Thông tư số 017-TC-TĐT-TTvề việc nộp vào ngân sách các khoản thu của cơ quan, đoàn thể hành chính, sự nghiệp

Số hiệu
017-TC-TĐT-TT
Loại văn bản
Thông tư
Cơ quan ban hành
Bộ Tài chính
Ngày ban hành
15/07/1963
Lĩnh vực
Tài chính hành chính sự nghiệp

Toàn văn

BỘ TÀI CHÍNH

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 017-TC-TĐT-TT

Hà Nội, ngày 15 tháng 07 năm 1963

THÔNG TƯ

Về việc nộp vào ngân sách các khỏan thu của cơ quan, đòan thể hành chính, sự nghiệp Theo tinh thần Chỉ thị số 32-CT-LB ngày 26-12-1962 của Liên Bộ Tài chính-Ngân hàng Nhà nước về chế độ cấp phát vốn ngân sách (chế độ cấp phát hạn mức), tài khỏan "tiền gửi vãng lai khác 15-48" không phải là tài khỏan tiền gửi do Ngân sách cấp, mà là tiền gửi của tập thể cơ quan đó, như tiền Đảng phí; đòan phí, tiền ủng hộ riêng cho đơn vị, tiền tạm gửi không liên quan đến vốn ngân sách, tiền ăn do công nhân viên, cán bộ, học sinh đóng vào quán ăn tập thể... còn tiền do ngân sách cấp, qua cấp phát hạn mức, thì nhất thiết không được rút ra để lưu ký vào tài khỏan "15-48" này. Các nguồn vốn khác của ngân sách như thu hồi các khỏan chi năm trước, thu hồi tạm ứng của ngân sách, thu tiền nhà, điện, nước của cán bộ, công nhân viên hoặc bán tài sản của cơ quan vv... cũng không được nộp vào tài khỏan "15-48", mà phải nộp trực tiếp vào ngân sách Nhà nước. Qua việc kiểm tra tài khỏan "tiền gửi vãng lai khác 15-48" của cơ quan, đòan thể ở một số địa phương, Bộ Tài chính phát hiện thấy nhiều cơ quan, đơn vị hành chính, sự nghiệp sử dụng tài khỏan đó không đúng chế độ quy định: - Rất nhiều khỏan tiền không phải của tập thể cơ quan mà là của Ngân sách Nhà nước đã đem gửi vào tài khỏan "15-48" đó; - Vốn lưu động thừa, kinh phí chuyên dùng thừa, thậm chí hạn mức kinh phí còn thừa cũng rút ra, đem lưu ký vào tài khỏan đó; những số tiền này, có cơ quan gửi hàng trăm, hàng nghìn đồng, có khi lên tới bốn, năm trăm nghìn đồng; - Một số trường hợp, có những khỏan tiền tạm giữ từ năm này qua năm khác, đáng ra đã thanh tóan nộp cho ngân sách, nhưng vẫn cứ để ở tài khỏan "15-48"; - Có cơ quan đã lấy tiền ở tài khỏan "15-48" chi tiêu trước, rồi rút kinh phí hạn mức để trả sau. Đặc biệt có cơ quan lại mở 2 tài khỏan tiền gửi "15-48" ở 2 Chi nhánh Ngân hàng khác nhau rồi rút hạn mức ở nơi này chuyển vào tài khỏan "15-48" ở nơi khác. Những hiện tượng trên đã gây ra tình trạng phân tán vốn chiếm dụng vốn của Ngân sách, tạo điều kiện cho việc chi tiêu nhập nhằng, sai nguyên tắc, chế độ, là những mầm mống đưa đến lãng phí, tham ô. Để tăng cường công tác quản lý thu chi ngân sách và để đẩy mạnh tăng thu, tiết kiệm chi, Bộ Tài chính thấy cần phải nhắc lại và quy định thêm một số nguyên tắc về việc nộp các khỏan thu của cơ quan đòan thể hành chính, sự nghiệp như sau:

  1. Các khỏan thu sự nghiệp, thu bán tài sản công, thu hồi các khỏan chi năm trước, thu tiền nhà, điện, nước của cán bộ, công nhân viên,vv... nói chung là những khỏan thu của ngân sách, phải làm giấy nộp tiền ghi rõ tên và mục lục thu của ngân sách để nộp ngay vào ngân sách, tuyệt đối không được để ở qũy của cơ quan hay lưu ký vào tài khỏan "15-48" ở Ngân hàng.

  2. Tiền cấp phát hạn mức rút ra chi tiêu không hết, hoặc không chi tiêu được, dù rút bằng tiền mặt, bằng chuyển khỏan hay bằng séc hạn mức mua hàng ở mậu dịch; đều phải nộp trả lại cho Ngân hàng, để khôi phục hạn mức kinh phí theo đúng lọai, khỏan, hạng, mục đã rút. Đơn vị nộp phải làm giấy nộp tiền (mẫu số 5-TC nói trong chỉ thị số 32-CT-LB ngày 26-12-1962 của liên Bộ Tài chính-Ngân hàng Nhà nước về cấp phát hạn mức), mà nhất thiết không được gửi vào tài khỏan "15-48" ở Ngân hàng.

  3. Tuyệt đối ngăn cấm việc rút kinh phí hạn mức ra để lưu ký vào tài khỏan "15-48" cũng như việc một cơ quan mở 2 tài khỏan "15-48" ở hai chi nhánh hoặc chi điếm Ngân hàng khác nhau để rút kinh phí hạn mức ở nơi này đem gửi vào tài khỏan "15-48" ở nơi kia và ngược lại. Nguyên tắc là mỗi cơ quan, đơn vị dự tóan chỉ được mở một tài khỏan tiền gửi vãng lai khác "15-48" ở một chi nhánh hoặc chi điếm Ngân hàng, nơi mà đơn vị đã đăng ký để giao dịch về kinh phí cấp phát theo hạn mức. Nếu cơ quan có nhiều bộ phận đóng trụ sở ở nhiều nơi, sẽ mở tài khỏan ở nơi nào thuận tiện nhất (như gần trụ sở chính hay gần bộ phận tài vụ…) hoặc sẽ chuyển những bộ phận ở quá xa và có đủ điệu kiện thành những đơn vị cấp 2 hoặc cấp 3 riêng, để sẽ giao dịch về hạn mức kinh phí và mở tài khỏan tiền gửi riêng. Không thể viện lý do cơ quan ở phân tán nhiều nơi để mở nhiều tài khỏan tiền gửi. Chỉ khi nào có bộ phận tách ra thành một đơn vị riêng mới mở thêm một tài khỏan cho đơn vị mới.

  4. Đối với những khỏan tiền tạm giữ, từ nay các cơ quan đơn vị phải tìm mọi cách thanh tóan nhanh chóng, tuyệt đối không tạm giữ một món tiền nào lâu quá 3 tháng. Để thực hiện nguyên tắc này, cần phải xử lý theo cách thức như sau: - Nêu tạm giữ do mua bán hộ, thanh tóan hộ hay mua tài liệu, ấn chỉ thì phải thanh tóan trong vòng 3 tháng kể từ ngày nhận tiền tạm giữ. Hết 3 tháng mà không thực hiện được thì hòan trả lại người hoặc đơn vị gửi tiền; - Nếu tạm giữ tiền lương của ngừơi đi vắng cũng phải tìm cách chuyển cho người đó cho nhanh chóng (dĩ nhiên là phải có bảo đảm chắc chắn). Hết hạn 3 tháng hoặc tuy chưa hết hạn nhưng nhận thấy chưa thể chuyển ngay được thì làm giấy nộp tiền vào Ngân hàng, khôi phục lại hạn mức được cấp để khi người đó trở về sẽ rút hạn mức để trả sau, không được tạm giữ ở tài khỏan "15-48" hay ở qũy cơ quan; - Tiền lương của cán bộ đi học phải trừ theo tỷ lệ quy định và đơn vị chỉ được lĩnh số tiền thực tế phải chi. Tuyệt đối không được lĩnh tòan vẹn số lương theo mức bình thường rồi lấy số tiền thừa đem lưu ký vào tài khỏan "15-48". Trường hợp bất thường đã lĩnh về nhiều hơn số tiền thực tế phải trả thì sau khi phát lương phải nộp ngay vào Ngân hàng số tiền còn thừa, coi như nộp giảm cấp phát vào ngân sách. Tiền lương của cán bộ đau ốm, sinh đẻ, bị tai nạn lao động do qũy bảo hiểm xã hội đài thọ, nếu cơ quan đã trả lương rồi thì coi như là tạm ứng và phải đòi qũy bảo hiểm xã hội để nộp trả ngân sách coi như giảm chi (không coi là khôi phục kinh phí); - Hiện nay, nhiều cơ quan còn nhiều số tiền tạm giữ khá lớn, hàng mấy năm chưa thanh tóan. Cơ quan Tài chính cần phối hợp với Ngân hàng đồng cấp tổ chức một đợt kiểm tra và cùng với các đơn vị thanh tóan cho hết những số tiền tạm giữ đó để nộp vào ngân sách hoặc trả lại cho đơn vị gửi tiền, tuyệt đối không để kéo dài tình trạng tạm giữ mãi. Khi quyết định trả lại cho đơn vị gửi tiền một khỏan tạm giữ nào, cơ quan Tài chính cần cân nhắc kỹ lưỡng, chi trả cho đơn vị đó những khỏan tiền thực sự cần thiết. Ngược lại, nếu khỏan tiền không có lý do cần thiết phải tồn tại ở đơn vị đó nữa (như tiền thuộc niên khóa cũ, đã quyết tóan rồi, của đơn vị đã giải thể, vv…)thì phải nộp ngay vào ngân sách mà không chuyển trả cho đơn vị cũ đã gửi tiền nữa.

  5. Tiền phí tồn sửa đường các cơ quan rút hạn mức để nộp cho cơ quan giao thông, nhưng về sau vì có một số xe không chạy nên cơ quan giao thông hòan lại thì không thể đem lưu ký vào tài khỏan "15-48" mà phải làm thủ tục phục hồi hạn mức kinh phí theo mẫu số 5-TC trong chỉ thị về "cấp phát hạn mức". Chú ý là các cơ quan không được rút hạn mức kinh phí để nộp phí tổn sửa đường cho các xí nghiệp mà phải do xí nghiệp tự giải quyết. Trên đây là một số nguyên tắc cụ thể trong chế độ thu nộp của các cơ quan, đòan thể hành chính sự nghiệp nhằm giải quyết tình trạng phân tán, ứ đọng vốn của ngân sách, nhất là ứ đọng ở tài khỏan tiền gửi vãng lai khác của các cơ quan, đơn vị mở tại Ngân hàng. Các cơ quan tài chính cần bàn bạc với Ngân hàng các cấp, nghiên cứu kỹ, liên hệ kiểm điểm những thiếu sót của địa phương, có kế họach cụ thể bổ khuyết và phổ biến cho các đơn vị dự tóan trong phạm vi quản lý của địa phương cùng thi hành. Bản thân cơ quan Tài chính phải phối hợp với ngân hàng để kiểm tra, đôn đốc các đơn vị thực hiện. Nếu có những trường hợp đọng tiền do nguyên nhân khác, cơ quan Tài chính địa phương có thể vận dụng tinh thần những nguyên tắc đã đề ra ở trên để giải quyết cho thích hợp hoặc nếu cần sẽ trao đổi với Bộ Tài chính để góp ý kiến thêm. Các cơ quan Tài chính cần, qua đợt kiểm tra và công việc bổ khuyết này, tìm ra những thiếu sót, sơ hở của cơ quan mình cũng như của Ngân hàng các cấp để có kế họach khắc phục, đồng thời báo cáo cho Bộ tài chính và Ngân hàng trung ương biết.

KT. BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH THỨ TRƯỞNG (Đã ký) Đào Thiện Thi

Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/thong-tu-so-017-tc-tdt-tt-ve-viec-nop-vao-ngan-sach-cac-khoan-thu-cua-co-quan-doan-the-hanh-chinh-su-nghiep--75244.

Dịch vụ liên quan

Văn bản liên quan