Chỉ thị số 15-LS/CNRVề công tác xây dựng phương án điều chế rừng đơn giản cho các lâm trường

Số hiệu
15-LS/CNR
Loại văn bản
Chỉ thị
Cơ quan ban hành
Bộ Lâm nghiệp
Ngày ban hành
19/07/1989

Toàn văn

BỘ LÂM NGHIỆP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số: 15-LS/CNR

Hà Nội, n gày 19 tháng 7 năm 1989 CHỈ THỊ CỦA BỘ LÂM NGHIỆP SỐ 15/LS-CNR NGÀY 19 THÁNG 7 NĂM 1989 VỀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG PHƯƠNG ÁN ĐIỀU CHẾ RỪNG ĐƠN GIẢN CHO CÁC LÂM TRƯỜNG Chương trình điều chế rừng, một trong bốn chương trình mục tiêu của ngành Lâm nghiệp đã khởi động và hòan thành được những công việc quan trọng của giai đọan xây dựng các tiền đề điều chế: Phân công phân cấp quản lý rừng, phân chia 3 lọai rừng, ban hành các qui chế sử dụng rừng, quy phạm kỹ thuật lâm sinh ... Giai đọan tiếp theo là xây dựng cho mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh rừng một phương án điều chế rừng chính thức, nhưng công việc này đòi hỏi nhiều thời gian và chi phí. Để khắc phục khó khăn trên, Bộ ban hành bản quy định xây dựng phương án điều chế rừng đơn giản để các lâm trường có thể tự xây dựng và nhanh chóng có một phương án tổ chức rừng đảm bảo được nguyên tắc cao nhất là sản xuất lâu dài, liên tục trên cơ sở ổn định vốn rừng, sử dụng hợp lý tài nguyên, có lịch tác nghiệp cụ thể, dễ điều hành, dễ thực thi. Các đơn vị chuyên trách điều tra qui họach rừng ở các vùng huy động khả năng thực hiện các bước công việc đặc thù (đồ bản, phân chia ranh giới, cung cấp tư liệu) giúp các lâm trường xây dựng nhanh phương án điều chế rừng đơn giản Các lâm trường tập trung làm dứt điểm trong năm 1989-90 để từ 1991 tất cả các kế họach tác nghiệp lâm sinh được xây dụng, duyệt và kiểm tra đều căn cứ vào phương án điều chế rừng đơn giản của mỗi đơn vị. BẢN QUI ĐỊNH XÂY DỰNG PHƯƠNG ÁN ĐIỀU CHẾ RỪNG ĐƠN GIẢN CHƯƠNG MỘT ĐIỀU KHỎAN CHUNG

  1. Phương án điều chế rừng đơn giản quy định trong văn bản này chỉ xây dựng được trên 1 tiền đề đã hòan chỉnh, đó là: 1.1. Các bước thủ tục phân công cấp quản lý rừng từ tỉnh đến huyện đã thực hiện xong. 1.2. Các lâm trường đã được giao rừng để làm chủ và tổ chức sản xuất kinh doanh gọn trong một số tiền khu đã giải thửa.

  2. Văn bản này qui định những biện pháp đơn giản để các lâm trường, với tài liệu sẵn có, với cán bộ kỹ thuật của mình, và một ít chi phí tài chính, lao động, có thể tự xây dựng phương án điều chế cho đơn vị mình.

  3. Bản phương án xây dựng nhằm đảm bảo đựoc các mục đích sau: 3.1. Làm cơ sở cho việc quản lý kinh doanh lâu dài, và liên tục trên tòan địa bàn. 3.2. Vạch ra đựoc một chương trình họat động cho một chu kỳ hoặc một luân kỳ kinh doanh. 3.3 Vạch ra chương trình tác nghiệp cho một giai đọan 5 hoặc 10 năm. 3.4. Làm căn cứ để xây dựng kế họach sản xuất hàng năm. 3.5. Phương án do giám đốc và cán bộ kỹ thuật của lâm trường tự xây dựng không cầu tòan, không tốn kém, chủ yếu dựa vào tài liệu và những quy luật khoa học đã biết và những thông tin khoa học kỹ thuật sẵn có. 3.6. Độ chính xác của phương án không yêu cầu cao nhưng phải đề xuất được phương hướng đúng, các giải pháp thực thi có hiệu quả. Phương án sẽ được hòan chỉnh dần trong quá trình sản xuất cho đến khi xây dựng được phương án chính thức.

  4. Kế họach hàng năm được xây dựng trên cơ sở phương án điều chế và khi thực thi, phải tiến hành thiết kế cụ thể (thiết kế sản xuất). CHƯƠNG HAI THU THẬP TÀI LIỆU CƠ BẢN Mục I. Để phục vụ cho xây dựng phương án điều chế sơ bộ cho một lâm trường, cần có ít nhất những tài liệu cơ bản sau đây:

  5. Bản đồ:

  6. Tỷ lệ của bản đồ nền nhỏ nhất là: 1: 25.000 1.

  7. Bản đồ thể hiện được vị trí địa lý, ranh giới hành chính, hệ thống đường, sông suối chính, các khu dân cư và phản ảnh được địa hình.

  8. Bản đồ thê hiện được hiện trạng rừng và đất đai.

  9. Tài nguyên:

  10. Số liệu diện tích đã qui họach cho các lọai rừng đặc dụng, rừng phòng hộ trong địa bàn.

  11. Số liệu phân bổ đất đai: Các lọai đất rừng, đất sản xuất nông nghiệp (ruộng nước, vườn, nương rẫy, sông hồ).

  12. Số liệu diện tích và trữ lượng sản lượng các lọai rừng phân theo đối tượng. - Làm giàu - Nuôi dưỡng - Khai thác tái sinh - Đất dành để trồng rừng - Bảo vệ và khoanh nuôi phục hồi 2.

  13. Tình hình hiện tại và khả năng kinh doanh cây, con đặc sản.

  14. Một số quy luật lâm sinh và những thông số cơ bản về:

  15. Tăng trưởng quần thể.

  16. Cấu trúc định hướng (đồng tuổi hay khác tuổi, hạt hay chồi, chặt chọn hay chặt trắng).

  17. Khả năng tái sinh tự nhiên.

  18. Khả năng và kinh nghiệm về trồng rừng và làm giàu rừng.

  19. Một số tình hình về kinh tế xã hội:

  20. Dân số và lao động tại chỗ.

  21. Trình độ phát triển xã hội (giao thông, văn hóa giáo dục).

  22. Tập quán canh tác lâm nghiệp, nông nghiệp, công nghiệp, chăn nuôi, làm vườn.

  23. Các chủ trương phát triển, đầu tư và tiềm năng mở mang sản xuất nông lâm công nghiệp của Nhà nước các cấp đối với điạ bàn.

Mục 2: Phương pháp thu thập, không đặt thành một bước công tác mang tính chất một bước điều tra mà sử dụng triệt để những tài liệu, thành quả đã có kể cả những kết quả qua nghiên cứu thăm dò hoặc áp dụng trên một vùng rộng lớn.

  1. Thu thập tài liệu: 1.1. Phần 1, 2 mục 1 có thể khai thác từ các văn bản chiến lược phát triển lâm nghiệp tỉnh, quy họach lâm nghiệp huyện, các bộ tài liệu phân công phân cấp quản lý rừng ở Tỉnh và Huyện về bản đồ, để tiêu chuẩn hóa, có thể đặt hàng với các đòan điều tra quy họach rừng chuyên nghiệp cung cấp. 1.2. Phần 3 mục 1 có thể khác thác các báo cáo khoa học và các kết quả nghiên cứu của các trạm trại nghiên cứu lâm sinh Trung ương và địa phương đóng trong vùng. 1.3. Phần 4 mục 1 có thể khai thác từ các phương án quy họach kinh tế xã hội, hoặc tiến hành một số lần tiếp xúc với chính quyền địa phương và quần chúng.

  2. Sơ thám điều chỉnh tài liệu: Tổ chức một chuyến đi sơ thám để có nhận thức khái quát về tự nhiên và tài nguyên của khu vực, đồng thời xem xét lại giữa hiện trạng tự nhiên và bản đồ, tài liệu để: 2.1. Xác định, điều chỉnh ranh giới lâm trường tiểu khu vị trí của mốc, biên giữa bản đồ với thực địa. 2.2. Thẩm tra lại tài nguyên bằng mục trắc hoặc nếu có điều kiện, bằng một số điểm quay bitterlic hoặc ở tiêu chuẩn điển hình tại một số khỏanh đại diện có rừng thuộc đối tượng nêu tại 2.3 (mục 1). 2.3. Đánh giá tiềm năng của đất trồng rừng và nơi đất trống, đồi núi trọc qua các phẫu diện tự nhiên và thực bì để dự kiến các lọai cây trồng cho trồng rừng và các giải pháp lâm sinh. 2.4. Hình thành ý định thứ tự mở mang, đặc biệt 5 năm đầu, bố trí mạng lưới đường trục, các cụm chế biến, dân cư, năng lượng, vùng sản xuất nông nghiệp tập trung. CHƯƠNG BA XÁC ĐỊNH CÁC CHỈ TIÊU SẢN XUẤT KINH DOANH Các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh bao gồm các chỉ tiêu về khai thác, nuôi dưỡng, làm giàu, trồng rừng, sản xuất nông lâm kết hợp và các chỉ tiêu kinh tế xã hội nghề rừng. Để xác định được các chỉ tiêu nói trên cần dựa vào tài liệu thu thập trong Chương II, xác định cụ thể diện tích rừng và đất rừng cho từng đối tượng tác động. Đó là: - Diện tích rừng có khả năng khai thác - Diện tích rừng có khả năng cần làm giàu - Diện tích rừng có khả năng cần khoanh nuôi bảo vệ - Diện tích rừng có khả năng và đất trống cần trồng lại rừng - Diện tích rừng có khả năng sản xuất nông nghiệp Mục 1: Các chỉ tiêu về khai thác.

  3. Đối với rừng đồng tuổi hoặc rừng khác tuổi nhưng thế hệ tương lai dự kiến tái tạo lại thành rừng đồng tuổi. 1.1. Xác định chu kỳ: Chu kỳ là chỉ tiêu áp dụng đối với rừng đồng tuổi hoặc khác tuổi trong các chu kỳ sau. Chu kỳ là thời gian trong đó tòan bộ rừng của một đơn vị điều chế được khai thác tương ứng với số năm để lâm phần của thế hệ mới có thể đạt đến tuổi khai thác. Chu kỳ được xác định bằng, lớn hơn hoặc nhỏ hơn tuổi thành thục công nghệ, sao cho qua khai thác, đảm bảo những điều kiện lâm sinh và kinh tế có lợi nhất. Trường hợp diện tích rừng quá ít, lại cần tạo vốn ban đầu để sớm xây dựng lại rừng bằng trồng cây đặc sản hoặc nông lâm kết hợp đạt hiệu quả cao hơn thì có thể rút ngắn chu kỳ xuống bằng thời gian khi cây đặc sản và nông lâm kết hợp cho sản phẩm ổn định. 1.2. Xác định lượng khai thác. Lượng khai thác theo thể tích được tính theo công thức: Z r L v = Z = tổng trữ lượng rừng r = chu kỳ Lượng khai thác hàng năm theo diện tích LS được xác định bằng tổng diện tích rừng S chia cho chu kỳ r. S r L v = Trong trường hợp diện tích rừng quá ít, cần đẩy nhanh tốc độ khai thác hoặc chuyển sang kinh doanh cây công nghiệp, đặc sản, thì lượng khai thác theo diện tích và trữ lượng chính bằng tổng diện tích rừng và tổng trữ lượng chia cho số năm định hình các lòai cây nói trên (Cây công nghiệp, cây đặc sản). 1.3. Chia chu kỳ thành các giai đọan 5 năm, dự kiến các tiểu khu sẽ khai thác trong các giai đọan và xác định khu vực bao gồm các tiểu khu, khỏanh, lô sẽ khai thác trong giai đọan đầu. Lập kế họach cụ thể về tiến trình khai thác mở mang từng năm của giai đọan này trong đó chỉ ra địa điểm, khối lượng, thời gian khai thác. Tất cả việc bố trí kế họach giai đọan này phải được thể hiện trên bản đồ và bảng biểu.

  4. Đối với rừng khai thác chọn. 2.1. Xác định luân kỳ: Luân kỳ là khái niệm áp dụng đối với rừng chặt chọn để chỉ thời gian sau đó người ta trở lại khai thác trên chính diện tích rừng ấy. Nó chính bằng thời gian cần thiết để nuôi dưỡng rừng đạt sản lượng và trữ lượng bằng hoặc lớn hơn lần khai thác trước. Đối với nơi đất tốt nếu sau khai thác không còn, hoặc còn rất ít cây trên 1 đơn vị diện tích có đường kính lớn hơn đường kính tối thiểu khai thác thì chấp nhận luân kỳ 20 năm. Nếu sau khai thác chỉ còn ít cây cần đường kính tối thiểu khai thác, nhiều cây có đường kính cách xa đường kính tối thiểu khai thác đến 2-3cm thì chấp nhận luân kỳ 25 năm. Đối với nơi đất xấu luân kỳ sẽ được tính tăng thêm 5 năm. Việc xác định đường bộ khai thác dựa theo quy phạm lâm sinh (Điều 17, 20, 46). 2.2. Chia luân kỳ thành các giai đọan 5 năm. Dự kiến các diện tích rừng có khả năng đưa vào khai thác từ giai đọan thứ 1 đến giai đọan thứ 5. 2.3. Tính tóan lượng khai thác: 2.3.1. Nếu diện tích rừng phân bố gần đủ cho các giai đọan nghĩa là diện tích rừng giầu, trung bình tương ứng với rừng nghèo và rừng non hoặc diện tích rừng giàu lớn hơn nhiều so với hai lọai rừng kia thì tính tóan lượng khai thác theo 2 cách sau: 2.3.1.1. + Chia đều diện tích cho luân kỳ. S L s = + Dự kiến sản lượng có thể lấy được trên 1 ha = L + Nhân diện tích khai thác hàng năm S với sản lượng 1 ta được lượng khai thác hàng năm. 2.3.1.2. Lấy tổng trữ lượng nhân với tỷ lệ tăng trưởng ta được sản lượng theo cây đứng hàng năm. 2.3.2. Nếu diện tích rừng phân bố không đều để khai thác cho các giai đọan có sự thiếu hụt ở một giai đọan nào đó nghĩa là rừng có khả năng khai thác quá ít, trong khi rừng nghèo và non quá nhiều, đòi hỏi phải nuôi dưỡng lâu mới khai thác được, có hai cách giải quyết cần lựa chọn. 2.3.2.1. Nếu chỉ cần khai thác ít gỗ vẫn có đủ vốn nhờ sản xuất nông lâm kết hợp tận thu lâm sản, đặc sản, thì có thể chia tòan bộ diện tích rừng có khả năng khai thác cho giai đọan chờ đợi để nuôi dưỡng các diện tích rừng nghèo và rừng non phục hồi đạt đến khả năng khai thác. 2.3.2.2. Tuy nhiên, phổ biến các cơ sở lâm nghiệp đều cần vốn ban đầu để xây dựng cơ bản, phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, định hình nhanh cơ sở sản xuất và đời sống xã hội. Hơn nữa, việc kéo dài thời gian khai thác với lượng sản phẩm quá nhỏ sẽ ảnh hưởng tới tổ chức sản xuất công nghiệp rừng. Trường hợp này chia diện tích rừng có khả năng khai thác cho số năm dự kiến khai thác hết số rừng nói trên. Nhân diện tích hàng năm tính được này với sản lượng dự kiến. Sau khi khai thác hết rừng đạt tiêu chuẩn khai thác, sẽ có một số năm chờ đợi, không có diện tích và sản lượng khai thác chính, do vậy cần có phương án tận dụng trong nuôi dưỡng, làm giàu rừng để giải quyết nhu cầu gỗ. 2.4. Dựa vào khả năng, mở mang và mức độ thành thục của rừng, dự kiến khu vực tương ứng đến tiểu khu sẽ khai thác trong các giai đọan. Riêng khu vực khai thác trong 5 năm đầu phải dự kiến đến khỏanh và cụ thể hóa đến từng năm, dự kiến diện tích, sản lượng. Tất cả kế họach này phải được thể hiện trên bản đồ và trên bảng biểu thống kê.

Mục 2: Các chỉ tiêu nuôi dưỡng, làm giàu và trồng rừng.

  1. Diện tích rừng cần nuôi dưỡng theo tiêu chuẩn của quy phạm lâm sinh được phân chia sơ bộ làm 3 lọai. 1.1. Lọai I: Diện tích rừng nghèo có khả năng khai thác trong vòng 8 -12 năm tới đối với gỗ lớn và 4-5 năm đối với gỗ nhỏ, không cần chặt nuôi dưỡng. 1.2. Lọai II: Diện tích sẽ khai thác trong giai đọan III - S 1 sẽ tiến hành nuôi dưỡng 1 lần. 1.3. Lọai III: Diện tích sẽ khai thác trong giai đọan IV hoặc thứ V S 2 sẽ nuôi dưỡng 2 lần. Diện tích cần tác động hàng năm tính theo công thức sau: S 1 2S 2 3S 1 + 4 S 2 30 + = 15 10 S nuôi dưỡng năm = 2. Diện tích rừng cần làm giàu cho tòan lâm trường được xác định theo đúng Điều 8 của quy phạm lâm sinh (tạm thời). Tùy theo khối lượng, khả năng vốn, vật tư kỹ thuật của lâm trường mà tòan bộ diện tích này cần tiến hành trong một giai đọan 25-35 năm. Chia tòan bộ diện tích cho số năm nói trên, ta được diện tích tác động hàng năm.

  2. Tòan bộ diện tích cần trồng rừng được xác định theo Điều 9 của quy phạm lâm sinh (tạm thời). Dựa vào đặc điểm đất đai và đặc tính các lòai cây trồng, xác định khối lượng diện tích cho từng lọai cây trồng Si. Xác định chu kỳ kinh doanh cho từng lọai cây trồng. Lấy diện tích trồng của từng lọai cây chia cho chu kỳ và tổng hợp lại, ta được diện tích cần trồng hàng năm. S i r i S T.R/năm = S Đối với diện tích trồng cây gỗ lớn, chu kỳ dài ở nơi có khả năng tiêu thụ gỗ nhỏ, có điều kiện vốn, vật tư, cần tận dụng đất chưa trồng cây gỗ lớn để trồng 1,2 hoặc 3 chu kỳ cây gỗ nhỏ nhằm tạo vốn, sớm đưa đất vào sản xuất. Biện pháp tốt nhất là trồng cây chu kỳ dài với mật độ trồng bằng 1 đến 2 lần mật độ cuối cùng (400-800 cây) xen với cây chu kỳ ngắn theo mật độ thích hợp để tận dụng không gian dinh dưỡng. Trong trường hợp như vậy, tùy theo khả năng và phương thức trồng mà tính diện tích tác động hàng năm tương ứng.

Mục 3: Các chỉ tiêu sản xuất nông nghiệp và nông-lâm kết hợp. Dựa vào khả năng đất đai có thể phát triển nông nghiệp, chăn nuôi, thủy sản cũng như khả năng mở mang dân sinh kinh tế xã hội, đầu tư lao động, tài chính để xây dựng một kế họach cụ thể về phát triển nông nghiệp, thủy sản... bao gồm:

  1. Tận dụng tối đa khả năng đất và nước để thiết lập các khu canh tác nông nghiệp chuyên sản xuất cây lương thực (ruộng nước, ruộng cạn, nương rẫy, luân canh).

  2. Tính tóan khả năng trồng xen các cây lương thực, cây nông nghiệp, cây công nghiệp ngắn ngày, cây đặc sản trong các diện tích cải tạo, trồng rừng mới.

  3. Dự tính khả năng phát triển các đàn gia súc, ao hồ nuôi trồng thủy sản:

Mục 4: Bố trí các điểm chế biến nhỏ và sản xuất thủ công nghiệp.

Căn cứ khối lượng gỗ, lâm sản, lâm sản thu họach hằng năm, nguồn năng lượng, vốn, nhân lực mà bố trí các điểm chế biến nhỏ sản xuất bán thành phẩm hoặc tăng giá trị sản phẩm giải quyết việc làm cho lao động tại chỗ và đẩy nhanh tốc độ hình thành các tụ điểm dân cư, các trung tâm kinh tế. CHƯƠNG BỐN XÁC ĐỊNH CÁC CHỈ TIÊU PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI CHO ĐƠN VỊ ĐIỀU CHẾ Các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh của phương án điều chế chỉ thực hiện được và đạt tới mục tiêu kinh doanh khi có được điều kiện kinh tế xã hội cấp tiến phù hợp. Mặt khác mục tiêu cuối cùng của kinh doanh lâm nghiệp cũng là xây dựng được một xã hội nghề rừng có đời sống kinh tế, văn hóa ngày càng cao cho người lao động và cư dân tại chỗ.

  1. Xây dựng các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội căn cứ vào những tiền đề và dữ kiện sau đây: 1.1. Các quy họach phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh, huyện, xã sở tại. Người lao động được làm chủ cụ thể một số tài nguyên, đất đai để sản xuất theo quy họach, kế họach của lâm trường và có trách nhiệm, nghĩa vụ về tuân thủ luật pháp và về kinh tế đối với cơ quan quản lý Nhà nước và cơ quan quản lý sản xuất kinh doanh. 1.2. Khối lượng công việc của các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh Lâm-Nông-Công nghiệp. 1.3. Tình hình dân sinh kinh tế và dự báo tiến bộ khoa học kỹ thuật, dự báo thương mại... có liên quan tới tài nguyên, đất đai, khí hậu, cư dân của khu điều chế.

  2. Các chỉ tiêu kinh tế xã hội chính cần xác định là: 2.1. Xác định mặt bằng quản lý rừng và quản lý sản xuất 2.1.1. Số lượng các phân trường, cụm tiểu khu với ranh giới rõ ràng, diện tích phù hợp với trình độ quản lý và tổ chức sản xuất, gắn bó hợp lý với các đơn vị quản lý hành chính tương đương (các xã, thôn, bản làng, bộ tộc...) 2.1.2. Số lượng và vị trí các điểm dân cư, quy họach các cụm kinh tế, dịch vụ, trung tâm văn hóa (chợ, bệnh viện, trường học). 2.1.3. Xác định mạng lưới đường trục hợp lý cho vận chuyển sản phẩm và xây dựng kinh tế, quốc phòng. 2.2. Tổ chức các đơn vị sản xuất: 2.2.1. Tiến tới chuyển hóa các lâm trường cũ và xây dựng các lâm trường mới theo hình thức quản lý phù hợp trong tình hình hiện nay với những đặc điểm sau: - Lâm trường chỉ có bộ khung quản lý rừng (từ lâm trường đến tiểu khu) và cán bộ kinh tế kỹ thuật làm nhiệm vụ tổ chức, hướng dẫn, dịch vụ sản xuất lâm, nông, công nghiệp. - Lâm trường gắn với một đơn vị hành chính Nhà nước (một xã hoặc một vài xã) để hình thành mối quan hệ: cơ quan Nhà nước trên địa bàn làm chức năng quản lý Nhà nước, trong phạm vi lãnh thổ, lâm trường tổ chức sản xuất và phối hợp chăm lo đời sống, xây dựng kinh tế xã hội nghề rừng. 2.2.2. Tổ chức các trung tâm chế biến lâm - nông sản, các trạm dịch vụ sản xuất, các cơ sở thủ công nghiệp. 2.2.3. Bố trí các hộ gia đình (đơn vị sản xuất nhỏ) làm chủ cụ thể một diện tích đất và rừng nhất định căn cứ trên qũy đất đai và tài nguyên, phù hợp với vị trí các cụm dân cư, các trung tâm kinh tế, văn hóa. 2.3. Xác định các nguyên tắc quản lý và tổ chức sản xuất. 2.3.1. Xác định mối quan hệ giữa chính quyền Nhà nước các cấp với lâm trường, phân trường, tiểu khu. 2.3.2. Xác định mối quan hệ giữa lâm trường, phân trường, tiểu khu với người lao động (các hộ gia đình, tiểu chủ) thể hiện thông qua trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi vật chất kinh tế. 2.3.3. Xác định tỷ lệ trong cơ cấu Nông Lâm kết hợp CHƯƠNG NĂM KẾ HỌACH HÓA PHƯƠNG ÁN ĐIỀU CHẾ RỪNG Các chỉ tiêu nêu trong các chương 3 và 4 cần phải được địn h lượng và định vị cụ thể (trên bản đồ và thực địa) thành một chương trình tác nghiệp khép kín theo trình tự thời gian trong một chu kỳ điều chế. Chương trình tác nghiệp thể hiện khái quát trình tự mở mang tòan khu điều chế, cho ý niệm về quá trình định hình và vạch ra sơ đồ tòan cảnh việc sắp xếp tổ chức lại rừng về sinh vật học và về công nghệ, về sản xuất Nông Lâm Công nghiệp và xây dựng hạ tầng cơ sở. Trong phần 5 năm đầu phải hình thành các chỉ tiêu kế họach hàng năm của lâm trường. Kế họach này được xây dựng trên cơ sở các kế họach chi tiết sau:

  3. Kế họach hàng năm về tác nghiệp lâm sinh (khai thác, làm giầu, cải tạo, trồng rừng) thể hiện bằng khối lượng sản phẩm, khối lượng công việc (ha, công) và tới từng địa chỉ cụ thể (diện tích từng khỏanh).

  4. Kế họach sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi) và sản xuất Nông Lâm kết hợp.

  5. Kế họach lao động (sử dụng tại chỗ, điều chỉnh, thu hút thêm từ nơi khác đến), tỷ lệ lao động sử dụng giữa nông lâm.

  6. Kế họach tài chính và vật tư, tiêu thụ sản phẩm.

  7. Kế họach phát triển các công trình công cộng, xây dựng hạ tầng cơ sở. Kế họach sản xuất hàng năm thể hiện được đầy đủ khối lượng công việc (tấn sản phẩm, ha rừng tác động, công lao động...) và vị trí tác động tới địa chỉ từng khỏanh, tuân thủ sự ổn định về mặt lâm sinh của phương án điều chế đồng thời phải thực sự là một kế họach có đầy đủ khả năng thực hiện và cụ thể đến mức trả lời được những câu hỏi của người thực hiện: khi nào? làm gì? ở đâu? bao nhiêu ? Tại các tiểu khu dựa vào tác động trong năm kế họach, phải xác minh lại rừng, phân chia thành các khỏanh và lô kinh doanh, thiết kế sản xuất cho từng khâu công việc, từ đó mới xây dựng được các chỉ tiêu kế họach sản xuất hàng năm cụ thể. CHƯƠNG SÁU ĐIỀU KHỎAN THI HÀNH

  8. Văn bản này áp dụng cho những lâm trường đã hoặc sẽ thành lập n hưng chưa đủ điều kiện xây dựng phương án điều chế rừng hòan chỉnh. Nếu có điều kiện xây dựng phương án điều chế rừng hòan chỉnh thì không cần thiết thực hiện bước công việc này.

  9. Những lâm trường đã xây dựng và được duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật vẫn cần thiết và phải xác minh lại tài nguyên, đất đai trên các diện tích sẽ tác động trong vòng 5 năm tới để xây dựng thành một kế họach tác nghiệp được quy định trong văn bản này tại:

Chương 3: Mục1, Điểm (1.3), (2.2), (2.4)

Chương 4: Điểm (2.2), (2.3) và Chương 5.

  1. Phương án điều chế rừng đơn giản của lâm trường sau khi xây dựng phải được cấp quản lý trực tiếp phê duyệt bằng văn bản. Thời gian từ lúc trình đến khi phê duyệt không quá 15 ngày. Hồ sơ phương án điều chế rừng đơn giản (phương án, biểu đồ, phụ biểu, kế họach tác nghiệp) được nhân bản với số lượng phù hợp với yêu cầu quản lý và thực hiện.

  2. Trong thời gian chưa có luận chứng kinh tế kỹ thuật phương án điều chế rừng đơn giản là văn bản chính thức để xây dựng kế họach hàng năm và xác định mức độ đầu tư cho các công trình xây dựng cơ bản lâm sinh. BỘ TRƯỞNG (Đã ký) Phan Thanh Xuân

Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/chi-thi-so-15-ls-cnr-ve-cong-tac-xay-dung-phuong-an-dieu-che-rung-don-gian-cho-cac-lam-truong--2126.

Dịch vụ liên quan

Văn bản liên quan