Thông tư số 217-TC/NSNNVề việc hướng dẫn khoá sổ và lập quyết toán Ngân sách Nhà nước năm 1996
- Số hiệu
- 217-TC/NSNN
- Loại văn bản
- Thông tư
- Cơ quan ban hành
- Bộ Tài chính
- Ngày ban hành
- 28/11/1996
Toàn văn
THÔNG TƯ Về việc hướng dẫn khóa sổ và lập quyết tóan Ngân sách Nhà nước năm 1996 ______________________ Công tác khóa sổ cuối năm là lập tổng quyết tóan thu, chi ngân sách Nhà nước hàng năm là một việc làm thường xuyên, hết sức quan trọng; năm 1995 có nhiều đơn vị, địa phương làm tốt công tác khóa sổ cuối năm và lập báo cáo quyết tóan gửi về Bộ Tài chính bảo đảm được thời gian và chất lượng; nhưng vẫn còn một số các đơn vị, địa phương chưa chấp hành nghiêm chỉnh những quy định của Bộ Tài chính, gây khó khăn cho công tác phân tích, thuyết trình và tổng hợp báo cáo tổng quyết tóan ngân sách Nhà nước trình Quốc hội. Để thực hiện Luật ngân sách Nhà nước đã được Quốc hội thông qua ngày 20-3-1996, công tác khóa sổ cuối năm và lập tổng quyết tóan ngân sách Nhà nước năm 1996 phải xử lý nhanh, gọn những khỏan thu, chi theo đúng niên độ ngân sách, bảo đảm yêu cầu chính xác, kịp thời. Năm 1996, công tác khóa sổ cuối năm và lập tổng quyết tóan ngân sách nhà nước vẫn thực hiện theo những quy định tại Thông tư 57 TC/NSNN ngày 26-11-1990, Công văn 192 TC/NSNN ngày 18-11-1995 và Thông tư 14 TC/HCVX ngày 28-2-1994 của Bộ Tài chính. Để thực hiện tốt những quy định tại các Thông tư nói trên và đáp ứng được yêu cầu tổng hợp, thuyết trình tổng quyết tóan ngân sách Nhà nước năm 1996 trình Quốc hội, Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể thêm một số điểm sau đây: I- CÔNG TÁC KHÓA SỔ THU, CHI NGÂN SÁCH CUỐI NĂM 1996: Công tác khóa sổ kế tóan thu, chi ngân sách Nhà nước cuối năm được chia thành 2 giai đọan sau: - Thời gian chuẩn bị kết thúc năm ngân sách: bắt đầu từ cuối tháng 11 đến hết tháng 12/1996, các dơn vị hành chính sự nghiệp, cơ quan tài chính, Kho bạc Nhà nước các cấp tiến hành giải quyết các công việc cần thiết trước khi tiến hành khóa sổ kế tóan, thu, chi ngân sách vào cuối ngày 31/12/1996. - Thời gian chỉnh lý quyết tóan: bắt đầu từ ngày 01/01/1997 đến hết ngày 31/03/1997, cơ quan tài chính và Kho bạc Nhà nước các cấp điều chỉnh các khỏan thu, chi ngân sách đã thực hiện nhưng chứng từ còn đang đi trên đường, xử lý các sai sót trong quá trình hạch tóan thu, chi ngân sách và hạch tóan các khỏan chi ngân sách Nhà nước của niên độ năm trước được cấp có thẩm quyền quyết định cho chi tiếp. Thời gian chỉnh lý quyết tóan quy định cho các cấp ngân sách như sau: + Hết tháng 01 năm 1997 đối với ngân sách cấp quận, huyện, thành phố, thị xã trực thuộc tỉnh. + Hết tháng 02 năm 1997 đối với ngân sách cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. + Hết tháng 03 năm 1997 đối với ngân sách trung ương. NHỮNG CÔNG VIỆC CẦN GIẢI QUYẾT TRONG THỜI GIAN CHUẨN BỊ KẾT THÚC NĂM NGÂN SÁCH:
- Đối với các Bộ, ngành, đơn vị dự tóan:
a) Các bộ, các ngành, các tổ chức kinh tế và cơ quan tài chính các cấp có biện pháp cụ thể chỉ đạo đôn đốc các đơn vị, doanh nghiệp thuộc bộ, ngành và địa phương, đối chiếu rà sóat lại và làm thủ tục nộp hết vào ngân sách Nhà nước các khỏan thu ngân sách Nhà nước, kiên quyết không để tình trạng chiếm dụng vốn ngân sách.
b) Các đơn vị dự tóan: phải thường xuyên theo dõi và nắm chắc số dư tài khỏan hạn mức kinh phí và tài khỏan tiền gửi để chủ động chi tiêu, đôn đốc thanh tóan dứt điểm các khỏan tạm ứng, cho vay, đi vay trước ngày 31/12 và đảm bảo các chứng từ thanh tóan có đủ thời gian quay trở lại Kho bạc Nhà nước nơi lưu ký tài khỏan. Số dự hạn mức kinh phí của các đơn vị dự tóan trung ương và địa phương mở tại Kho bạc Nhà nước còn lại đến cuối ngày 31-12-1996 phải hủy bỏ.
c) Các khỏan kinh phí sau đây có số dư đến cuối ngày 31/12/1996 được xét chuyển sang năm 1997 để chi tiêu tiếp: - Các khỏan kinh phí không thuộc nguồn vốn của đơn vị. - Các khỏan kinh phí cấp trước cho năm 1997. - Các khỏan tiền thưởng, tiền lương và những khỏan có tính chất lương theo chế độ quy định phải chi của năm 1996 nhưng chưa chi.
d) Số dư tài khỏan hạn mức và tiền gửi của các đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ đến cuối ngày 31/12/1996 Kho bạc Nhà nước tự động chuyển vào tài khỏan riêng (do Kho bạc Nhà nước trung ương quy định) và được xử lý theo lệnh của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Cục Tài vụ Bộ Quốc phòng và Bộ Nội vụ có trách nhiệm hướng dẫn các đơn vị trực thuộc thực hiện, tổng hợp số dư tài khỏan tiền gửi của các đơn vị trực thuộc, có xác nhận của Kho bạc Nhà nước và tiếp tục hòan chỉnh hồ sơ theo quy định tại điểm e dưới đây gửi Bộ Tài chính để Bộ Tài chính xem xét chuyển số dư sang năm 1997 cho đơn vị.
e) Các khỏan kinh phí còn dư đến cuối ngày 31/12/1996 quy định tại điểm c và d trên đây, nếu cần thiết phải chi tiếp trong năm 1997 thì đơn vị phải làm thủ tục đề nghị chuyển số dư gửi cơ quan Tài chính đồng cấp xét duyêt; hồ sơ đề nghị xét duyệt gồm: - Công văn của đơn vị gửi cơ quan Tài chính và Kho bạc Nhà nước đồng cấp về việc đề nghị chuyển số dư tài khỏan tiền gửi tại thời điểm đề nghị chuyển của đơn vị trước 31/12/1996. - Bảng giải trình chi tiết số dư tài khỏan tiền gửi có xác nhận của Kho bạc Nhà nước nơi đơn vị mở tài khỏan, kèm theo các chứng từ hoặc các hợp đồng cung cấp hàng hóa, dịch vụ chưa hòan thành có liên quan đến số tiền xin chuyển. - Ý kiến của ban, phòng hoặc Vụ quản lý Tài chính chuyên ngành thuộc cơ quan Tài chính. - Đơn vị dự tóan thuộc cấp nào quản lý thì do cơ quan Tài chính cấp đó duyệt. Đối với đơn vị dự tóan trung ương quản lý, Bộ Tài chính quy định như sau: Bộ Tài chính (Vụ NSNN) duyệt số dư tài khỏan tiền gửi của các đơn vị dự tóan trung ương đóng trên địa bàn thành phố Hà Nội, số dư tài khỏan tiền gửi của các đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Nội vụ; Bộ Tài chính ủy quyền cho Sở tài chính vật giá các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương duyệt số dư tài khỏan tiền gửi của các đơn vị dự tóan Trung ương đóng trên địa bàn các tỉnh, thành phố khác (trừ các đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Nội vụ). Kể từ năm 1996, Cơ quan đại diện Bộ Tài chính tại thành phố Hồ Chí Minh không chịu trách nhiệm duyệt số dư tài khỏan tiền gửi của đơn vị dự tóan trung ương đóng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
g) Thời gian xét chuyển số dư cho các đơn vị dự tóan các cấp bắt đầu từ ngày 25/12/1996 đến cuối giờ làm việc ngày 31/12/1996; cho các đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Nội vụ bắt đầu từ ngày 01/01/1997 đến cuối giờ làm việc ngày 31/01/1997. Nếu quá thời hạn trên, đơn vị nào không làm thủ tục chuyển số dư tài khỏan tiền gửi, đề nghị Kho bạc Nhà nước cắt nộp ngân sách Nhà nước, chứng từ nộp tiền ghi chương 99 (A,B,C) lọai 14 khỏan 01 hạng 9 mục 47 (đơn vị dự tóan thuộc ngân sách cấp nào thì nộp vào ngân sách cấp đó). Cơ quan Tài chính không xét thóai trả tiền đã cắt nộp ngân sách cho đơn vị do đơn vị không làm đúng thủ tục và không kịp thời gian theo quy định của Bộ Tài chính.
- Nhiệm vụ của cơ quan Tài chính:
a) Thời hạn chuyển kinh phí cuối năm quy định như sau: - Đối với ngân sách trung ương: + Trước cuối giờ làm việc ngày 15/12/1996 đối với các đơn vị dự tóan trung ương và ngân sách địa phương tại các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Sơn La, Lai Châu, Yên Bái, Lào Cai, Bắc Thái, Quảng Ninh và các tỉnh từ Thừa Thiên - Huế trở vào. + Trước cuối giờ làm việc ngày 18/12/1996: đối với các đơn vị dự tóan trung ương và ngân sách địa phương ở các tỉnh khác (trừ thành phố Hà Nội). + Trước cuối giờ làm việc ngày 20/12/1996: Đối với các đơn vị đóng trên địa bàn Hà Nội. - Đối với ngân sách địa phương: Tùy tình hình thực tế của từng địa phương, Sở Tài chính bàn với Kho bạc Nhà nước tỉnh quy định thời hạn cuối cùng để phân phối hạn mức và cấp phát lệnh chi cho các đơn vị và các quận, huyện cho phù hợp để bảo đảm thời gian khóa sổ quy định chung của Bộ Tài chính.
b) Kiểm tra và xử lý các công việc có liên quan đến ngân sách Nhà nước: cơ quan Tài chính chủ trì phối hợp với Kho bạc Nhà nước làm tốt các công việc sau đây: - Tổ chức kiểm tra, giám sát việc thực hiện chi tiêu trong những ngày cuối năm để tránh hiện tượng chi chạy kinh phí, chuyển vốn vòng vèo thiếu sự kiểm sóat của cơ quan quản lý cấp trên và cơ quan Tài chính. - Xử lý dứt điểm các khỏan đi vay, cho vay, tạm thu, tạm giữ. - Đối chiếu số liệu với các đơn vị có liên quan để đảm bảo số thu, chi ngân sách Nhà nước phát sinh từ ngày 01/1/1996 đến hết ngày 31/12/1996 khợp đúng niên độ ngân sách và hạch tóan đúng Chương, Lọai, Khỏan, Hạng, Mục của mục lục ngân sách Nhà nước. - Kiểm tra việc thực hiện tỷ lệ điều tiết các khỏan thu ngân sách Nhà nước phát sinh trên địa bàn cho các cấp ngân sách theo chế độ phân cấp ngân sách Nhà nước hiện hành và tiến hành điều chỉnh sai sót nếu có. - Thực hiện việc xét chuyển số dư tài khỏan tiền gửi cho các đơn vị dự tóan thuộc cấp mình quản lý và các đơn vị dự tóan trung ương đóng trên địa bàn tỉnh, thành phố.
- Nhiệm vụ Kho bạc Nhà nước:
a) Kiểm tra chặt chẽ việc chi tiêu của các đơn vị dự tóan trong những ngày cuối năm. Nghiêm cấm việc cho phép các đơn vị rút tiền từ tài khỏan hạn mức chuyển vào tài khỏan tiền gửi và ngăn chặn việc chi chạy vốn dưới mọi hình thức.
b) Xác nhận chi tiết từng nội dung số dư tài khỏan tiền gửi cuối ngày 31/12 cho các đơn vị dự tóan có tài khỏan tiền gửi tại Kho bạc Nhà nước. Kho bạc Nhà nước không được tự động chuyển số dư tài khỏan tiền gửi cho các đơn vị dự tóan khi chưa có ý kiến của cơ quan Tài chính đồng cấp.
c) Cuối ngày 31/12/1996 cắt nộp vào ngân sách Nhà nước tòan bộ số dư tài khỏan tiền gửi của các đơn vị dự tóan không làm thủ tục chuyển số dư tài khỏan tiền gửi theo quy định tại điểm e, mục 1 nói trên; cắt chuyển về ngân sách trung ương tòan bộ số dư tài khỏan tiền gửi "Kinh phí ủy quyền".
d) Cuối ngày 31/01/1997 cắt nộp tòan bộ số dư tài khỏan tiền gửi của các đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Nội vụ vào ngân sách trung ương theo quy định tại điểm e mục 1 nói trên.
e) Lập bảng kê chi tiết tòan bộ số dư tài khỏan tiền gửi của các đơn vị dự tóan, các đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ và số dư tài khỏan tiền gửi "kinh phí ủy quyền" đã được cắt nộp ngân sách Nhà nước gửi cơ quan Tài chính đồng cấp. Riêng số dư tài khỏan của các đơn vị dự tóan trung ương đóng trên địa bàn, số dư tài khỏan tiền gửi "kinh phí ủy quyền" Kho bạc Nhà nước tỉnh có trách nhiệm tổng hợp gửi Kho bạc Nhà nước trung ương để Kho bạc Nhà nước trung ương tổng hợp gửi Bộ Tài chính (Vụ NSNN), thời gian chậm nhất là ngày 10/2/1997. II- LẬP QUYẾT TÓAN THU CHI NGÂN SÁCH NĂM 1996 Khi lập báo cáo quyết tóan thu, chi ngân sách Nhà nước năm 1996, các bộ, các địa phương, cơ quan Tài chính và Kho bạc Nhà nước các cấp có trách nhiệm thực hiện và hướng dẫn các đơn vị trực thuộc làm tốt những công việc sau:
- Đối với đơn vị dự tóan:
a) Trước khi lập báo cáo quyết tóan thu, chi ngân sách Nhà nước năm 1996 chính thức, đơn vị phải đối chiếu số liệu thu, chi ngân sách với cơ quan Tài chính và Kho bạc Nhà nước đồng cấp, đảm bảo số kinh phí thực nhận của đơn vị phải khớp đúng với số cấp phát của cơ quan Tài chính, số thực rút tại Kho bạc Nhà nước cả về tổng số và chi tiết đã phân bổ, bản đối chiếu số liệu phải có xác nhận của Kho bạc Nhà nước. Tuyệt đối không được dùng kinh phí của nhiệm vụ chi này để chi cho nhiệm vụ chi khác khi chưa có ý kiến của cơ quan có thẩm quyền.
b) Số kinh phí năm 1995 chưa quyết tóan chuyển sang năm 1996 phải khớp với số thông báo duyệt quyết tóan năm 1995 của cơ quan Tài chính, trường hợp có sự chênh lệch phải giải thích cụ thể trong báo cáo thuyết minh quyết tóan.
c) Báo cáo quyết tóan năm vẫn thực hiện theo quy định tại chế độ kế tóan đơn vị dự tóan ban hành theo Quyết định số 257 TC/CĐKT ngày 1/6/1990 của Bộ Tài chính và Thông tư 14 TC/HCVX ngày 28/2/1994 Bộ Tài chính. - Riêng mục 70: lương hưu và trợ cấp các đối tượng chính sách, không phát sinh ở các đơn vị hành chính sự nghiệp vì vậy các đơn vị hành chính sự nghiệp không được hạch tóan chi vào mục 70 (trừ cơ quan bảo hiểm xã hội Việt Nam). - Chi trợ cấp khó khăn theo Quyết định 201/TTg ngày 09/06/1996 của Thủ tướng Chính phủ được quyết tóan vào L13. K02.H2.M76 không quyết tóan vào mục 75 hoặc Mục 97.
d) Quyết tóan vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm 1996 về cơ bản vẫn thực hiện theo chế độ kế tóan và quyết tóan vốn đầu tư xây dựng cơ bản và các văn bản hướng dẫn lập báo cáo quyết tóan của cơ quan cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản hiện hành. Năm 1996 Bộ Tài chính đề nghị các chủ đầu tư và cơ quan cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản làm tốt các quy định sau đây: - Công trình đầu tư xây dựng cơ bản đã hòan thành trong năm 1996, chủ đầu tư phải lập báo cáo quyết tóan tòan bộ nguồn vốn của công trình đã hòan thành, tình hình sử dụng vốn theo chế dộ quy định hiện hành (trong đó tách riêng phần vốn đã cấp phát và đề nghị quyết tóan trong niên độ ngân sách 1996) gửi cơ quan cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản xét duyệt và tổng hợp quyết tóan tòan bộ vốn đầu tư xây dựng cơ bản của các công trình xây dựng cơ bản hòan thành trong năm 1996 gửi cơ quan Tài chính. Những công trình xây dựng cơ bản quan trọng phải báo cáo quyết tóan riêng trình Chính phủ để Chính phủ trình Quốc hội. - Công trình xây dựng cơ bản chưa hòan thành trong năm 1996, cuối năm chủ đầu tư phải lập báo cáo tòan bộ nguồn vốn đã nhận và đã sử dụng đến cuối năm 1996 (trong đó tách riêng phần vốn xây dựng cơ bản đã cấp và đề nghị quyết tóan trong niên độ ngân sách năm 1996) gửi cơ quan cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản xét duyệt và tổng hợp tòan bộ vốn đầu tư xây dựng cơ bản của các công trình xây dựng cơ bản chưa hòan thành trong năm 1996 gửi cơ quan Tài chính.
e) Đối với những Bộ được Nhà nước giao nhiệm vụ quản lý và chi cho các chương trình mục tiêu, đơn vị dự tóan cấp I phải chịu trách nhiệm lập báo cáo quyết tóan tình hình nhận, cấp phát, sử dụng kinh phí của ngân sách Nhà nước và hiệu quả đã đặt được của các chương trình mục tiêu theo đúng quy định tại Thông tư 14 TC/HCVX ngày 28-02-1994 và Công văn hướng dẫn số 80/TC/NSNN ngày 26/2/1994 của Bộ tài chính. Báo cáo quyết tóan của các chương trình mục tiêu phải được lập riêng không tổng hợp chung với kinh phí hành chính - sự nghiệp của đơn vị và gửi về Bộ Tài chính chậm nhất là ngày 31/03/1997 để Bộ Tài chính xét duyệt và tổng hợp báo cáo trình Chính phủ, để Chính phủ trình Quốc hội.
g) Báo cáo quyết tóan năm của Bộ Quốc phòng và Bộ Nội vụ gửi Bộ Tài chính, phải lập chi tiết như chỉ tiêu dự tóan đầu năm đã được phân bổ theo từng nhiệm vụ chi: chi quản lý hành chính, chi đào tạo, chi nghiên cứu khoa học, chi sự nghiệp kinh tế... và các khỏan chi đặc biệt khác.
- Nhiệm vụ cơ quan Tài chính các cấp:
a) Phải đối chiếu đảm bảo khớp đúng các số liệu thu, chi trong ngân sách, thu, chi ngòai ngân sách; có biện pháp xử lý kịp thời những khỏan thu, chi còn chênh lệch trước khi lập tổng quyết tóan thu, chi ngân sách Nhà nước. Báo cáo quyết tóan thu, chi ngân sách Nhà nước gửi cơ quan tài chính cấp trên phải có xác nhận của Kho bạc Nhà nước đồng cấp.
b) Cần lưu ý hạch tóan và quyết tóan một số khỏan thu, chi ngân sách Nhà nước sau đây: - Thu, chi tiền hàng viện trợ cần phân biệt hai trường hợp sau: + Hàng viện trợ đã được Bộ Tài chính làm thủ tục ghi thu ngân sách trung ương và ghi chi cho ngân sách địa phương, khi ngân sách địa phương nhận được hạch tóan và quyết tóan thu trợ cấp Chương 99B Lọai 14 Khỏan 01 Hạng 2 Mục 48; hạch tóan và quyết tóan chi cho đối tượng sử dụng theo C.L.K.H.M tương ứng của mục lục ngân sách Nhà nước hiện hành. - Hàng viện trợ mà ngân sách địa phương tiếp nhận trực tiếp không làm thủ tục ghi thu, ghi chi qua ngân sách trung ương thì hạch tóan và quyết tóan thu ngân sách địa phương Chương 99 Lọai 14 Khỏan 01 Hạng 5 Mục 42; hạch tóan và quyết tóan chi cho đối tượng sử dụng theo C.L.K.H.M tương ứng của mục lục ngân sách Nhà nước hiện hành. - Khỏan trợ cấp tiền điện chống úng năm 1996 của ngân sách Trung ương chuyển về cho ngân sách địa phương hạch tóan và quyết tóan thu trợ cấp Ngân sách địa phương Chương 99B Lọai 14 Khỏan 01 Hạng 2 Mục 48 như những khỏan trợ cấp khác; hạch tóan và quyết tóan chi cho các đối tượng sử dụng theo C.L.K.H.M tương ứng của Mục lục ngân sách Nhà nước. - Trợ cấp cho ngân sách xã hạch tóan và quyết tóan Chương 99 Lọai 14 Khỏan 01 Hạng 2 Mục 96 không hạch tóan và quyết tóan Mục 97 hoặc 99.
- Về mẫu biểu và thời gian gửi báo cáo:
a) Đối với đơn vị dự tóan: Ngòai mẫu biểu quy định tại chế độ kế họach hành chính sự nghiệp và Thông tư 14 TC/HCVX ngày 28-2-1994 của Bộ Tài chính, đơn vị gửi thêm các tài liêu sau: - Bảng giải trình kinh phí chưa quyết tóan năm 1996 chuyển sang năm 1997 (theo mẫu đính kèm công văn này) và ý kiến đề nghị của cơ quan chủ quản gửi cơ quan Tài chính đồng cấp để cơ quan Tài chính xem xét và giải quyết trước khi ra thông báo duyệt quyết tóan cho đơn vị.
Căn cứ vào bản giải trình và ý kiến đề nghị của đơn vị dự tóan cấp I, cơ quan Tài chính xem xét và xử lý theo nguyên tắc sau: - Các khỏan tạm ứng cho các công trình xây dựng cơ bản, sửa chữa lớn được bố trí trong kế họach đầu năm và có đủ thủ tục quy định về cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản theo chế độ hiện hành thì cho chuyển sang năm 1997 để hòan chỉnh thủ tục thanh tóan và xét duyệt quyết tóan vào năm 1997. - Vật tư, hàng hóa tồn kho không sử dụng nữa đơn vị lập hội đồng thanh lý theo quy định để bán nộp ngân sách Nhà nước. - Vật tư hàng hóa tồn kho không sử dụng được cho năm 1997 thì sử dụng kinh phí ngân sách được cấp của năm 1997 để nộp giảm cấp phát ngân sách của năm 1996. - Các khỏan tạm ứng cho các công trình xây dựng cơ bản, sửa chữa lớn không có trong kế họach được duyệt và các khỏan tạm ứng cho cá nhân, đơn vị, tồn qũy tiền mặt ở đơn vị, tồn khỏan tiền gửi của đơn vị tại Kho bạc Nhà nước, tại Ngân hàng (trừ các khỏan kinh phí quy định tại điểm c mục 1 phần I đã được cơ quan Tài chính xét chuyển sang năm 1997 để chi tiếp) số còn lại phải nộp hòan trả ngân sách Nhà nước bằng cách dùng kinh phí ngân sách cấp năm 1997 để nộp giảm cấp phát ngân sách năm 1996.
b) Đối với cơ quan Tài chính các cấp: Ngòai các mẫu biểu báo cáo quyết tóan thu, chi ngân sách Nhà nước năm 1996 vẫn thực hiện như mẫu đã quy định tại công văn số 116 TC/NSNN ngày 16/12/1989 của Bộ Tài chính, đề nghị địa phương gửi thêm những biểu phụ lục sau: - Bảng tổng hợp thu Ngân sách Nhà nước và chi Ngân sách địa phương (theo mẫu đính kèm). - Bảng phân tích chi tiết số thu khác (Mục 47) và số chi khác của ngân sách địa phương (lọai 14 Mục 97). - Đối với những tỉnh đã sử dụng máy vi tính để lập và tổng hợp báo cáo quyết tóan Sở tài chính gửi thêm đĩa mềm số quyết tóan về Bộ tài chính, số liệu trong báo cáo gửi Bộ Tài chính phải khớp đúng với số liệu trên đĩa, trường hợp còn sai lệch cần điều chỉnh phải xử lý và báo cáo Bộ Tài chính biết để đảm bảo số liệu được chính xác và kịp thời. - Khi lập và tổng hợp quyết tóan các tỉnh cần thực hiện đúng các quy định sau đây: + Báo cáo quyết tóan thu, chi theo ngành KTQD phải đảm bảo nguyên tắc: * Tổng các hạng trong Khỏan phải bằng tổng Khỏan * Tổng các Khỏan trong Lọai phải bằng tổng Lọai * Tổng các Lọai phải bằng Tổng số. Mã Hạng quy định 1 chữ số, bắt đầu từ mã số 1, không có mã số 0; mã Khỏan quy định 2 chữ số, bắt đầu từ mã 01, không có mã 00. * Báo cáo quyết tóan thu ngân sách Nhà nước theo ngành KTQD dưới các dòng tổng số thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh, thu ngân sách Nhà nước của các đơn vị trung ương quản lý, thu ngân sách Nhà nước của các đơn vị tỉnh quản lý, thu ngân sách Nhà nước của các đơn vị huyện quản lý và thu ngân sách Nhà nước khu vực kinh tế tập thể, cá thể (chia theo các mục thu) là hai dòng quyết tóan thu NSTW và quyết tóan thu NSĐP.
c) Thời gian gửi báo cáo quyết tóan: - Báo cáo quyết tóan năm 1996 của đơn vị dự tóan cấp I thuộc tỉnh, thanh phố và báo cáo quyết tóan thu, chi ngân sách các quận, huyện, thị xã trực thuộc tỉnh gửi về Sở Tài chính vật giá chậm nhất hết ngày 28-2-1997. - Báo cáo quyết tóan năm 1996 của đơn vị dự tóan cấp I thuộc trung ương quản lý và báo cáo các chương trình mục tiêu của các Bộ quản lý về Bộ Tài chính chậm nhất hết ngày 31-3-1997. - Báo cáo quyết tóan thu ngân sách Nhà nước, chi ngân sách địa phương năm 1996 của các Sở Tài chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gửi Bộ Tài chính chậm nhất hết ngày 30-4-1997. Nếu quá thời hạn quy định nói trên, đơn vị và địa phương nào chưa gửi báo cáo quyết tóan, cơ quan Tài chính tạm đình chỉ cấp phát cho đến khi nào nhận được báo cáo quyết tóan mới cấp phát tiếp (kể cả vốn đầu tư các công trình xây dựng cơ bản, chương trình mục tiêu quốc gia, các khỏan bổ sung cân đối cho ngân sách cấp dưới và kinh phí ủy quyền của ngân sách trung ương). Cơ quan tài chính không chịu trách nhiệm việc đơn vị gặp khó khăn về kinh phí và kinh phí bị cấp dồn vào cuối năm chi không kịp do đơn vị không nộp báo cáo quyết tóan đúng mẫu biểu và thời gian quy định của Bộ Tài chính. Trên đây là một số điểm hướng dẫn về công tác khóa sổ và lập tổng quyết tóan thu, chi ngân sách năm 1996, các đơn vị dự tóan cấp I trực thuộc Trung ương và địa phương, cơ quan Tài chính và cơ quan Kho bạc các cấp cần có kế họach chuẩn bị chu đáo, khẩn trương tổ chức, hướng dẫn cho các đơn vị trực thuộc thực hiện tốt các quy định của công văn này. Trong quá trình thực hiện có điểm nào vướng mắc, chưa rõ đề nghị phản ảnh về Bộ tài chính để nghiên cứu và giải quyết.
Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/thong-tu-so-217-tc-nsnn-ve-viec-huong-dan-khoa-so-va-lap-quyet-toan-ngan-sach-nha-nuoc-nam-1996--8899.
Dịch vụ liên quan
Văn bản liên quan
- Bãi bỏ của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật và của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số Điều của
- Quy định mức thu, chế độ thu, nộp phí thuộc lĩnh vực đường sắt
- Sửa đổi, bổ sung một số điều của của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán được sửa đổi, bố sung bởi và BTC, của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định giao dịch cổ phiếu niêm yết, đăng ký giao dịch và chứng chỉ quỹ, trái phiếu doanh nghiệp, chứng quyền có bảo đảm niêm yết trên hệ thống giao dịch chứng khoán đưực sửa đổi, bổ sung bởi, của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về hoạt động của công ty chứng khoán đưực sửa đổi, bổ sung bởi
- Sửa đổi, bố sung một số điều của của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về kiểm tra, giám sát, tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; kiểm soát hàng giả và hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được sửa đổi, bổ sung bởi
- Hướng dẫn bố trí nguồn kinh phí, lập dự toán, quản lý, sử dụng, quyết toán kinh phí thực hiện ký kết hợp đồng thực hiện nhiệm vụ của công chức
- Hướng dẫn mức chi tổ chức thực hiện công tác thi đua, khen thưởng tại khoản 1 Điều 48 của Chính phủ quy định về phận cấp, phân quyền trong lĩnh vực thi đua, khen thưởng; quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng
- Quy định mức thu, chế độ thu, nộp phí sát hạch lái xe, lệ phí cấp bằng, chứng chỉ được hoạt động trên các loại phuong tiện và lệ phí đăng ký, cấp biển xe máy chuyên dùng
- Quy định mức thu, chế độ thu, nộp một số khoản phí, lệ phí thuộc lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch