Sắc lệnhVề việc quy định quốc tịch Việt nam
- Loại văn bản
- Sắc lệnh
- Cơ quan ban hành
- Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
- Ngày ban hành
- 20/10/1945
Toàn văn
SẮC LỆNH Số 53 ngày 20 tháng 10 năm 1945 CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA Sau khi Hội đồng Chính phủ đã thỏa thuận,
SẮC LỆNH
Điều thứ nhất: Từ nay đến khi ban bố Bộ dân luật duy nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, quốc tịch Việt Nam sẽ quy định theo như sắc lệnh này. Điều thứ 2: Những người thuộc một trong các hạng kể sau đây đều là công dân Việt Nam : 1- Cha là công dân Việt Nam; 2- Cha không rõ là ai hay không thuộc quốc tịch nào mà mẹ là công dân Việt Nam; 3- Đẻ ở trên lĩnh thổ nước Việt Nam mà cha mẹ không rõ là ai hay không thuộc một quốc tịch nào. Điều thứ 3: Những dân tộc thiểu số ở nước Việt Nam như Thổ, Mán, Mường, Nùng, Kha, Lolo, v.v..., có trụ sở nhất định trên lĩnh thổ nước Việt Nam, đều là công dân Việt Nam. Điều thứ 4: Kể từ ngày ban hành sắc lệnh này, những người Việt Nam đã vào dân Pháp, sẽ coi là công dân Việt Nam. Những người ấy phải đến khai bỏ quốc tịch Pháp ở phòng Hộ tịch Tòa Thị chính của một trong những thành phố sau này : Hà Nội, Hải Phòng, Vinh, Huế, Nha Trang, Sài Gòn, Biên Hòa hay ở một trong những nơi mà Ủy ban Bắc bộ, Trung bộ hay Nam bộ sẽ định sau. Cha hoặc mẹ sẽ khai thay cho các con vị thành niên. Những người nào không ra khai sẽ mất quyền bầu cử và ứng cử. Điều thứ 5: Đàn bà ngọai quốc lấy chồng Việt Nam, muốn trở nên công dân Việt Nam thì lúc làm giá thú phải khai ý muốn như thế. Những đàn bà ngọai quốc lấy chống Việt Nam trước ngày ban hành sắc lệnh này, muốn trở nên công dân Việt Nam thì phải đệ đơn xin tại phòng Hộ tịch nơi họ đã khai giá thú hay nơi họ đang ở bây giờ, trong một thời hạn là 3 tháng sau khi ban hành sắc lệnh này. Điều thứ 6: Đàn bà Việt Nam lấy chồng ngọai quốc thì theo quốc tịch của người chồng, trừ khi lúc khai giá thú, người đàn bà ấy khai xin giữ quốc tịch Việt Nam. Về trường hợp những người đàn bà Việt Nam lấy chồng ngọai quốc trước khi ban hành sắc lệnh này, nếu muốn trở nên công dân Việt Nam, phải đến khai ở phòng Hộ tịch nơi mà họ đã khai giá thú khi trước, hay nơi họ đang ở, trong một thời hạn là 3 tháng kể từ ngày ban hành sắc lệnh này. Điều thứ 7: Những công dân Việt Nam thuộc một trong các hạng kể sau đây sẽ mất quốc tịch Việt Nam : 1- Nhập một quốc tịch ngọai quốc ; 2- Giữ một chức vụ gì ở ngọai quốc mà không chịu thôi, tuy đã được Chính phủ cảnh cáo; 3- Làm một việc gì phạm đến nền độc lập và chính thể dân chủ cộng hòa của nước Việt Nam. Việc tước quốc tịch Việt Nam của những người nói trên, do Chính phủ định đọat bằng sắc lệnh. Điều thứ 8: Các luật lệ trái với Sắc lệnh này đều bãi bỏ. Điều thứ 9 : Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ trưởng Bộ Tư pháp chiểu Sắc lệnh thi hành. Hồ Chí Minh (Đã ký)
Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/sac-lenh-so-53-ve-viec-quy-dinh-quoc-tich-viet-nam--768.
Dịch vụ liên quan
Văn bản liên quan
- Về việc cử ông Đặng Việt Châu và ông Đình Huỳnh làm đặc phái viên của Bộ nội vụ tại Thanh hoá và Ninh bình
- Về việc cấm chỉ sự xuất cảng, nhập cảng các thứ hàng
- Về việc ấn định các cấp bậc, quân phục, phù hiệu cho lục quân toàn quốc
- Về việc cử ông Phạm Khắc Hoè giữ chức Đổng lý Văn phòng Bộ nội vụ thay ông Hoàng Minh Giám
- Về việc cử ông Nguyễn Dương giữ chức Giám đốc Việt Nam Công an vụ
- Về việc cử ông Tạ Quang Bửu giữ chức Thứ trưởng Bộ quốc phòng
- Về việc truy tố các tội bắt cóc, tống tiền và ám sát
- Về việc truy tố các việc phá huỷ công sản