Chỉ thị số 1106/CT-CCVề việc triển khai thực hiện nghị quyết 38/CP của Chính phủ về cải cách một bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết công việc của công dân và tổ chức trong lĩnh vực công chứng
- Số hiệu
- 1106/CT-CC
- Loại văn bản
- Chỉ thị
- Cơ quan ban hành
- Bộ Tư pháp
- Ngày ban hành
- 19/07/1994
Toàn văn
BỘ TƯ PHÁP
Số: 1106/CT-CC
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Hà Nội, ngày 19 tháng 07 năm 1994 CHỈ THỊ CỦA BỘ TRƯỞNG BỘ TƯ PHÁP Về việc triển khai thực hiện nghị quyết 38/CP của Chính phủ về cải cách một bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết công việc của công dân và tổ chức trong lĩnh vực công chứng Ngày 4 tháng 5 năm 1994 Chính phủ đã ra Nghị quyết số 38/CP "Về cải cách một bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết công việc của công dân và tổ chức", trong đó lĩnh vực công chứng cũng được coi là một trong những lĩnh vực trọng tâm cần được sóat xét về thủ tục hành chính và lệ phí. Thực hiện Nghị định 45/HĐBT ngày 27 tháng 2 năm 1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về tổ chức và họat động công chứng Nhà nước, với sự quan tâm chỉ đạo của các cấp chính quyền, công tác công chứng đã đạt được những kết quả bước đầu quan trọng, đáp ứng một phần yêu cầu công chứng của công dân và tổ chức, tuy nhiên nhìn chung, công tác công chứng vẫn còn nhiều mặt chưa theo kịp nhu cầu của sự phát triển kinh tế, xã hội. Ở một số địa phương trong khi giải quyết các yêu cầu công chứng của công dân và tổ chức đã để dân phải chờ đợi lâu, không giải thích rõ lý do từ chối công chứng, chưa niêm yết công khai thủ tục giải quyết từngviệc công chứng, chưa niêm yết công khai thủ tục giải quyết từng việc chứng và mức thu lệ phí công chứng, một số trường hợp chứng nhận chưa bảo đảm tính xác thực theo quy định của pháp luật mà dư luận đang rất quan tâm, đòi hỏi giải quyết. Để triển khai tực hiện Nghị quyết 38/CP của chính phủ trong lĩnh vực công chứng, tiếp theo Chỉ thị số 984/PLHSHC, Bộ Tư pháp yêu cầu các đồng chí Giám đốc Sở Tư pháp, Trưởng Phòng công chứng Nhà nước các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện các việc sau đây:
-
Củng cố và kiện tòan tổ chức công chứng: Giám đốc Sở Tư pháp báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biện pháp kịp thời kiện tòan tổ công chứng tại địa phương, đảm bảo phục vụ nhanh chóng, kịp thời, thuận tiện và đúng pháp luật các yêu cầu công chứng của công dân và tổ chức, cụ thể là: - Đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có khối lượng công việc công chứng nhiều và đủ các điều kiện cần thiết, nhất là ở những nơi địa bàn rộng, dân cư đông như thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Quảng Nam- Đà Nẵng..., cần xúc tiến ngay việc thành lập thêm các phòng công chứng Nhà nước; - Đối với phòng công chứng Nhà nước hiện có tại địa phương mà chưa có đủ số lượng Công chứng viên để bảo đảm thực hiện công chứng kịp thời, thì Trưởng phòng công chứng Nhà nước đề nghị Giám đốc Sở Tư pháp về việc bổ nhiệm Công chứng viên. Thủ tục bổ nhiệm được tiến hành theo quy định tại Thông tư số 276 – TT/CC ngày 20 tháng 4 năm 1991 của Bộ Tư pháp hướng dẫn về tổ chức và quản lý công chứng Nhà nước; Đối với phòng công chứng Nhà nước chưa có Trưởng phòng hoặc Phó trưởng phòng thì Giám đốc Sở Tư pháp cần lựa chọn trong số các Công chứng viên để làm thủ tục bổ nhiệm; - Giám đốc Sở Tư pháp có nhiệm vụ giúp Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản lý nghiệp vụ đối với các Phòng Công chứng Nhà nước; - Chấn chỉnh tổ chức công tác công chứng tại Ủy ban nhân dân huyện; hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ đối với người được giao thực hiện công chứng của Ủy ban nhân dân huyện; - Giám đốc Sở Tư pháp cần phải tăng cường giúp Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiến hàng thường xuyên công tác kiểm tra họat động công chứng đối với Phòng Công chứng Nhà nước và Ủy ban nhân dân huyện được giao thực hiện công chứng; - Kiến nghị với Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quan tâm, tạo điều kiện về cơ sở vật chất để bảo đảm phục vụ tốt công tác công chứng tại địa phương.
-
Đổi mới lề lối làm việc: - Tất cả các lọai hồ sơ, văn bản đã được công chứng và sổ công chứng phải được lưu trữ bảo quản đầy đủ, chặt chẽ, lâu dài tại Phòng công chứng Nhà nước, nơi đã giải quyết yêu cầu công chứng đó; - Tại trụ sở Phòng công chứng Nhà nước hoặc nơi tiếp nhận hồ sơ, giấy tờ để thực hiện việc công chứng của Ủy ban nhân dân huyện phải niêm yết công khai ngày, giờ làm việc công chứng, phải bố trí ghế ngồi chu đáo tránh việc nhân dân đứng ngồi lộn xộn, gặp đâu ngồi đấy; - Những việc công chứng đã có đủ hồ sơ, thủ tục thì phải giải quyết kịp thời, đúng quy định của pháp luật, không được trì hõan dưới bất kỳ lý do nào; những việc công chứng không thực hiện được ngay trong ngày phải có giấy hẹn thời gian giải quyết; tránh việc để nhân dân chầu chục hàng giờ, hàng buổi hoặc phải xếp hàng dài chỉ để đến lượt mình được chứng nhận; - Những yêu cầu công chứng của công dân và tổ chức mà thủ tục, giấy tờ còn chưa đủ hoặc Công chứng viên và những người được giao thực hiện công chứng của Ủy ban nhân dân huyện từ chối không thực hiện công chứng thì cần được giải thích, hướng dẫn cụ thể và nói rõ lý do để công dân và đại diện các tổ chức không phải đi lại nhiều lần, làm mất thời gian, công sức, tiền bạc; - Công chức viên và thành viên Ủy ban nhân dân huyện được giao thực hiện công chứng cũng như cán bộ Tư pháp chuyên giúp nghiệp vụ công chứng, khi tiếp xúc, nhận hồ sơ và thực hiện các yêu cầu công chứng của công dân và tổ chức phải có thái độ hòa nhã, đúng mức, lịch thiệp, tôn trọng nhân dân; - Các công chứng viên phải đeo thẻ công chứng viên trong khi thực hiện nhiệm vụ.
-
Về lệ phí công chứng: Tại trụ sở Phòng công chứng Nhà nước và nơi tiếp nhận hồ sơ, giấy tờ yêu cầu thực hiện việc công chứng của Ủy ban nhân dân huyện phải niêm yết công khai mức thu lệ phí công chứng đã được quy định tại Thông tư Liên Bộ Tài chính – Tư pháp số 84-TT/LB ngày 18 tháng 12 năm 1992 "Quy định chế độ thu lệ phí công chứng" để các đương sự được biết và thực hiện. Các địa phương không được tùy tiện đặt ra các khỏan lệ phí trái với quy định tại các Thông tư Liên Bộ nêu trên. Yêu cầu các đồng chí Giám đốc Sở Tư pháp, Trưởng phòng công chứng Nhà nước báo cáo Bộ trước ngày 15 tháng 9 năm 1994 và kết quả triển khai thực hiện Chỉ thị này, đồng thời nêu rõ những trình tự, thủ tục thực hiện các việc công chứng,mức thu lệ phí công chứng bất hợp lý, đang là trở ngại cho họat động của các cơ quan, đơn vị khác, gây phiền hà cho nhân dân mà cần phải sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ cho phù hợp./. BỘ TRƯỞNG (Đã ký) Nguyễn Đình Lộc
Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/chi-thi-so-1106-ct-cc-ve-viec-trien-khai-thuc-hien-nghi-quyet-38-cp-cua-chinh-phu-ve-cai-cach-mot-buoc-thu-tuc-hanh-chinh-trong-viec-giai-quyet-cong-viec-cua-cong-dan-va-to-chuc-trong-linh-vuc-cong-chung--10016.
Dịch vụ liên quan
Văn bản liên quan
- Quy định phân cấp thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý trong các lĩnh vực ngân sách, tài sản công, đầu tư xây dựng và đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin
- Quy định tiêu chí, tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước trong đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm, giao dịch, tài sản khác thuộc thẩm quyền của Bộ Tư pháp
- Sửa đổi một số thủ tục hành chính quy định tại các thông tư trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp
- Quy định danh mục và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác trong các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Tư pháp và trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp tại chính quyền địa phương
- Sửa đổi, bổ sung một số điều của của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại
- Hướng dẫn xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật
- Quy định định mức khoán chi cho nhiệm vụ, hoạt động thẩm định, xây dựng chính sách, văn bản quy phạm pháp luật, điều ước quốc tế thuộc thẩm quyền của Bộ Tư pháp và danh mục nhiệm vụ, hoạt động, định mức khoán chi cho từng nhiệm vụ, hoạt động đối với thông tư thuộc thẩm quyền xây dựng, ban hành của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, thông tư liên tịch do Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng
- Sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của các thông tư thuộc lĩnh vực tổ chức cán bộ và thông tư có liên quan thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp