Quyết định số 178/2001/QĐ-TTgVề quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao,được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp

Số hiệu
178/2001/QĐ-TTg
Loại văn bản
Quyết định
Cơ quan ban hành
Thủ tướng Chính phủ
Ngày ban hành
12/11/2001

Toàn văn

QUYẾT ĐỊNH Về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khóan rừng và đất lâm nghiệp _____________________ THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;

Căn cứ Luật Bảo vệ và Phát triển rừng ngày 19 tháng 8 năm 1991;

Căn cứ Luật Đất đai, ngày 14 tháng 7 năm 1993; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai ngày 02 tháng 12 năm 1998; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai ngày 29 tháng 6 năm 2001;

Căn cứ Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 1999 của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp;

Căn cứ Nghị định số 01/CP ngày 04 tháng 01 năm 1995 của Chính phủ về việc giao khóan đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản trong các doanh nghiệp Nhà nước. Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, QUYẾT ĐỊNH:

Chương 1 NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1 . Quyết định này quy định về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao, cho thuê, khóan rừng và đất lâm nghiệp để bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng, nhằm tạo động lực kinh tế khuyến khích nhân dân tích cực tham gia bảo vệ và phát triển rừng; làm cho thu nhập từ rừng trở thành một nguồn thu đáng kể, góp phần bảo đảm cuộc sống của người làm nghề rừng; đồng thời, làm rõ trách nhiệm của người được giao, được thuê, nhận khóan rừng đối với việc bảo vệ và phát triển rừng.

Điều 2. Quyết định này được áp dụng đối với hộ gia đình, cá nhân thuộc một trong các trường hợp sau đây:

  1. Được Nhà nước giao rừng và đất lâm nghiệp theo Nghị định số 02/CP ngày 15 tháng 1 năm 1994 của Chính phủ; được giao, được thuê đất lâm nghiệp theo Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 1999 của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp.

  2. Được các tổ chức Nhà nước khóan bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng theo Nghị định số 01/CP ngày 04 tháng 01 năm 1995 của Chính phủ về việc giao khóan đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản trong các doanh nghiệp Nhà nước.

Điều 3. Nguyên tắc xác định quyền hưởng lợi và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao, cho thuê, khóan rừng và đất lâm nghiệp:

  1. Đảm bảo lợi ích hài hòa giữa Nhà nước với người trực tiếp bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng; giữa lợi ích kinh tế của rừng với lợi ích phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái và bảo tồn thiên nhiên; giữa lợi ích trước mắt và lâu dài.

  2. Quyền hưởng lợi trên đất lâm nghiệp bao gồm: gỗ, các lâm sản ngòai gỗ, sản phẩm trồng xen, tiền công tương xứng với tiền của, công sức của hộ gia đình, cá nhân đã đầu tư vào rừng.

  3. Quyền hưởng lợi và nghĩa vụ chỉ được thực hiện trong thời hạn được giao, được thuê hoặc nhận khóan rừng và đất lâm nghiệp.

Chương 2 QUYỀN HƯỞNG LỢI, NGHĨA VỤ CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN ĐƯỢC NHÀ NƯỚC GIAO, CHO THUÊ ĐẤT LÂM NGHIỆP

Điều 4. Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao rừng đặc dụng để quản lý, bảo vệ và xây dựng:

  1. Được Nhà nước cấp kinh phí để thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng theo dự án đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

  2. Được tiến hành các họat động dịch vụ nghiên cứu khoa học, văn hóa, xã hội và du lịch sinh thái theo quy định của pháp luật.

Điều 5. Hộ gia đình, cá nhân được giao rừng phòng hộ để quản lý, bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh:

  1. Được Nhà nước cấp kinh phí để thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ và khoanh nuôi tái sinh rừng theo quy định hiện hành.

  2. Được thu hái lâm sản phụ, hoa, quả, dầu, nhựa..., trong quá trình bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng theo quy định hiện hành.

  3. Được khai thác cây gỗ chết khô, cây đổ gẫy, cây sâu bệnh theo thiết kế khai thác do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt và cấp giấy phép. Lâm sản nói trên được tự do lưu thông khi có đủ thủ tục theo quy định.

  4. Được khai thác tre, nứa với cường độ tối đa 30% khi rừng đạt độ che phủ 80% trên diện tích đất được giao theo quy chế khai thác lâm sản hiện hành; được hưởng tòan bộ giá trị lâm sản thu được sau khi nộp thuế.

  5. Được khai thác gỗ theo phương thức chặt chọn với cường độ khai thác không quá 20% khi rừng phòng hộ được phép khai thác (trừ những động vật, thực vật nằm trong danh mục thực vật rừng, động vật rừng qúy, hiếm theo quy định của Chính phủ và danh mục động vật, thực vật ghi trong phụ lục công ước về buôn bán quốc tế các lòai động vật, thực vật hoang dã nguy cấp - CITES ) theo thiết kế được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt và cấp giấy phép khai thác. Việc khai thác phải tuân theo quy chế khai thác lâm sản hiện hành. Hộ gia đình, cá nhân được hưởng từ 85% - 90% sản phẩm khai thác sau khi nộp thuế, phần còn lại nộp ngân sách Nhà nước.

Điều 6. Hộ gia đình, cá nhân được giao đất lâm nghiệp chưa có rừng thuộc quy họach rừng phòng hộ:

  1. Được Nhà nước cấp kinh phí để trồng và chăm sóc rừng theo quy định hiện hành.

  2. Được sử dụng cây nông nghiệp lâu năm làm cây trồng chính rừng phòng hộ hoặc trồng xen với cây rừng bản địa lâu năm theo thiết kế trồng rừng được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt.

  3. Được hưởng 100% sản phẩm khai thác từ cây phù trợ, cây trồng xen, sản phẩm tỉa thưa theo thiết kế được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt và phải đảm bảo độ tàn che của rừng trên 0,6 sau khi tỉa thưa.

  4. Được sử dụng tối đa không quá 20% diện tích đất lâm nghiệp chưa có rừng để sản xuất nông nghiệp và ngư nghiệp.

  5. Được khai thác gỗ theo phương thức chặt chọn với cường độ khai thác không quá 20% khi rừng phòng hộ được phép khai thác theo thiết kế được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt và cấp giấy phép khai thác. Giá trị sản phẩm khai thác sau khi nộp thuế được phân chia theo tỷ lệ như sau: hộ gia đình, cá nhân được hưởng từ 90 - 95%, phần còn lại nộp ngân sách Nhà nước.

  6. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân tự đầu tư vốn để trồng rừng thì được hưởng 100% sản phẩm khi rừng đạt tuổi khai thác, mỗi năm được phép khai thác không quá 10% diện tích do chủ rừng đã gây trồng thành rừng theo quy trình, quy phạm kỹ thuật hiện hành.

Điều 7. Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao rừng tự nhiên quy họach rừng sản xuất:

  1. Được trồng xen các cây nông nghiệp, cây dược liệu, chăn thả gia súc và khai thác các lợi ích khác của rừng phù hợp với quy chế quản lý rừng sản xuất.

  2. Được tận dụng sản phẩm trong quá trình thực hiện các biện pháp kỹ thuật lâm sinh theo quy trình, quy phạm hiện hành.

  3. Được khai thác lâm sản để giải quyết nhu cầu gia dụng (trừ những động vật, thực vật nằm trong danh mục thực vật rừng, động vật rừng qúy, hiếm theo quy định của Chính phủ và danh mục động vật, thực vật ghi trong phụ lục công ước về buôn bán quốc tế các lòai động vật, thực vật hoang dã nguy cấp - CITES ). Nếu có nhu cầu làm nhà mới để tách hộ hoặc thay thế nhà cũ, sửa chữa lớn nhà ở cho mình tại xã nơi có rừng, hộ gia đình, cá nhân phải làm đơn gửi Ủy ban nhân dân xã xác nhận, trình Ủy ban nhân dân huyện xét duyệt, cấp giấy phép khai thác không quá 10 m 3 gỗ tròn cho 1 hộ. Phải khai thác theo sự hướng dẫn và giám sát của xã. Nghiêm cấm mọi hành vi lợi dụng việc khai thác gỗ làm nhà để buôn bán.

  4. Khi rừng được phép khai thác chính, hộ gia đình, cá nhân làm đơn xin phép khai thác gửi Ủy ban nhân dân xã xem xét, trình Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn duyệt và cấp giấy phép khai thác. Việc khai thác phải tuân theo quy chế khai thác lâm sản hiện hành.

Căn cứ vào hiện trạng rừng khi giao cho hộ gia đình, cá nhân, giá trị lâm sản khai thác chính sau khi nộp thuế được phân chia theo tỷ lệ như sau: a. Đối với rừng gỗ: - Rừng thứ sinh nghèo kiệt: Hộ gia đình, cá nhân được hưởng 100%. - Rừng phục hồi sau nương rẫy hoặc sau khai thác với cây gỗ có đường kính phổ biến dưới 20 cm: Hộ gia đình, cá nhân được hưởng từ 70% - 80%, phần còn lại nộp ngân sách Nhà nước. - Rừng có trữ lượng còn ở mức trung bình hoặc giầu, lớn hơn 100 m 3 /ha, từ lúc giao đến khi khai thác, mỗi năm Hộ gia đình, cá nhân được hưởng 2%, phần còn lại nộp ngân sách Nhà nước. b. Đối với rừng tre, nứa: được phép khai thác theo quy trình, quy phạm kỹ thuật hiện hành. Sau khi nộp thuế, hộ gia đình, cá nhân được hưởng 95%, nộp ngân sách Nhà nước 5%.

Điều 8. Hộ gia đình, cá nhân được giao rừng sản xuất là rừng trồng bằng vốn ngân sách Nhà nước:

  1. Được hưởng các quyền lợi quy định tại các khỏan 1,2,3, Điều 7 của Quyết định này.

  2. Được phép khai thác khi rừng đạt tiêu chuẩn khai thác và được hưởng từ 75 - 85% giá trị lâm sản khai thác sau khi nộp thuế, tùy theo cấp tuổi rừng trồng lúc được giao, phần còn lại nộp ngân sách Nhà nước.

Điều 9. Hộ gia đình, cá nhân được giao đất lâm nghiệp chưa có rừng thuộc quy họach rừng sản xuất để gây trồng rừng:

  1. Được Nhà nước hỗ trợ kinh phí để trồng rừng theo quy định hiện hành.

  2. Nếu nhận vốn hỗ trợ của các dự án để gây trồng rừng thì được hưởng các quyền lợi theo quy định tại quy chế các dự án đó.

  3. Nếu tự bỏ vốn để trồng rừng thì được quyền tự quyết định mục đích và phương thức gây trồng rừng (khoanh nuôi xúc tiến tái sinh hoặc trồng rừng mới), lựa chọn lòai cây trồng, kỹ thuật trồng; được quyền tự quyết định việc khai thác và sử dụng lâm sản.

  4. Mọi sản phẩm khai thác từ rừng được tự do lưu thông.

  5. Được sử dụng một phần đất lâm nghiệp chưa có rừng để sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản nhưng không quá 20% diện tích đất được giao.

Điều 10 . Hộ gia đình, cá nhân được thuê đất lâm nghiệp chưa có rừng thuộc quy họach rừng sản xuất để gây trồng rừng:

  1. Được quyền tự quyết định mục đích và phương thức gây trồng rừng (khoanh nuôi xúc tiến tái sinh hoặc trồng rừng mới), lựa chọn lòai cây trồng, kỹ thuật trồng; được quyền tự quyết định việc khai thác và sử dụng lâm sản.

  2. Nếu hộ gia đình, cá nhân nhận vốn hỗ trợ của các dự án để gây trồng rừng thì được hưởng các quyền lợi theo quy định tại quy chế các dự án đó.

  3. Mọi sản phẩm khai thác từ rừng được tự do lưu thông.

  4. Được sử dụng một phần đất lâm nghiệp chưa có rừng để sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản nhưng không quá 20% diện tích đất chưa có rừng được thuê.

Điều 11. Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước cho thuê đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ để kinh doanh cảnh quan, du lịch, nghỉ dưỡng dưới tán rừng:

  1. Được sử dụng sinh cảnh của rừng để kinh doanh du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng; được xây dựng cơ sở dịch vụ du lịch, nghỉ dưỡng dưới tán rừng theo dự án được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

  2. Thực hiện nghiêm chỉnh các quy định pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng đặc dụng, rừng phòng hộ; nghiêm cấm các họat động gây ô nhiễm và có hại đến sinh trưởng và phát triển bình thường của các lòai động, thực vật rừng.

Điều 12. Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao, cho thuê đất lâm nghiệp có những nghĩa vụ sau đây:

  1. Quản lý, bảo vệ, sử dụng rừng và đất lâm nghiệp được giao, được thuê đúng mục đích, đúng ranh giới đã ghi trong quyết định giao, cho thuê đất lâm nghiệp của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

  2. Bảo tòan và phát triển vốn rừng được giao, được thuê. Phải thực hiện các biện pháp tái tạo rừng trong vòng 1 năm sau khi khai thác.

  3. Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.

Chương 3 QUYỀN HƯỞNG LỢI, NGHĨA VỤ CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN ĐƯỢC CÁC TỔ CHỨC NHÀ NƯỚC KHÓAN BẢO VỆ, KHOANH NUÔI TÁI SINH VÀ TRỒNG RỪNG

Điều 13. Hộ gia đình, cá nhân nhận khóan trồng, bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng đặc dụng:

  1. Được nhận tiền công khóan để trồng, bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh theo hợp đồng khóan.

  2. Được Ban quản lý Khu rừng đặc dụng tạo điều kiện tham gia các họat động dịch vụ, du lịch.

Điều 14. Hộ gia đình, cá nhân nhận khóan bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên ở những vùng phòng hộ đầu nguồn:

  1. Được nhận tiền công khóan bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng theo hợp đồng khóan.

  2. Được thu hái lâm sản phụ, hoa, quả, dầu, nhựa.. ., trong quá trình bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng theo hướng dẫn của Bên giao khóan.

  3. Được khai thác cây gỗ chết khô, cây đổ gẫy, cây sâu bệnh, sản phẩm tỉa thưa theo thiết kế do Bên giao khóan lập, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt và cấp giấy phép khai thác. Lâm sản nói trên được tự do lưu thông.

  4. Được khai thác tre, nứa với cường độ tối đa 30% khi rừng đảm bảo độ che phủ trên 80% diện tích nhận khóan theo sự hướng dẫn và giám sát của Bên giao khóan. Giá trị lâm sản thu được sau khi nộp thuế, hộ được hưởng từ 80 - 90%, phần còn lại nộp Bên giao khóan.

  5. Được khai thác gỗ theo phương thức chặt chọn với cường độ khai thác không quá 20% khi rừng phòng hộ được phép khai thác theo thiết kế do Bên giao khóan lập, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thẩm định, trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt và cấp giấy phép khai thác.

Căn cứ vào hiện trạng rừng khi hộ gia đình, cá nhân nhận khóan, giá trị gỗ khai thác sau khi nộp thuế được phân phối như sau: - Rừng thứ sinh nghèo kiệt: Hộ gia đình, cá nhân được hưởng 95%, phần còn lại nộp Bên giao khóan. - Rừng phục hồi sau nương rẫy hoặc sau khai thác với cây gỗ có đường kính phổ biến dưới 20 cm: Hộ gia đình, cá nhân được hưởng từ 75% - 85%, phần còn lại nộp Bên giao khóan. - Rừng có trữ lượng còn ở mức trung bình hoặc giàu, lớn hơn 100m 3 /ha: từ lúc nhận khóan đến khi khai thác mỗi năm hộ gia đình, cá nhân được hưởng 2%, phần còn lại nộp Bên giao khóan. Trường hợp hộ nhận khóan tự đầu tư vốn để khoanh nuôi phục hồi rừng được hưởng 100% giá trị gỗ khai thác sau khi nộp thuế. Hộ gia đình, cá nhân phải tự đầu tư tái tạo rừng trong vòng 1 năm sau khi khai thác.

Điều 15. Hộ gia đình, cá nhân nhận khóan trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng ở vùng phòng hộ đầu nguồn:

  1. Được Nhà nước cấp kinh phí để trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng theo quy định hiện hành.

  2. Được sử dụng cây nông nghiệp lâu năm làm cây trồng chính rừng phòng hộ hoặc trồng xen với cây rừng bản địa lâu năm theo thiết kế trồng rừng do Bên giao khóan lập, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt.

  3. Được hưởng 100% sản phẩm khai thác từ cây phù trợ, cây trồng xen, sản phẩm tỉa thưa, nhưng phải đảm bảo độ tàn che của rừng trên 0,6 sau khi tỉa thưa.

  4. Được thu hái lâm sản phụ, hoa, quả, dầu, nhựa..., theo hướng dẫn của Bên giao khóan.

  5. Được sử dụng tối đa không quá 20% diện tích đất lâm nghiệp chưa có rừng để sản xuất nông nghiệp và ngư nghiệp theo sự hướng dẫn của Bên giao khóan. 6- Được khai thác chọn khi cây trồng chính của rừng được phép khai thác với cường độ không quá 20% theo thiết kế do Bên giao khóan lập, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thẩm định trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt và cấp giấy phép khai thác. Giá trị sản phẩm khai thác sau khi nộp thuế được phân chia theo tỷ lệ như sau: a. Nếu hộ gia đình, cá nhân nhận kinh phí hỗ trợ của Nhà nước để trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng thì được hưởng từ 80 - 90%, phần còn lại nộp Bên giao khóan. b. Nếu hộ gia đình, cá nhân nhận khóan tự đầu tư trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng thì được hưởng 100% giá trị sản phẩm sau khi nộp thuế. c. Hộ gia đình, cá nhân nhận khóan phải tự đầu tư tái tạo rừng trong vòng 1 năm sau khi khai thác.

Điều 16. Hộ gia đình, cá nhân nhận khóan gây trồng, bảo vệ các khu rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay; rừng phòng hộ chắn sóng lấn biển, bảo vệ môi trường sinh thái:

  1. Được Nhà nước cấp kinh phí để trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng theo quy định hiện hành.

  2. Được trồng xen cây nông nghiệp với cây rừng và hưởng tòan bộ sản phẩm cây trồng xen.

  3. Được thu hái lâm sản phụ, hoa, quả, dầu, nhựa..., theo hướng dẫn của Bên giao khóan.

  4. Được tận thu lâm sản trong quá trình thực hiện các biện pháp kỹ thuật lâm sinh theo quy trình, quy phạm kỹ thuật hiện hành.

  5. Được khai thác khi rừng được phép khai thác theo thiết kế do Bên giao khóan lập, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thẩm định trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt và cấp giấy phép khai thác. Mỗi năm khai thác, hộ gia đình, cá nhân nhận khóan được khai thác không quá 10% diện tích đã trồng thành rừng. Giá trị sản phẩm khai thác sau khi nộp thuế được phân chia như sau: a. Nếu nhận kinh phí hỗ trợ của Nhà nước để trồng và chăm sóc rừng thì hộ gia đình, cá nhân được hưởng từ 60 - 70%, phần còn lại nộp Bên giao khóan. b. Nếu tự bỏ vốn để trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng thì hộ gia đình, cá nhân được hưởng 100% giá trị sản phẩm sau khi nộp thuế. Hộ gia đình, cá nhân phải tự đầu tư tái tạo lại rừng trong vòng 1 năm sau khi khai thác.

Điều 17. Hộ gia đình, cá nhân nhận khóan trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng phòng hộ ở vùng rừng ngập nước:

  1. Được Nhà nước cấp kinh phí để trồng, chăm sóc theo quy định hiện hành.

  2. Được đánh bắt thủy, hải sản trên đất rừng nhận khóan theo sự hướng dẫn của Bên giao khóan; được tận thu lâm sản trong quá trình thực hiện các biện pháp kỹ thuật lâm sinh theo quy trình, quy phạm kỹ thuật hiện hành.

  3. Được sử dụng không quá 30% diện tích đất nhận khóan để kết hơp nuôi trồng thủy sản, nhưng không làm ảnh hưởng xấu tới cây rừng, phải tuân theo quy họach của ngành, địa phương và sự hướng dẫn của Bên giao khóan.

  4. Được khai thác chọn khi rừng được phép khai thác với cường độ không quá 20% theo thiết kế do Bên giao khóan lập, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thẩm định, trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt và cấp giấy phép khai thác. Giá trị lâm sản khai thác sau khi nộp thuế được phân chia như sau: a. Nếu nhận vốn hỗ trợ của Nhà nước để trồng và chăm sóc rừng thì hộ gia đình, cá nhân được hưởng từ 80 - 90%, phần còn lại nộp Bên giao khóan. b. Nếu tự bỏ vốn để trồng, chăm sóc, bảo vệ thì hộ gia đình, cá nhân được hưởng 100% giá trị sản phẩm sau khi trừ thuế. Hộ gia đình, cá nhân phải tự đầu tư tái tạo lại rừng trong vòng 1 năm sau khi khai thác.

Điều 18. Hộ gia đình, cá nhân nhận khóan bảo vệ rừng sản xuất là rừng tự nhiên:

  1. Được tận dụng lâm sản trong quá trình thực hiện các biện pháp kỹ thuật lâm sinh theo quy trình, quy phạm kỹ thuật hiện hành; được khai thác lâm sản phụ.

  2. Được trồng xen các lọai cây đặc sản rừng, cây nông nghiệp và chăn thả gia súc dưới tán rừng, khỏang trống trong rừng nhưng không được làm ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của rừng.

  3. Khi rừng đạt tiêu chuẩn khai thác, Bên giao khóan thống nhất với hộ gia đình, cá nhân nhận khóan tiến hành khai thác theo thiết kế được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt và cấp giấy phép khai thác. Giá trị lâm sản khai thác sau khi nộp thuế được phân chia như sau: Hộ gia đình, cá nhân nhận khóan được hưởng từ 1,5 - 2 % cho mỗi năm nhận khóan bảo vệ rừng, phần còn lại nộp Bên giao khóan.

Điều 19. Hộ gia đình, cá nhân nhận khóan phục hồi rừng tự nhiên là rừng sản xuất bằng biện pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung:

  1. Được Bên giao khóan cấp kinh phí để khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng theo quy định hiện hành.

  2. Được sản xuất nông, lâm kết hợp dưới tán rừng theo hướng dẫn của Bên giao khóan.

  3. Được tận dụng lâm sản trong quá trình thực hiện các biện pháp kỹ thuật lâm sinh theo quy trình, quy phạm kỹ thuật hiện hành.

  4. Được khai thác khi rừng đạt tiêu chuẩn khai thác theo thiết kế do Bên giao khóan lập, Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt và cấp giấy phép khai thác. Giá trị lâm sản khai thác sau khi nộp thuế được phân chia như sau: Hộ gia đình, cá nhân nhận khóan được hưởng từ 1,5 - 2% cho mỗi năm nhận khóan khoanh nuôi tái sinh rừng, phần còn lại nộp Bên giao khóan; nếu hộ gia đình, cá nhân nhận khóan tự đầu tư khoanh nuôi xúc tiến tái sinh thì được hưởng từ 2,5 - 3% cho mỗi năm nhận khóan khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng.

Điều 20. Hộ gia đình, cá nhân nhận khóan trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng sản xuất:

  1. Được Bên giao khóan cấp kinh phí trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng theo quy định hiện hành.

  2. Được trồng xen cây nông nghiệp với cây rừng khi rừng chưa khép tán; được sản xuất nông, lâm kết hợp dưới tán rừng nhưng không được làm ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng của cây rừng; được hưởng tòan bộ sản phẩm trồng xen.

  3. Được tận dụng lâm sản trong quá trình thực hiện các biện pháp kỹ thuật lâm sinh theo quy trình, quy phạm kỹ thuật hiện hành.

  4. Khi rừng đạt tiêu chuẩn khai thác, Hộ gia đình, cá nhân nhận khóan thống nhất với Bên giao khóan thời điểm và phương thức khai thác. Giá trị lâm sản khai thác sau khi nộp thuế được phân chia như sau: Hộ gia đình, cá nhân nhận khóan được hưởng từ 2 - 2,5 % cho mỗi năm nhận khóan bảo vệ rừng; phần còn lại nộp Bên giao khóan. Nếu hộ gia đình, cá nhân tự bỏ vốn để trồng, chăm sóc, bảo vệ thì được hưởng 95% giá trị sản phẩm khai thác sau khi nộp thuế, phần còn lại nộp Bên giao khóan. Nếu Hộ gia đình, cá nhân nhận khóan cùng đầu tư với Bên giao khóan thì phân phối theo tỷ lệ góp vốn và ngày công lao động của mỗi bên quy thành tiền.

Điều 21. Hộ gia đình, cá nhân nhận khóan bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng (trừ rừng đặc dụng) được phép sử dụng một phần đất nhận khóan không quá 200 m 2 làm nhà ở để trông nom khu rừng nhận khóan, nhưng phải được Bên giao khóan thỏa thuận bằng văn bản và phải đăng ký với Ủy ban nhân dân xã sở tại.

Điều 22. Hộ gia đình, cá nhân nhận khóan bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng có nghĩa vụ sau đây:

  1. Sử dụng rừng và đất lâm nghiệp nhận khóan đúng mục đích, đúng kế họach đã ghi trong hợp đồng khóan.

  2. Bán sản phẩm sản xuất ra trên đất nhận khóan theo hợp đồng khóan.

  3. Nếu vi phạm hợp đồng gây thiệt hại cho Bên giao khóan thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

Chương 4 ĐIỀU KHỎAN THI HÀNH

Điều 23. Phần giá trị lâm sản nộp ngân sách theo quy định tại Quyết định này được để lại cho xã và chủ yếu được sử dụng vào việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Phần giá trị lâm sản nộp cho Bên giao khóan được sử dụng như sau:

  1. Đối với Ban quản lý rừng đặc dụng, Ban quản lý rừng phòng hộ và các tổ chức Nhà nước khác: là một khỏan thu và chủ yếu được sử dụng vào việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.

  2. Đối với các doanh nghiệp Nhà nước: là khỏan thu từ họat động kinh doanh lâm nghiệp, phục vụ trực tiếp cho việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.

Điều 24. Tổ chức thi hành:

  1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, các Bộ, ngành có liên quan hướng dẫn thi hành Quyết định này.

  2. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng các cơ quan có liên quan và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Điều 25. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký, những quy định trước đây trái với Quyết định này đều bãi bỏ.

Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/quyet-dinh-so-178-2001-qd-ttg-ve-quyen-huong-loi-nghia-vu-cua-ho-gia-dinh-ca-nhan-duoc-giao-duoc-thue-nhan-khoan-rung-va-dat-lam-nghiep--22984.

Dịch vụ liên quan

Văn bản liên quan