Thông tư số 4-TC/TTVề việc hướng dẫn thi hành chế độ phân phối lợi nhuận xí nghiệp theo của Hội đồng Chính phủ
- Số hiệu
- 4-TC/TT
- Loại văn bản
- Thông tư
- Cơ quan ban hành
- Bộ Tài chính
- Ngày ban hành
- 18/03/1981
Toàn văn
THÔNG TƯ CỦA BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH SỐ 4/TC-TT NGÀY 18- 3- 1981 HƯỚNG DẪN THI HÀNH CHẾ ĐỘ PHÂN PHỐI LỢI NHUẬN XÍ NGHIỆP THEO QUYẾT ĐỊNH SỐ 25-CP NGÀY 21-1-1981 CỦA HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ Theo Quyết định số 25-CP ngày 21-1-1981 của Hội đồng Chính phủ, để phát huy quyền chủ động sản xuất kinh doanh và quyền tự chủ về Tài chính của các xí nghiệp quốc doanh dưới sự lãnh đạo tập trung thống nhất của Nhà nước, từ nay ngòai nhiệm vụ kế họach Nhà nước giao, Nhà nước khuyến khích xí nghiệp chủ động sản xuất thêm sản phẩm chính, sản phẩm phụ, làm các công việc có tính chất công nghiệp hoặc mở rộng diện kinh doanh nếu xí nghiệp còn năng lực sản xuất và có khả năng tự cung ứng những điều kiện vật chất. Như vậy, kế họach của xí nghiệp gồm ba phần: Phần kế họach Nhà nước giao, phần xí nghiệp tự làm và phần sản xuất phụ. Xí nghiệp phải phân biệt thật rõ ràng, tính tóan cân đối cả ba phần kế họach này và tổng hợp vào kế họach thu chi Tài chính của xí nghiệp. Từ nay không còn mặt hàng nào coi là hàng ngòai kế họach của xí nghiệp và việc giao nộp sản phẩm của các xí nghiệp quốc doanh phải theo đúng các chế độ, chính sách về phân phối và lưu thông của Nhà nước.
- Định mức lợi nhuận và giá bảo đảm kinh doanh . Sản phẩm chính và phụ được kế họach Nhà nước giao, hay do xí nghiệp tự làm, mua bán theo giá nào phải hạch tóan theo giá đó. Xí nghiệp phải hạch tóan riêng sản phẩm mua bán theo giá thỏa thuận, tránh để lẫn lộn với sản phẩm mua bán theo giá chỉ đạo.
a) Đối với mặt hàng sản xuất theo kế họach Nhà nước giao, thì căn cứ vào giá thành kế họach và lợi nhuận định mức hiện hành để quy định giá bán buôn xí nghiệp. Phần chênh lệch giữa giá bán buôn công nghiệp với giá bán buôn xí nghiệp là mức thu quốc doanh. Thí dụ: Xí nghiệp đường X giá thành hợp lý 1 tấn đường theo kế họach Nhà nước giao là 1.161đ. Lợi nhuận định mức 4% là 46 đ. Giá bán buôn xí nghiệp: 1,161đ + 46đ = 1.207đ. Giá bán buôn công nghiệp quy định: 2.065đ. Mức thu quốc doanh phải nộp: 2.065đ-1207đ = 858 đồng.
b) Đối với mặt hàng sản xuất theo kế họach tự làm thì giá thành được tính đủ theo giá nguyên vật liệu thực tế đã mua, tính đủ khấu hao cơ bản, khấu hao sửa chữa lớn, và các chi phí khác theo quy định thống nhất của Nhà nước. Còn lợi nhuận định mức và mức thu quốc doanh thì theo Quyết định số 25-CP tính như sau: - "Lợi nhuận định mức (tính theo số tuyệt đối) của sản phẩm tự làm được tính gấp từ 2 đến 4 lần lợi nhuận định mức đối với sản phẩm sản xuất theo kế họach Nhà nước giao". Theo thí dụ trên, lợi nhuận định mức cho 1 tấn đường do xí nghiệp tự làm được tính tối thiểu bằng 46đ x 2 lần = 92đ và tối đa bằng 46đ x 4 lần = 184 đồng. - Giá bán buôn công nghiệp và sản phẩm tự làm về nguyên tắc phải đảm bảo mức thu quốc doanh nộp theo giá chỉ đạo, cụ thể mức thu quốc doanh nộp theo giá chỉ đạo của 1 tấn đường tự làm là 858 đồng. - Lấy mức ấy trừ khỏi giá bán buôn công nghiệp rồi trừ đi giá thành của sản phẩm tự làm sẽ tìm ra số lợi nhuận thực tế. Nếu số lợi nhuận thực tế bằng mức lợi nhuận khuyến khích trong phạm vi tối thiểu và tối đa quy định (từ 92 đồng đến 184 đồng/1 tấn đường như tính tóan trên) thì xí nghiệp được giữ nguyên lợi nhuận đó làm mức lợi nhuận khuyến khích. - Trường hợp số lợi nhuận thực tế của sản phẩm tự làm vượt quá giới hạn tối đa quy định (vượt quá 184đ/1 tấn đường) thì tòan bộ số chênh lệch vượt đó phải nộp vào ngân sách Nhà nước và coi như khỏan thu quốc doanh nộp thêm. - Trường hợp số lợi nhuận thực tế của sản phẩm tự làm chưa đảm bảo mức tối thiểu quy định (dưới 92 đồng /1 tấn đường) thì xí nghiệp được nâng số lợi nhuận thực tế lên bằng mức tối thiểu và giảm bớt mức tương ứng về thu quốc doanh nộp ngân sách Nhà nước. Trong trường hợp này, xí nghiêp chỉ được phép giảm mức thu quốc doanh phải nộp và nâng số lợi nhuận thực tế lên sau khi có sự kiểm tra và xét duyệt của các Sở, Ty Tài chính địa phương. Trường hợp sản phẩm theo kế họach tự làm không trùng hợp với mặt hàng chính được giao theo kế họach Nhà nước tức không có sẵn lợi nhuận định mức của mặt hàng tương tự bán theo giá chỉ đạo để nhân lên gấp đôi hay gấp 4 lần cho sản phẩm tự làm. Trong trường hợp này, mức lợi nhuận khuyến khích của sản phẩm tự làm (tính theo số tuyệt đối) vẫn căn cứ vào lợi nhuận định mức của mặt hàng chính để quy định, nhưng đã lọai trừ yếu tố nguyên vật liệu. Thí dụ: Xí nghiệp nước chấm x có mặt hàng chính trong kế họach Nhà nước giao là nước chấm, nhưng có sản phẩm tự làm là dấm. Ta có số liệu sau đây: Mặt hàng Tổng giá thành Trong đó giá nguyên vật liệu Lợi nhuận định mức Nước chấm (1lít) Dấm (1lít) 1,30đ 1,14đ 0,85đ 0,97đ 0,036đ x Giá thành đã trừ giá nguyên vật liệu của 1 lít nước chấm: 1,30đ - 0,85đ = 0,45đ. Giá thành đã trừ giá nguyên vật liệu của 1 lít dấm: 1,14đ - 0,97đ = 0,17đ. Sau khi lọai trừ yếu tố nguyên vật liệu, nếu bảo đảm tỷ lệ lãi bằng nhau thì lợi nhuận định mức của 1 lít dấm bán theo giá chỉ đạo (x) sẽ là: 0,036đ x 0,17đ X = 0,014đ. 0,45đ Lợi nhuận định mức của 1 lít dấm bán theo giá thỏa thuận sẽ được quy định gấp từ 2 đến 4 lần lợi nhuận định mức bán theo giá chỉ đạo, tức là: Từ 0,014đ x 2 lần = 0,028đ. Đến 0,014đ x 4 lần = 0,056đ. Sau khi tính trừ thu quốc doanh theo mức của mặt hàng chính, nếu sản phẩm tự làm vẫn bảo đảm số lợi nhuận thực tế trong phạm vi tối thiểu tối đa quy định (từ 0,028đ đến 0,056đ/1 lít dấm) thì được giữ nguyên số lợi nhuận đó làm mức lợi nhuận khuyến khích. Nếu số lợi nhuận thực tế của sản phẩm tự làm vượt quá mức tối đa quy định (0,028đ) thì xí nghiệp nộp thêm số chênh lệch vượt đó. Nếu số lợi nhuận thực tế của sản phẩm tự làm dưới mức tối thiểu (0,028đ) thì mức lợi nhuận khuyến khích được nâng lên bằng mức tối thiểu và được trừ bớt mức tương ứng về thu quốc doanh sau khi có sự kiểm tra và xét duyệt của các Sở, Ty Tài chính địa phương. Đối với xí nghiệp sản xuất những mặt hàng trong kế họach Nhà nước giao có lỗ kế họach được xét duyệt thì được miễn thu quốc doanh, nhưng lợi nhuận định mức theo quy định hiện hành cho xí nghiệp này vẫn dùng làm căn cứ để tính mức lợi nhuận khuyến khích của sản phẩm tự làm. Nếu sản phẩm tự làm bán theo giá thỏa thuận thực hiện được số lợi nhuận thực tế vượt quá 4 lần lợi nhuận định mức quy định hiện hành (tính theo số tuyệt đối) thì vẫn tiến hành thu quốc doanh vào số chênh lệch vượt đó.
Căn cứ vào giá bảo đảm kinh doanh và các quy định trên đây đối với mặt hàng sản xuất theo kế họach tự làm, từng xí nghiệp tính ra mức lợi nhuận khuyến khích và mức thu quốc doanh cho từng sản phẩm gửi đến các Sở, Ty Tài chính địa phương để thẩm tra góp ý kiến trước khi gửi đến cơ quan quản lý cấp trên (cùng với cơ quan Tài chính cùng cấp) xét duyệt. Sau khi được xét duyệt, xí nghiệp phải gửi phương án chính thức đến các Sở, Ty Tài chính địa phương để theo dõi và giám sát thu nộp. Khi giá cả biến động nhiều, làm cho giá thành và giá bán sản phẩm thay đổi cần phải quy định lại định mức lợi nhuận và mức thu quốc doanh thì xí nghiệp phải lập phương án xin xét duyệt lại theo trình tự trên.
c) Đối với mặt hàng sản xuất phụ, cách tính mức lợi nhuận khuyến khích cũng tương tự như cách tính đối với sản phẩm tự làm, còn thu quốc doanh được tính chung bằng 10% doanh số. Nhưng mặt hàng phụ bán theo giá thỏa thuận nếu thực hiện được số lợi nhuận thực tế vượt quá 4 lần lợi nhuận định mức quy định hiện hành (tính theo số tuyệt đối) thì không phải nộp thêm thu quốc doanh như sản phẩm tự làm trong thời hạn hai hoặc ba năm do cơ quan chủ quản cấp trên quyết định. Nếu mặt hàng phụ thực hiện được số lợi nhuận thực tế ít hơn bốn lần lợi nhuận định mức quy định hiện hành thì mức lợi nhuận khuyến khích được nâng lên bằng 4 lần và trừ bớt mức tương ứng về thu quốc doanh sau khi có sự kiểm tra và xét duyệt của các Sở, Ty Tài chính địa phương. Nếu các sản phẩm tự làm và sản phẩm phụ bán theo giá thỏa thuận cho thương nghiệp quốc doanh chỉ đủ bù đắp chi phí sản xuất, không có lãi hoặc lãi ít chỉ xấp xỉ bằng lợi nhuận định mức quy định hiện hành (tính theo số tuyệt đối) thì xí nghiệp được Nhà nước khuyến khích bằng cách xét cho miễn nộp thu quốc doanh, giảm hoặc miễn mức trích nộp lợi nhuận. Trong trường hợp này xí nghiệp phải bảo đảm nộp đủ khấu hao, trả đủ nợ và lãi vay ngân hàng nếu có, và kinh doanh không lỗ.
- Phân phối lợi nhuận xí nghiệp: Lợi nhuận xí nghiệp vẫn được phân phối theo quy định hiện hành trong Thông tư số 165-TTg ngày 21-3-1978 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 3-TC/CNXD ngày 28-3-1978 của Bộ Tài chính có sửa đổi, bổ sung theo Quyết định mới số 25-CP ngày 21-1-1981 và theo những quy định của Thông tư này. Tiêu chuẩn để xét thưởng vẫn căn cứ vào mức độ hòan thành kế họach Nhà nước; Nếu hòan thành tòan diện kế họach Nhà nước thì căn cứ vào tòan bộ các chỉ tiêu pháp lệnh được giao và được hưởng mức cao hơn. Nếu không hòan thành tòan diện thì căn cứ vào 2 chỉ tiêu chủ yếu là sản phẩm chủ yếu đã tiêu thụ và giao nộp theo kế họach Nhà nước, lợi nhuận và các khỏan nộp ngân sách Nhà nước và được thưởng ở mức thấp hơn. Đối với phần kế họach tự làm và kế họach sản xuất phụ xí nghiệp phải đảm bảo giao nộp sản phẩm hòan thành kế họach lợi nhuận và các mức thu nộp theo đúng Quyết định số 25-CP ngày 21-1-1981 thì mới được hưởng.
a) Đối với phần kế họach Nhà nước giao: - Khi xí nghiệp hòan thành kế họach Nhà nước, được trích qũy khen thưởng và qũy phúc lợi theo lương cấp bậc cả năm (6% và 8% tiền lương cấp bậc cả năm cho mỗi qũy đối với xí nghiệp các ngành sản xuất, xây dựng, vận tải; 4% và 6% tiền lương cấp bậc cả năm cho mỗi qũy đối với xí nghiệp các ngành phân phối, lưu thông, phục vụ). Không hòan thành kế họach Nhà nước phải giảm trừ mức trích qũy theo các tỷ lệ quy định trong Thông tư số 165-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 3-TC/VP của Bộ Tài chính. Phần của qũy khen thưởng là 70% trong tổng mức trích cho hai qũy, phần của qũy phúc lợi là 30%. Qũy khuyến khích phát triển sản xuất được trích tỷ lệ phần trăm trên nguyên giá tài sản cố định theo mức đã thỏa thuận với từng ngành. Trường hợp không hòan thành kế họach lợi nhuận phải trừ bớt mức trích qũy theo tỷ lệ tương ứng. Ngòai 3 qũy nói trên, nếu xí nghiệp có nhu cầu và có kế họach được xét duyệt thì còn được để lại một phần lợi nhuận để bổ sung vốn lưu động định mức cần tăng thêm hoặc tham gia kế họach đầu tư các công trình thuộc đối tượng ngân sách Nhà nước cấp phát. Nếu không có nhu cầu và kế họach được xét duyệt thì sau khi trích đủ cho 3 qũy, số lợi nhuận còn lại nộp ngân sách Nhà nước. - Trường hợp xí nghiệp có đăng ký cao hơn kế họach Nhà nước giao thì số lợi nhuận đăng ký cao thực hiện được phân phối như sau: 20% nộp ngân sách Nhà nước, 80% trích 3 qũy xí nghiệp . - Trường hợp xí nghiệp không đăng ký cao mà thực hiện vượt kế họach Nhà nước thì lợi nhuận vượt kế họach được phân phối như sau: 40% nộp ngân sách Nhà nước, 60% trích 3 qũy xí nghiệp. Số lợi nhuận trích để cho 3 qũy được phân phối theo tỷ lệ sau đây: 20% cho qũy phát triển sản xuất, 60% cho qũy khen thưởng, 20% cho qũy phúc lợi. Như vậy trong tổng mức trích qũy cho 2 qũy khen thưởng và phúc lợi, vẫn dành khỏang 70% trích vào qũy khen thưởng. Theo mức khống chế cũ thì qũy khen thưởng không vượt quá 1 tháng rưỡi lương cấp bậc, nay nâng lên 3 tháng lương cấp bậc (theo quyết định số 25-CP). số vượt quá 3 tháng lương cấp bậc sẽ chuyển sang qũy phúc lợi.
b) Đối với phần kế họach tự làm của xí nghiệp. Tiêu chuẩn để xét thưởng căn cứ vào hai chỉ tiêu chủ yếu là sản phẩm đã tiêu thụ và giao nộp, lợi nhuận và các khỏan nộp ngân sách Nhà nước theo Quyết định số 25-CP ngày 21-1-1981 và những quy định trong thông tư này. Xí nghiệp chỉ được giữ lại một phần sản phẩm để đổi lấy vật tư (kể cả vật tư nhập khẩu) để tiếp tục sản xuất, theo tỷ lệ do bộ trưởng ngành chủ quản (đối với xí nghiệp Trung ương) hoặc chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố (đối với xí nghiệp địa phương) cho phép. Phần sản phẩm được giữ lại để đổi lấy vật tư phải được hạch tóan đầy đủ theo giá bán buôn công nghiệp tức giá thành sản phẩm, lợi nhuận định mức và mức thu quốc doanh theo quy định. Trường hợp hàng đổi hàng thì căn cứ vào tỷ lệ hiện vật trao đổi cùng với giá cả mua và bán tương ứng để hạch tóan và thanh tóan. Nếu trong giá thanh tóan có mức thu quốc doanh thì xí nghiệp phải nộp đủ số thu quốc doanh cho số hàng đem đi trao đổi. Nếu xí nghiệp vi phạm các chính sách, chế độ về quản lý vật tư hàng hóa, quản lý Tài chính, tiền tệ và giá cả thì tùy theo lỗi nặng nhẹ, cứ mỗi trường hợp vi phạm xí nghiệp phải giảm trừ từ 2% đến 5% mức trích cho mỗi qũy khen thưởng và phúc lợi về phần kế họach tự làm. Lợi nhuận phần xí nghiệp tự làm được phân phối như sau: Nộp vào ngân sách Nhà nước 20%, phần còn lại được sử dụng cho 3 qũy xí nghiệp theo tỷ lệ sau đây: 20% cho qũy phát triển sản xuất, 60% cho qũy khen thưởng, 20% cho qũy phúc lợi.
c) Đối với phần sản xuất phụ. Tiêu chuẩn để xét thưởng căn cứ vào hai chỉ tiêu chủ yếu là sản phẩm đã tiêu thụ và giao nộp, lợi nhuận và các khỏan nộp ngân sách Nhà nước theo Quyết định số 25-CP ngày 21-1-1981 và những quy định trong Thông tư này. Xí nghiệp chỉ được giữ lại không quá 10% sản phẩm phụ để làm hiện vật thưởng cho công nhân, viên chức trong xí nghiệp. Phần sản phẩm dùng làm hiện vật thưởng phải được hạch tóan theo giá bán buôn xí nghiệp tức giá thành sản phẩm và lợi nhuận định mức theo quy định và được miễn thu quốc doanh. Nếu xí nghiệp vi phạm các chính sách, chế độ về quản lý vật tư hàng hóa, quản lý tài chính, tiền tệ và giá cả thì tùy theo lỗi nặng, nhẹ, cứ mỗi trường hợp vi phạm xí nghiệp phải giảm trừ từ 2% đến 5% mức trích cho mỗi qũy khen thưởng và phúc lợi về phần sản xuất phụ. Lợi nhuận về phần sản xuất phụ được phân phối như sau: Nộp vào ngân sách Nhà nước 15%, phần còn lại được sử dụng cho 3 qũy xí nghiệp theo tỷ lệ do giám đốc xí nghiệp bàn bạc thỏa thuận với công đòan để quyết định.
- Đăng ký kế họach hàng qúy và tạm trích lợi nhuận xí nghiệp hàng qúy . Xí nghiệp phải có kế họach năm hoặc qúy được xét duyệt ( phần kế họach Nhà nước giao và phần kế họach xí nghiệp tự làm), bao gồm cả phần kế họach sản xuất phụ đã được tổng hợp thành kế họach thu chi tài chính của xí nghiệp.
Căn cứ vào kế họach năm hoặc qúy được phê duyệt và Thông tư số 20-TC/VP ngày 17-12-1979 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc xây dựng kế họach và tổng hợp kế họach tài chính bắt đầu từ năm 1980, xí nghiệp lựa chọn các chỉ tiêu thích hợp để đăng ký kế họach hàng qúy. Bản đăng ký kế họach qúy (có chia ra từng tháng) phải gửi cho các Sở, Ty Tài chính địa phương trong 10 ngày đầu qúy. Sau khi có quyết tóan qúy, nếu được các Sở, Ty Tài chính địa phương thẩm tra xác nhận đã thực hiện được mức đăng ký, không vi phạm các chính sách, chế độ về quản lý vật tư hàng hóa, quản lý tài chính, tiền tệ và giá cả thì xí nghiệp được tạm trích trước 75% số lợi nhuận để lại cho 3 qũy xí nghiệp theo mức kế họach đã đăng ký. Nếu vi phạm các chính sách, chế độ thì các Sở, Ty Tài chính địa phương quyết định rút mức tạm trích trước xuống 50%. Trường hợp gặp khó khăn không quyết định được thì xí nghiệp và các Sở, Ty Tài chính địa phương báo cáo lên cơ quan quản lý cấp trên giải quyết. Đến cuối năm, xí nghiệp phải thanh tóan dứt khóat các số tiền được tạm trích hàng qúy trên cơ sở quyết tóan năm được cơ quan chủ quản cấp trên xét duyệt chính thức sau khi tham khảo nhận xét và kiến nghị của cơ quan tài chính Nhà nước đối với xí nghiệp được duyệt.
-
Sử dụng qũy khen thưởng. Xí nghiệp phải tập trung qũy khen thưởng được trích thuộc 3 phần kế họach a + b + c để phân phối theo những tiêu chuẩn chung cho tòan thể công nhân, viên chức xí nghiệp, bảo đảm nguyên tắc phân phối theo sự đóng góp công sức và hiệu quả thật sự đem lại của từng ngươì. Giám đốc xí nghiệp ngòai việc sử dụng qũy khen thưởng để khen thưởng những tập thể và cá nhân có thành tích trong việc hòan thành kế họach của xí nghiệp, và khen thưởng đột xuất trong năm, còn được sử dụng qũy này để khen thưởng cho các đơn vị có quan hệ hợp đồng kinh tế với xí nghiệp, và đã góp phần cụ thể vào việc hòan thành kế họach của xí nghiệp.
-
Qũy dự phòng của liên hiệp các xí nghiệp quốc doanh . Đối với xí nghiệp lập được kế họach tích cực, về phần kế họach Nhà nước giao (lọai trừ các yếu tố khách quan như đầu tư xây dựng cơ bản thêm, thay đổi giá cả, .v.v...) nếu số lợi nhuận nộp ngân sách Nhà nước năm nay vượt hơn năm trước thì sau khi có quyết tóan năm được xét duyệt chính thức, còn được trích 5% số lợi nhuận nộp vượt hơn năm trước để thành lập qũy dự phòng của liên hiệp các xí nghiệp quốc doanh nhằm hỗ trợ về tài chính cho các xí nghiệp trực thuộc theo quy định trong Thông tư số 2-TC/VP ngày 18-1-1980 của Bộ Tài chính về chế độ tài chính liên hiệp các xí nghiệp quốc doanh.
-
Điều khỏan thi hành. Thông tư này có hiệu lực thi hành ngay vào việc xét khen thưởng hòan thành kế họach của xí nghiệp năm 1980. Khi xét duyệt quyết tóan năm 1980, phải tính tóan lại số tích lũy thu nộp cho ngân sách, số lợi nhuận để lại trích qũy xí nghiệp theo các quy định mới để thanh tóan dứt khóat quan hệ thu nộp giữa ngân sách với xí nghiệp. Vì chế độ mới ban hành nên đối với năm 1980, chưa đặt vấn đề phạt vi phạm chế độ chính sách, giảm mức trích qũy khen thưởng và qũy phúc lợi đối với phần tự làm và sản xuất phụ. Việc phân biệt ra ba phần kế họach của xí nghiệp do xí nghiệp xác định và cơ quan chủ quản cấp trên trực tiếp xét duyệt và được dùng làm căn cứ để thanh tóan số thu nộp với ngân sách năm 1980. Trường hợp nào không phân biệt được sản xuất tự làm và sản xuất phụ thì tạm thời áp dụng chế độ như sản xuất phụ để thanh tóan đối với phần làm ngòai kế họach Nhà nước thuộc trường hợp ấy trong năm 1980. Nếu việc thanh tóan số thu nộp với ngân sách gặp khó khăn, hoặc trở ngại đến quyền chủ động sản xuất kinh doanh, không khuyến khích tăng cường hạch tóan kinh tế thì xí nghiệp phải báo cáo kịp thời lên cơ quan quản lý cấp trên cung bàn bạc thỏa thuận với cơ quan tài chính cùng cấp để giải quyết từng trường hợp cụ thể. Bắt đầu từ kế họach năm 1981, nhất thiết phải chấp hành theo đúng quy định của Quyết định số 25-CP ngày 21-1-1981 và những quy định của thông tư này. Các xí nghiệp ngay sau khi nhận được thông tư này phải đăng ký với các Sở, Ty Tài chính địa phương các chỉ tiêu kế họach hàng qúy trên cơ sở kế họach qúy hoặc năm 1981 đã được xét duyệt để được áp dụng ngay chế độ trích thưởng hàng qúy sau khi có quyết tóan qúy. Đối với các ngành có đặc điểm sản xuất kinh doanh riêng, yêu cầu các Bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trao đổi với Bộ Tài chính để quy định vận dụng chế độ chung này cho thích hợp với từng ngành có đặc điểm cần chiếu cố, đồng thời bảo đảm sự tập trung thống nhất cần thiết của Nhà nước về mặt quản lý tài chính. Võ Trí Cao (Đã Ký)
Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/thong-tu-so-4-tc-tt-ve-viec-huong-dan-thi-hanh-che-do-phan-phoi-loi-nhuan-xi-nghiep-theo-quyet-dinh-so-25-cp-21-1-1981-cua-hoi-dong-chinh-phu--4047.
Dịch vụ liên quan
Văn bản liên quan
- Bãi bỏ của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật và của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số Điều của
- Quy định mức thu, chế độ thu, nộp phí thuộc lĩnh vực đường sắt
- Sửa đổi, bổ sung một số điều của của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán được sửa đổi, bố sung bởi và BTC, của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định giao dịch cổ phiếu niêm yết, đăng ký giao dịch và chứng chỉ quỹ, trái phiếu doanh nghiệp, chứng quyền có bảo đảm niêm yết trên hệ thống giao dịch chứng khoán đưực sửa đổi, bổ sung bởi, của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về hoạt động của công ty chứng khoán đưực sửa đổi, bổ sung bởi
- Sửa đổi, bố sung một số điều của của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về kiểm tra, giám sát, tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; kiểm soát hàng giả và hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được sửa đổi, bổ sung bởi
- Hướng dẫn bố trí nguồn kinh phí, lập dự toán, quản lý, sử dụng, quyết toán kinh phí thực hiện ký kết hợp đồng thực hiện nhiệm vụ của công chức
- Hướng dẫn mức chi tổ chức thực hiện công tác thi đua, khen thưởng tại khoản 1 Điều 48 của Chính phủ quy định về phận cấp, phân quyền trong lĩnh vực thi đua, khen thưởng; quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng
- Quy định mức thu, chế độ thu, nộp phí sát hạch lái xe, lệ phí cấp bằng, chứng chỉ được hoạt động trên các loại phuong tiện và lệ phí đăng ký, cấp biển xe máy chuyên dùng
- Quy định mức thu, chế độ thu, nộp một số khoản phí, lệ phí thuộc lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch