Chỉ thị số 236/CT-GTVTVề phạm vi bảo vệ công trình giao thông đường thuỷ nội địa
- Số hiệu
- 236/CT-GTVT
- Loại văn bản
- Chỉ thị
- Cơ quan ban hành
- Bộ Giao thông vận tải
- Ngày ban hành
- 21/07/1997
- Lĩnh vực
- Đường thủy nội địa
Toàn văn
CHỈ THỊ Về phạm vi bảo vệ công trình giao thông đường thủy nội địa Thời gian qua, các ngành, các địa phương đã phối hợp với ngành giao thông vận tải thực hiện tốt Nghị định 40/CP ngày 5 tháng 7 năm 1996 của Chính phủ về bảo đảm trật tự an tòan giao thông đường thủy nội địa, đã đạt được kết quả bước đầu. Người hành nghề trên sông nước và nhân dân sinh sống dọc hành lang của đường thủy nội địa đã ý thức được trách nhiệm của mình trong việc bảo đảm trật tự an tòan giao thông nên đã tự tháo dỡ được nhiều đăng đáy, chà nò vó cá, lều quán và các công trình xây dựng trái phép. Luống lạch đã thông thóang hơn. Song, việc triển khai giải tỏa trên hành lang Đường thủy nội địa chưa được thực hiện triệt để. Đến tháng 5 năm 1997 mới giải tỏa được 14% các trường hợp lấn chiếm trái phép, chủ yếu là giải tỏa đăng đáy cá và các chướng ngại vật khác lấn chiếm luống của tầu, thuyền họat động. Đặc biệt chưa xác định rõ phạm vi bảo vệ tuyến Đường thủy nội địa phù hợp với từng lọai sông, kênh và từng địa bàn cụ thể. Để khắc phục những tồn tại trên, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải yêu cầu: I- Các Sở Giao thông vận tải, Sở Giao thông công chính phối hợp với Cục Đường sông Việt Nam xây dựng phương án, tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh, Thanh phố trực thuộc TW, xác định chỉ giới bảo vệ các luống chạy tầu trên sông, kênh, rạch, hồ, vịnh, đàm, phá và các công trình giao thông Đường thủy nội địa khác trên địa bàn địa phương theo nguyên tắc sau đây: A. PHẠM VI BẢO VỆ CỦA LUỒNG CHẠY TÀU:
-
Phạm vi theo chiều dài: a- Đối với sông, rạch: là chiều dài sông rạch từ thượng nguồn ra cửa sông thuộc nội thủy Việt Nam. b- Đối với kênh: là chiều dài thiết kế. 2- Phạm vi theo chiều dài thiết kế. a- Đối với sông, rạch: là giới hạn giữa hai mép bờ tự nhiên. Trường hợp khó xác định mép bờ tự nhiên có thể lấy mức nước tần suất 5%. b- Đối với kênh đào: là giới hạn giữa 2 mép bờ thiết kế. c- Đối với hồ, đầm: là giới hạn mức nước cao nhất của bờ hoặc các đảo nằm dọc hai bên luồng chạy tàu. Riêng đối với hồ nhân tạo như hồ Hòa Binh, Thác Bà, Trị An... là giới hạn mức nước cao nhất theo thiết kế của hồ. d- Đối với cửa sông, vịnh: là vùng nước được giới hạn bởi hai hàng báo hiệu đặt tại hai phía của luồng chạy tàu.
-
Hành lang bảo vệ sông, kênh, rạch, hồ, đầm, phá được quy định chung như sau: a- Khu vực ngòai thành phố thị xã, thị trấn, làng mạc, thôn ấp hành làng bảo vệ tính từ mép bờ tự nhiên (đối với sông, rạch, hồ tự nhiên, đàm, phá ven vịnh) hoặc mép bờ thiết kế (đối với kênh, hồ nhân tạo) trở vào tối thiểu là 10m. Đối với cùng bố trí dân cư theo quy họach mới thì tối thiểu là 20m. b- Khu vực trong thành phố thị xã, thị trấn, làng mạc, thôn ấp hành lang bảo vệ tính từ mép bờ tự nhiên (đối với sông, rạch, hồ tự nhiên, đầm, phá ven vịnh) hoặc mép bờ thiết kế (đối với kênh, hồ nhân tạo) tối thiểu là 5m. Đối với vùng bố trí dân cư theo quy họach mới thì tối thiểu là 10m. c- Chiều cao tĩnh không và chiều sâu trong phạm vi bảo vệ của luồng chạy tầu nói trên được quy định tương ứng với các cấp kỹ thuật đường thủy nội địa (Tiêu chuẩn Việt Nam phâm cấp đường thủy nội địa do Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường ban hành). B. PHẠM VI BẢO VỆ CỦA CÁC CÔNG TRÌNH KÈ ĐẬP: 1- Đối với kè: a- Kè lát mái (ốp bờ): - Phía thượng lưu từ đầu kè trở ngược 100m và phía hạ lưu từ cuối kè trở xuôi 100m. - Từ đỉnh kè trở vào bở 50m. - Từ chân kè trở ra sông 20m. b- Kè mở hàn: - Từ gốc kè trở vào bờ 50m. - Từ chân đầu kè trở ra sông 20m. - Từ chân kè về hai phía thượng và hạ lưu mỗi phía 100m (kể cả cụm kè cũng như kè đơn). 2- Đối với đạp khóa: - Từ gốc kè phía bờ và đầu kè phía bãi của đập vào mỗi phía 100m và trở về hai phía thượng và hạ lưu, mỗi phía 200m. - Từ chân kè của đập về hai phía thượng và hạ lưu mỗi phía 200m. Vùng nội thành, nội thị, làng mạc, thôn ấp cần phải thay đổi phạm vi bảo vệ công trình kè, đập thì Ủy ban nhân dân tỉnh hoặc thành phố trực thuộc Trung ương cùng với Bộ Giao thông vận tải xem xét và quy định cho phù hợp với thực tế. C. PHẠM VI BẢO VỆ CẢNG, BẾN: Được giới hạn trong ranh giới khu đất theo hồ sơ đăng ký địa chính và vùng nước được cơ quan có thẩm quyền công bố. D. TRƯỜNG HỢP PHẠM VI VÙNG NƯỚC ĐƯỜNG THỦY NỘI ĐỊA TRÙNG MỘT PHẦN VỚI PHẠM VI BẢO VỆ CỦA CÁC NGÀNH KHÁC
-
Đối với đê điều: Phạm vi vùng nước được tính từ ranh giới bảo vệ của đê điều trở ra phía sông, phía biển.
-
Đối với các công trình bắc qua sông, nơi giao cắt hoặc song song với phạm vi bảo vệ của đường sắt, đường bộ trùng với phạm vi bảo vệ của đường thủy nội địa phải được phối hợp thống nhất các ngành để xác định phạm vi bảo vệ công trình giao thông đường thủy nội địa phù hợp với thực tế. II-
Căn cứ phạm vi bảo vệ công trình giao thông Đường thủy nội địa đã được Ủy ban nhân dân tỉnh, Thành phố duyệt đối với từng sông kênh, các Sở Giao thông vận tải (Sở Giao thông công chính) phối hợp chặt chẽ với cơ quan quản lý đường sông, với các Ban, Ngành liên quan, Ủy ban nhân dân tại địa bàn tiến hành cấm mốc chỉ giới, làm cơ sở cho việc giải tỏa lần chiếm công trình giao thông Đường thủy nội địa: tăng cường tuyên truyền vận động nhân dân tự tháo dỡ, di dời công trình, chướng ngại lấn chiếm trái phép và ký cam kết thời hạn thực hiện. Quá thời hạn quy định cần kiến nghị chính quyền địa phương tổ chức cưỡng chế. III- Lực lượng thanh tra giao thông Đường thủy nội địa phối hợp với lực lượng cảnh sát giao thông đường thủy có kế họach từng bước giải tỏa việc lấn chiếm hành lang bảo vệ các công trình giao thông Đường thủy nội địa, trước mắt khẩn trương giải tỏa các trường hợp lấn chiếm luồng chạy tầu và các công trình quan trọng như kè, đập tăng cường kiểm tra, phát hiện và cương quyết xử lý các trường hợp tái lấn chiếm phạm vi bảo vệ công trình giao thông Đường thủy nội địa. IV- Bộ Giao thông Vận tải ủy quyền Cục Đường sông Việt Nam hướng dẫn các địa phương, chỉ đạo các đọan Quản lý đường sông, lực lượng thanh tra chuyên ngành thực hiện tốt việc xác định phạm vi bảo vệ công trình giao thông Đường thủy nội địa như đã nói tại các Mục A, B, C, D, Phần II của chỉ thị này; kịp thời báo cáo, kiến nghị với Bộ Giao thông vận tải, Ủy ban nhân dân tỉnh các cấp để giải quyết những vấn đề vướng mắc phát sinh. Trong quá trình thực hiện, các Sở Giao thông vận tải (Giao thông công chính) thường xuyên báo cáo về Cục Đường sông Việt Nam để tổng hợp trình Bộ Giao thông vận tải xem xét, xử lý.
Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/chi-thi-so-236-ct-gtvt-ve-pham-vi-bao-ve-cong-trinh-giao-thong-duong-thuy-noi-dia--8415.
Dịch vụ liên quan
Văn bản liên quan
- Bổ sung một số nội dung của Định mức kinh tế - kỹ thuật quản lý, bảo trì đường thủy nội địa ban hành kèm theo của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải
- Quy định nội dung, chương trình đào tạo thuyền viên, người lái phương tiện thủy nội địa
- Sửa đổi, bổ sung một số điều của của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định về tổ chức và hoạt động của Cảng vụ đường thủy nội địa
- Sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư quy định về đăng ký phương tiện thủy nội địa và quy định thi, kiểm tra, cấp, cấp lại, chuyển đổi giấy chứng nhận khả năng chuyên môn, chứng chỉ chuyên môn thuyền viên, người lái phương tiện thủy nội địa
- Quy định chi tiết một số điều của của Chính phủ về quản lý hoạt động nạo vét trong vùng nước cảng biển và vùng nước đường thủy nội địa
- Quy định tiêu chí giám sát, nghiệm thu kết quả bảo trì tài sản kết cấu hạ tầng giao thông đường thủy nội địa theo chất lượng thực hiện
- Về quản lý hoạt động nạo vét trong vùng nước cảng biển và vùng nước đường thủy nội địa
- Sửa đổi, bổ sung một số điều của của Chính phủ quy định về quản lý hoạt động đường thủy nội địa