường hợp đột xuất, chủ hàng trong nước phải nhận hàng nhập khẩu ngòai hợp đồng ký với tổ chức nhập khẩu thì chủ hàng trong nước phải báo cáo Bộ Tài chính để có biện pháp xử lý thích hợp. Trong thời hạng 15 ngày kể từ ngày ký vào lệnh giao hàng chủ hàng trong nước phải thanh tóan xong tòan bộ tiền hàng cho tổ chức nhập khẩu. Nếu quá thời hạn nói trên mà chủ hàng trong nước không trả tiền mua hàng cho tổ chức nhập khẩu thì cứ mỗi ngày quá hạn đơn vị phải chịu phạt theo mức lãi suât tiền vay do Ngân hàng quy định tính trên gía trị của tiền hàng phải trả. Nếu quá 30 ngày kể từ ngày chủ hàng trong nước ký vào lệnh giao hàng mà vẫn không trả tiền mua hàng thì tổ chức nhập khẩu phải báo cáo Bộ Tài chính để trong trường hợp cần thiết có thể ra lệnh thu bắt buộc (kể cả tiền phạt chậm nộp tính theo lãi suất tiền vay Ngân hàng) đối với chủ hàng trong nước; đồng thời tổ chức nhập khẩu có thể kiến nghị Nhà nước cho phép có quyền đình chỉ việc giao hàng tiếp cho chủ hàng trong nước đó và được phép bán số hàng (đáng ra phải giao tiếp) cho các đơn vị khác (theo gía mềm) có khả năng thanh tóan đúng kỳ hạn và nộp ngay cho Ngân sách Nhà nước.
c) Khi Ngân hàng Ngọai thương nhận được tiền hàng nhập khẩu do chủ hàng trong nước trả cho tổ chức nhập khẩu thì Ngân hàng Ngọai thương ghi thu cho Ngân sách Nhà nước số tiền hàng sau khi đã trừ thặng số ngọai thương và thuế nhập khẩu (nếu mặt hàng có chịu thuế); đồng thời ghi thu vào tài khỏan của tổ chức nhập khẩu tiền thuế nhập khẩu (nếu có) và thặng số ngọai thương. Tổ chức nhập khẩu được tam giữ lại thặng số ngọai thương để bù đắp chi phí phát sinh trong quá trình nhập khẩu và giao nhận hàng nhập khẩu. Bộ Tài chính và Bộ chủ quản sẽ quy định chế độ sử dụng thặng số này trong kế họach tài chính hàng năm của đơn vị. II. THANH TÓAN VÀ THU NỘP NGÂN SÁCH TIỀN VẬT TƯ, NHẬP KHẨU TỪ KHU VỰC II THEO CHỈ TIÊU KẾ HỌACH NHÀ NƯỚC - Trường hợp các chủ hàng trong nước được phân chỉ tiêu nhập vật tư nhập khẩu từ khu vực II bằng nguồn vốn của qũy ngọai tệ tập trung của Nhà nước hoặc vốn ngọai tệ Nhà nước vay của nước ngòai thì khi tổ chức nhập khẩu mở LC, chủ hàng trong nước phải dùng vốn bằng tiền Việt nam để mua số ngọai tệ của Nhà nước theo tỷ giá Ngân hàng Nhà nước công bố, Ngân hàn Ngọai thương sẽ hạch tóan số tiền Việt nam mà các đơn vị mua ngọai tệ vào tài khỏan 720 "Tiền gửi bằng đồng Việt nam "của Bộ Tài chính mở tại Ngân hàng Ngọai thường Trung wg. Quan hệ giưã tổ chức nhập khẩu và chủ hàng trong nước là quan hệ nhập khẩu ủy thác nên tô chức nhập khẩu sẽ thu thặng số ngọai thương đối với chủ hàng trong nước. Nếu mặt hàng nhập khẩu nằm trong diện phải nộp thuế nhập khẩu thì khi hàng về tổ chức nhập khẩu sẽ báo trước cho chủ hàng trong nước số tiền thuế phải nộp để chủ hàng trong nước chuyển tiền nộp thuế nhập khẩu. - Trường hợp chủ hàng trong nước được phân chỉ tiêu nhận vật tư do các tổ chức nhập khẩu vay mua chịu hộ cho Nhà nước: + Nếu chứng từ báo nợ của nước ngòai gửi về, thì sau khi nhận được báo nợ của Ngân hàng Ngọai thương về sô tiền đã vay của tổ chức hoặc thương nhân nước ngòai, tổ chức nhập khẩu thông báo ngay cho chủ hàng trong nước để chuyển tiền Việt nam mua lại số ngọai tệ ghi trên báo nợ đó theo tỷ giá Ngân hàng Nhà nước công bố. Trong thời hạn 15 ngày , (căn cứ vào dấu Bưu điện) kể từ ngày nhận được thông báo của tổ chức nhập khẩu, chủ hàng trong nước phải thanh tóan xong tiền mua lại số ngọai tệ trên. Ngân hàng Ngọai thương hạch tóan số tiền mà chủ hàng trong nước đã mua lại ngọai tệ vào tài khỏan 720 "Tiền gửi bằng đồng Việt nam" của Bộ Tài chính gửi tại Ngân hàng Ngọai thương Trung ương. Nếu quá thời hạn trên mà chủ hàng trong nước không chuyển tiền mua ngọai tệ thì tổ chức nhập khẩu báo cho Bộ Tài chính biết; đồng thời tổ chức nhập khẩu có thể kiến nghị Nhà nước cho phép được bán số hàng trên cho đơn vị khác (theo giá mềm) có khả năng thanh tóan đúng kỳ hạn và nộp ngay cho ngân sách Nhà nước. + Trong trường hợp hàng về trước chứng từ báo nợ của nước ngòai thì thủ tục thanh tóan hàng nhập giữa tổ chức nhập khẩu và chủ hàng trong nước cũng như thủ tục nộp ngân sách Nhà nước tiền bán hàng nhập khẩu được thực hiện như đối với hàng nhập khẩu từ khu vực I đã nêu ở trên. Quan hệ giữa tổ chức nhập khẩu và chủ hàng trong nước là quan hệ nhập khẩu ủy thác nên tổ chức nhập khẩu sẽ thu phí ngọai thương đối với chủ hàng trong nước. Nếu mặt hàng nhập khẩu nằm trong diện phải nộp thuế nhập khẩu thì khi hàng về tổ chức nhập khẩu sẽ báo trước cho chủ hàng trong nước số tiền thuế phải nộp để chủ hàng trong nước chuyển tiền nộp thuế nhập khẩu. - Trường hợp chủ hàng trong nước được phân chỉ tiêu nhận vật tư nhập khẩu do tổ chứcnhập khẩu dùng vốn viện trợ vay nợ bằng hàng hóa của Nhà nước, thì thủ tục thanh tóan hàng nhập giưã tổ chức nhập khẩu và chủ hàng trong nước cũng như thủ tục nộp ngân sách Nhà nươc, tiền bán hàng nhập khẩu được thực hiện như đối với hàng nhập khẩu từ khu vực I đã nêu ở trên. III. THANH TÓAN HÀNG NHẬP VỀ GIAO CHO BỘ NGÀNH HÀNG THU MUA, SẢN XUẤT , GIA CÔNG HÀNG NHẬP KHẨU Đối với Bộ, ngành hàng được nhận vật tư để thu mua hàng xuất khẩu, kể cả hợp tác, gia công thì được nhận hàng tính theo nguyên tệ như thông tư số 02 ngày 03/2/1989 của Liên Bộ UBKHNN-KTĐN.Đơn vị nhận hàng chỉ thanh tóan với tổ chức nhập khẩu về thặng số ngọai thương và thuế nhập khẩu (nếu có). IV. ĐIỀU KHỎAN THI HÀNH 1- Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/1/1989. Để bảo đảm việc hạch tóan và thanh tóan từ 01/1/1989 đến 3/1989 giữa Ngân sách, đơn vị, Ngân hàng đỡ phức tạp, Bộ Tài chính và Ngân hàng cùng các tổ chức XNK sẽ tổ chức quyết tóan tay ba theo nguyên tắc sau:
a) Đối với số hàng nhập khẩu mà các tổ chức nhập khẩu đã nhận nợ với ngân hàng trước ngày 31/12/1988, việc trả nợ vay Ngân hàng Ngọai thương cũng như việc thu nộp ngân sách Nhà nước vẫn được thực hiện theo cơ chế cũ (không phân biệt hàng về 1988 hay 1989).
b) Đối với số hàng nhập khẩu mà các tổ chức nhập khẩu đã nhận nợ với Ngân hàng ngọai thương từ 01/1/1989 đến 15/3/1989, việc thanh tóan thu nộp ngân sách Nhà nước được thực hiện theo cơ chế mới quy định trong thông tư này. Những lô hàng nhập khẩu về từ 01/1/1989 đến nay mà các tổ chức nhập khẩu đã nhận nợ với Ngân hàng và đã trả được nợ Ngân hàng thì Ngân hàng phải thóai lại tòan bộ số nợ đã thu cho đơn vị để đơn vị nộp Ngân sách Trung ương. Đối với những khỏan nợ mà Tổng Công ty chưa trả được Ngân hàng thì Tổng Công ty có trách nhiệm nộp trực tiếp cho Ngân sách và được xóa nợ với Ngân hàng. 2- Đối với các Tổng Công ty xuất khẩu thực hiện chỉ tiêu xuất khẩu của Trung ương năm 1988 mà chưa được ngân sách trợ cấp xuất khẩu nên còn nợ tiền vay thu mua hàng xuất khẩu của Ngân hàng thì khi có nguồn Bộ Tài chính sẽ giải quyết cấp bù để Tổng Công ty trả nợ tiền vay Ngân hàng. 3- Đối với các Tổng công ty xuất khẩu thực hiện chỉ tiêu xuất khẩu của Trung ương năm 1989 và được cân đối vật tư trong 410 triệu Rúp, có vay thu mua hàng xuất khẩu và được Ngân hàng trả tiền Việt nam đổi giá cho kim ngạch đã xuất khẩu trong 2 tháng 15 ngày đầu năm 1989, các Tổng Công ty xuất khẩu phải lấy tiền bán vật tư do Nhà nước cân đối để trả nợ phần vốn đã vay của Ngân hàng và phần tiền Việt nam đổi giá kim ngạch xuất khẩu qúy I/1989 mà Ngân hàng đã trả cho tổ chức xuất khẩu. 4- Ngân hàng ngọai thương Việt nam sẽ mở cho Bộ Tài chính tài khỏan theo dõi riêng số thu nhập bằng tiền Việt nam và định kỳ 1 tuần có trách nhiệm chuyển nộp số thu hàng nhậ vào ngân sách Trung ương (lọai 14 khỏan 1 hạng 4 mục 4 theo mục lục ngân sách Nhà nước hiện hành). 5- Việc thanh tóan và hạch tóan các khỏan có liên quan đến đồng RCN, vật tư trả quyền sử dụng ngọai tệ, vật tư bán thu Đô la, Bộ Tài chính sẽ có thông tư hướng dẫn riêng. Trong quá trình thực hiện, nếu có gì khó khăn, vướng mắc đề nghị các Bộ, các ngành, các địa phương và các Tổng Công ty xuất nhập khẩu phản ánh ngay cho Bộ Tài chính biết để nghiên cứu xử lý thích hợp./.
Nơi nhận: -VP HĐBT -VP Trung ương Đảng -Các Bộ, TC, UBNN và các cơ quan Đảng, đòan thể ở Trung ương -Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương -Sở TC các tỉnh, thành phố, đặc khu -NHNN các tỉnh, thành phố, đặc khu. - Các Tổng Công ty, Công ty XNK.TW - Các Cục, Vụ, Viện, Công ty,các trường thuộc Bộ - Lưu;VP (A + B) , Vụ TCĐN và QLNT. BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH (Đã ký) Hòang Quy
Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/thong-tu-so-08-tc-tcdn-huong-dan-viec-thanh-toan-va-thu-nop-ngan-sach-nha-nuoc-hang-nhap-khau-theo-qd-so-43-ct-ngay-3-3-1989-cua-chu-tich-hdbt--80203.
Dịch vụ liên quan
Văn bản liên quan
- Quy định về lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm hoạt động giám sát, phản biện xã hội cúa Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội
- BTC-BKHĐT Hướng dẫn quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước chi thực hiện các dự án thuộc Đề án tổng thể về điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên - môi trường biển đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020
- Hướng dẫn công tác lập dự toán, quản lý, cấp phát, thanh toán, quyết toán nguồn vốn hỗ trợ hộ nghèo xây dựng nhà ở phòng, tránh bão, lụt khu vực miền Trung theo của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ nghèo xây dựng nhà ở phòng, tránh báo, lụt khu vực miền Trung
- Về phân bổ ngân sách Trung ương năm 2015
- Về dự toán ngân sách nhà nước năm 2015
- Quy định việc quản lý, sử dụng kinh phí thực hiện Đề án thông tin, tuyên truyền về số hóa truyền dẫn, phát sóng truyền hình mặt đất
- Quy định quản lý và sử dụng nguồn ngân sách nhà nước hỗ trợ khám, điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế
- Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị quyết của Quốc hội về một số giải pháp thực hiện ngân sách nhà nước năm 2013, 2014