Sắc lệnh số 79-TP/NĐVề việc mỗi Kỳ một Hội đồng phán định thẩm quyền giữa Toà án quân sự, Toà án đặc biệt và Toà án thường
- Số hiệu
- 79-TP/NĐ
- Loại văn bản
- Sắc lệnh
- Cơ quan ban hành
- Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
- Ngày ban hành
- 03/04/1946
Toàn văn
SẮC LỆNH Về mỗi kỳ một “Hội đồng Phán định thẩm quyền giữa tòa án quân sự, tòa án đặc biệt và tòa án thường” CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA Chiểu chi Sắc lệnh ngày 23-11-1945 về Tòa án đặc biệt; Chiểu chi Sắc lệnh ngày 14-2-1946 về Tòa án quân sự; Chiểu chi nghị định Bộ trưởng Bộ Tư pháp ngày 25-2-1946 về Tòa án quân sự; Xét cần phải thiết lập một cơ quan cao cấp để giải quyết những vụ phân tranh quyền hạn giữa Tòa án quân sự, Tòa án đặc biệt cùng Tòa án thường; Sau khi đã được Hội đồng Chính phủ thỏa thuận, RA SẮC LỆNH:
Điều 1: Nay lập tại mỗi kỳ một "Hội đồng phán định thẩm quyền giữa Tòa án quân sự, đặc biệt và Tòa án thường". Trụ sở của Hội đồng ấy là ở Hà Nội, Thuận Hóa và Sài Gòn.
Điều 2: Hội đồng phán định thẩm quyền gồm có: - Bộ trưởng Bộ Tư pháp hoặc người đại diện là Chủ tịch Ủy ban hành chính kỳ Chủ tịch - Chánh nhất Tòa Thượng thẩm Hội viên - Chưởng lý Tòa Thượng thẩm Hội viên Một viên lục sự do ông Chưởng lý chỉ định sẽ giúp Hội đồng và giữ giấy má.
Điều 3: Hội đồng phán định thẩm quyền có thẩm quyền phán định: 1- Các việc phân tranh về thụ lý; 2- Các việc phân tranh về di lý; giữa Tòa án quân sự, Tòa án đặc biệt và Tòa án thường.
Điều 4: Các người sau này có quyền khởi tụng về phân tranh quyền hạn: - Bộ trưởng Bộ Tư pháp; - Bộ trưởng Bộ Nội vụ; - Công cáo ủy viên các Tòa án quân sự; - Chưởng lý và Biện lý.
Điều 5: Mỗi khi có một tội phạm do hai tòa án mà một là hoặc Tòa án quân sự, hoặc Tòa án đặc biệt, hoặc Tòa án thường cùng thụ lý, thì tòa án nào nếu xét rằng mình thực có thẩm quyền có thể viết giấy yêu cầu tòa án đối phương hoặc di lý và trả hồ sơ cho mình, hoặc nếu không sẽ phải để hồ sơ lên H.D.P.D.T.Q. xét. Bản yêu sách thẩm quyền đó sẽ nói rõ các lý do của mình. Bản thanh tra đặc biệt hoặc Biện lý hoặc Công cáo ủy viên của Tòa án đối phương khi nhận được bản yêu sách đó trong hạn 5 ngày phải: 1- Hoặc trao hồ sơ vụ án tương tranh sang tòa án yêu sách có thẩm quyền, và như thế thì việc đến đấy là xong. 2- Hoặc nếu không bằng lòng bản yêu sách đó, sẽ trả lời cho tòa án đối phương biết và làm một tờ thuyết trình binh vực quan điểm của mình, kèm cả bản yêu sách thẩm quyền của tòa án đối phương cùng cả hồ sơ vụ án tương tranh lên ông Chủ tịch H.D.P.D.T.Q. xét.
Điều 6: Nếu một tòa án đã nhận được bản yêu sách thẩm quyền mà không chịu di lý và cũng không chịu giả lời cùng đệ hồ sơ lên ông Chủ tịch H.D.P.D.T.Q., thì tòa án yêu sách thẩm quyền có thể gửi bản sao bản yêu sách của mình cùng hồ sơ, nếu có, lên ông Chủ tịch H. D. P. D. T. Q để khởi tụng vụ phân tranh quyền hạn.
Điều 7: Mỗi khi cả Tòa án quân sự hay Tòa án đặc biệt lẵn Tòa án thường đều lần lượt tuyên án không có thẩm quyền xét xử một việc thì Ban thanh tra đặc biệt hoặc Biện lý hoặc Công cáo ủy viên của tòa án nào sau cùng đã tuyên án về thẩm quyền sẽ đệ hồ sơ lên ông Chủ tịch H.D.P.D.T.Q. để khởi tụng về phân tranh di lý nói trên.
Điều 8: Ông Chủ tịch H.D.P.D.T.Q. có thể tự mình hoặc cử một hội viên trong Hội đồng làm ủy viên thuyết trình vụ phân tranh trước H.D.P.D.T.Q. Vì ủy viên thuyết trình đó có thể hỏi các tòa án tương tranh cho những tài liệu cần thiết để giúp ích cho sự phân định của Hội đồng.
Điều 9: H.D.P.D.T.Q. nếu xét cả hai tòa án tương tranh đều vô thẩm quyền có thể giao việc phạm pháp cho một tòa án thứ ba xét xử.
Điều 10: H.D.P.D.T.Q. sẽ quyết nghị trong một hạn ngăn nhất sau khi nhận được hồ sơ vụ án phân tranh quyền hạn.
Điều 11: H.D.P.D.T.Q. xét xử ở trong phòng kín, chỉ bằng vào giấy má bút lục; những quyết nghị của Hội đồng ấy sẽ chung thẩm.
Điều 12: Bản quyết nghị phán định thẩm quyền sẽ do viên lục sự giúp việc H.D.P.D.T.Q. gửi cùng với cả hồ sơ vụ án trả tòa án nào có thẩm quyền. Đồng thời một bản sao bản quyết nghị đó sẽ gửi báo cho tòa án đối phương biết.
Điều 13: Một nghị định Bộ trưởng Bộ Tư pháp, nếu cần, sẽ ấn định các chi tiết để thi hành Sắc lệnh này.
Điều 14: Các ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ Tư pháp có nhiệm vụ thi hành Sắc lệnh này. Hồ Chí Minh (Đã ký)
Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/sac-lenh-so-43-ve-viec-moi-ky-mot-hoi-dong-phan-dinh-tham-quyen-giua-toa-an-quan-su-toa-an-dac-biet-va-toa-an-thuong--697.
Dịch vụ liên quan
Văn bản liên quan
- Về việc chỉ định các cán bộ vào uỷ viên UBHC liên khu 4
- sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật
- Về việc cử các vị vào Ban Thanh tra của Chính phủ
- Về việc bãi bỏ Sắc lệnh số 64 ngày 23-11-1945 thành lập ban thanh tra đặc biệt - Thành lập ban thanh tra trực thuộc Thủ tướng phủ
- Về việc cử cán bộ vào bộ tư lệnh quân đội địa phương và dân quân liên khu Việt bắc
- Về việc cử cán bộ vào UBKCHC Liên khu Việt bắc
- Về việc chỉ định ông Đinh Công Phu làm cố vấn UBKCHC Liên khu Việt bắc
- Về việc đặt nghĩa vụ quân sự cho tất cả công dân Việt nam từ 18 đến 45 tuổi (đàn ông)