Thông tư số 73-TTgVề việc quản lý đất của tư nhân cho thuê, đất vắng chủ, đất bỏ hoang ở nội thành, nội thị
- Số hiệu
- 73-TTg
- Loại văn bản
- Thông tư
- Cơ quan ban hành
- Thủ tướng Chính phủ
- Ngày ban hành
- 07/07/1962
Toàn văn
THÔNG TƯ CỦA PHỦ THỦ TƯỚNG SỐ 73/TTG NGÀY 7 THÁNG 7 NĂM 1962 VỀ VIỆC QUẢN LÝ ĐẤT CỦA TƯ NHÂN CHO THUÊ, ĐẤT VẮNG CHỦ, ĐẤT BỎ HOANG Ở NỘI THÀNH, NỘI THỊ Để xóa bỏ việc cho thuê đất và để sử dụng hợp tình, hợp lý đất đai ở nội thành, nội thị, hội nghị Thường vụ Hội đồng Chính phủ ngày 2 -5 -1962 đã đề ra chính sách và các nguyên tắc về việc quản lý đất cho thuê của tư nhân, đất vắng chủ và đất bỏ hoang ở nội thành, nội thị. I - NGUYÊN TẮC
-
Xóa bỏ chế độ chiếm hữu đất cho thuê ở nội thành, nội thị, đồng thời chấm dứt tình trạng chiếm hữu và sử dụng bất hợp pháp của tư nhân về các lọai đất vắng chủ, đất công, đất sa bồi, đất bỏ hoang...
-
Nhà nước trực tiếp quản lý, phân phối và sử dụng các lọai đất này, kể cả các bất động sản hiện có trên mặt đất như: cây ăn quả lưu niên, cây cổ thụ, ao, hồ nuôi cá, giếng nước và các di tích lịch sử v.v...
-
Người sử dụng đất không phải trả tiền thuê đất cho Nhà nước mà chỉ phải nộp thuế thổ trạch hay thuế nông nghiệp. II - QUY ĐỊNH CỤ THỂ
-
Đất cho thuê của các thành phần bóc lột như: địa chủ, phú nông, tư sản, chủ có nhà cho thuê thuộc diện cải tạo, không kể diện tích chiếm hữu đất cho thuê nhiều hay ít, đều do Nhà nước trực tiếp quản lý, phân phối và sử dụng. Nhà nước không bồi hòan cho họ một khỏan tiền nào.
-
Đất cho thuê của các tôn giáo, các Hội dù diện tích cho thuê nhiều hay ít, đều do Nhà nước trực tiếp quản lý. Nhà nước không bồi hòan cho họ một khỏan tiền nào.
-
Đất cho thuê của các tư nhân khác, ngòai hai lọai đất nói trên, cũng đều do Nhà nước trực tiếp quản lý. Phủ Thủ tướng sẽ có công văn quy định và hướng dẫn những điểm chi tiết về việc này.
-
Đất vắng chủ, mà người quản lý không là cha mẹ đẻ, con đẻ, vợ hoặc chồng hợp pháp của người chủ đi vắng, đều do Nhà nước trực tiếp quản lý, và Nhà nước sẽ xét giải quyết một cách thỏa đáng khi người chủ đi vắng trở về.
-
Đất công, đất sa bồi ở ven bờ sông là đất công do Nhà nước quản lý, phân phối và sử dụng. Những người đang sử dụng đất này để sản xuất hoặc để ở sẽ được Nhà nước cấp giấy cho sử dụng. Những người đã chiếm hữu bất hợp pháp các đất này để cho thuê đều phải giao trả lại cơ quan quản lý nhà, đất của Nhà nước .
-
Đất bỏ hoang ở trong các nội thành, nội thị, đều do Nhà nước trực tiếp quản lý để dùng vào các việc công hoặc phân phối cho nhân dân lao động tạm thời sử dụng. Những người được sử dụng đất này phải đóng thuế nông nghiệp hoặc thuế thổ trạch tùy theo lọai đất.
-
Những người hiện đang sử dụng các lọai đất nói ở các điểm trên đây để sản xuất, hoặc xây dựng nhà cửa để ở.. thì được tiếp tục sử dụng. Các đất này phải trả lại Nhà nước khi người đang được phép sử dụng không dùng đến nữa; không ai được mua bán, chuyển nhượng đất này cho người khác với bất cứ một lý do nào. Nếu trên mặt đất có những bất động sản như: ao, hồ nuôi cá, cây ăn quả lưu niên, cây cổ thụ, giếng nước, các di tích lịch sử, thì người hiện đang sử dụng đất có trách nhiệm bảo vệ và tuyệt đối không được tự ý phá hủy.
-
Đối với các bất động sản hiện có trên mặt đất này như ao, hồ nuôi cá, cây ăn quả lưu niên, cây cổ thụ, giếng nước là của người lao động được sử dụng đất trực tiếp làm ra, thì họ có quyền hưởng thụ hoa lợi. Khi cần thiết cho công cuộc xây dựng các công trình lợi ích công cộng mà phải phá hủy những bất động sản này, thì Nhà nước sẽ bồi hòan theo tinh thần Nghị định số 151-TTg ngày 14 tháng 5 năm 1959 của Thủ tướng Chính phủ. III - TỔ CHỨC THỰC HIỆN
-
Trước khi tiến hành quản lý các lọai đất nói trên đây, Ủy ban hành chính khu, thành phố, tỉnh cần tiến hành đăng ký tòan bộ đất cho thuê của tư nhân, của các tôn giáo, các Hội, đất vắng chủ, đất bỏ hoang... ở nội thành, nội thị để phân lọai và để áp dụng chính sách cho thích hợp.
-
Trong khi tiến hành quản lý các lọai đất này Ủy ban hành chính khu, thành phố, tỉnh cần làm thí điểm tốt ở một khu phố rồi rút kinh nghiệm để mở rộng và làm nhanh gọn, làm xong trong năm nay. Trong khi tiến hành cần tranh thủ sự tham gia của các ngành có liên quan như: Tòa án, Thuế vụ, Ủy ban Kế họach Nhà nước, Kiến thiết đô thị và các đòan thể nhân dân, nhất là Ủy ban Mặt trận Tổ quốc ở địa phương. Các Sở, Chi cục và Phòng quản lý nhà, đất ở các địa phương là những cơ quan có trách nhiệm trực tiếp giúp Ủy ban hành chính các cấp lãnh đạo tốt công tác này.
-
Sau khi tiến hành xong công tác quản lý các lọai đất này, (kể cả bất động sản có trên mặt đất) Ủy ban hành chính khu, thành phố, tỉnh sẽ giao cho cơ quan quản lý nhà, đất ở địa phương quản lý dưới sự lãnh đạo của Ủy ban hành chính. Nếu địa phương nào chưa có cơ quan quản lý nhà, đất thì Ủy ban hành chính khu, thành phố, tỉnh sẽ giao nhiệm vụ quản lý này cho Phòng địa bạ hoặc một bộ phận nào trong Ủy ban. Ủy ban hành chính các cấp cần có những biện pháp tích cực chống thất thu về thuế đất và chống việc phá họai những bất động sản hiện có trên mặt các đất nói ở Thông tư này. Trong khi thi hành Thông tư này, nếu có trường hợp nào mắc mứu thì Ủy ban hành chính khu, thành phố, tỉnh báo cáo kịp thời về Phủ Thủ tướng. Phạm Văn Đồng (Đã ký)
Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/thong-tu-so-73-ttg-ve-viec-quan-ly-dat-cua-tu-nhan-cho-thue-dat-vang-chu-dat-bo-hoang-o-noi-thanh-noi-thi--1330.
Dịch vụ liên quan
Văn bản liên quan
- Về việc thành lập, quản lý và sử dụng Quỹ phòng, chống tội phạm
- Quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách trung ương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030
- Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng
- Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 - 2030
- Ban hành Quy chế tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành hoặc liên tịch ban hành
- Giải thể và chấm dứt hoạt động của Quỹ Bảo hộ công dân và pháp nhân Việt Nam ở nước ngoài
- Ban hành Quy chế tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị trên Hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật
- Ban hành Quy chế phối hợp hoạt động của các cơ quan tham gia hợp tác ASEAN