Sắc lệnh số 42/SLVề việc xét tình thế đặc biệt của tình thế phục vụ cho kháng chiến toàn quốc
- Số hiệu
- 42/SL
- Loại văn bản
- Sắc lệnh
- Cơ quan ban hành
- Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
- Ngày ban hành
- 29/01/1947
Toàn văn
CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Số: 9
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Hà Nội, ngày 29 tháng 1 năm 1947
SẮC LỆNH
Số 09 ngày 29 tháng 1 năm 1947 CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ Xét tình thế đặc biệt của cuộc kháng chiến tòan quốc, Chiểu chi sắc lệnh số 13 ngày 14-1-1946 và số 42 ngày 3-4-46 ấn định thủ tục truy tố các nhân viên các cấp trong Chính phủ cùng các cơ quan hành chính và tư pháp, Chiểu chi thông lệnh tổ chức chính quyền và thông lệnh tổ chức tư pháp trong tình thế đặc biệt, Chiểu theo đề nghị của các ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Quốc phòng và tư pháp. Sau khi Hội đồng Chính phủ đã thỏa thuận và sau khi đã hỏi ý kiến ban thường trực Quốc hội, RA SẮC LỆNH: Điều 1 - Trong thời kỳ kháng chiến, các lệnh số 13 ngày 14-1-1946, mục B, và số 42 ngày 3-4-46 sẽ tạm thời đình chỉ thi hành. Sự bắt bớ, giam cầm cùng là truy tố các nhân viên nói trong hai sắc lệnh đó và các nhân viên Ủy ban Kháng chiến sẽ theo thủ tục sau đây: Điều 2 - Không ai được bắt bớ giam cầm a) Trưởng ban Thường trực Quốc hội, một Bộ trưởng hay Thứ trưởng nếu không được Chủ tịch Chính phủ thỏa thuận;
b) Một Chủ tịch Ủy ban Hành chính Kỳ, nếu không được Bộ trưởng Bộ Nội vụ thỏa thuận trước. Một nhân viên Ủy ban kháng chiến khu nếu không được Bộ quốc phòng và Nội vụ thỏa thuận trước. Một chánh nhất chưởng lý hoặc Giám đốc Tư pháp khu, nếu không được Bộ trưởng Bộ Tư pháp thỏa thuận trước.
c) Một đại biểu Quốc hội, thẩm phán, Chủ tịch Ủy ban Hành chính tỉnh, nhân viên Ủy ban kháng chiến tỉnh, nếu không được Ủy ban kháng chiến khu thỏa thuận trước. Riêng về thẩm phán trước khi quyết nghị, Ủy ban Kháng chiến khu phải hỏi ý kiến viên Giám đốc Tư pháp khu. Riêng về đại biểu Quốc hội, sau khi quyết nghị bắt giam, Ủy ban Kháng chiến khu phải báo ngay cho ban Thường trực quốc hội. Ủy ban Kháng chiến khu sau khi hỏi ý kiến viên giám đốc khu có thể ủy quyền cho Uy ban Kháng chiến tỉnh để ra lệnh bắt một thẩm phán sơ cấp trong tỉnh phạm pháp, nhưng trước khi ra lệnh, Ủy ban Kháng chiến tỉnh phải hỏi ý kiến viên biện lý tỉnh. Điều 3 - Về khinh tội hay trọng tội, các đơn kiện hay cáo giác a) Trưởng ban Thường trực Quốc hội, một Bộ trưởng hay Thứ trưởng phải gửi lên Chủ tịch Chính phủ Việt Nam.
b) Một Chủ tịch Ủy ban hành chính Kỳ, một nhân viên trong Ủy ban kháng chiến khu, chánh nhất chưởng lý hay giám đốc tư pháp khu, phải gửi lên Bộ trưởng Bộ Nội vụ c) Một đại biểu Quốc hội, một Chủ tịch Ủy ban Hành chính tỉnh hay một nhân viên trong Ủy ban Kháng chiến tỉnh, một thân nhân, phải gửi lên Ủy ban kháng chiến khu. Nếu cơ quan hành chính hay tư pháp nào khác nhận được đơn kiện hay cáo giác thì phải gửi thẳng đơn ấy lên Chủ tịch Chính phủ Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Quốc phòng, Tư pháp hay Ủy ban kháng chiến khu tùy trường hợp. Điều 4 - Chủ tịch Chính phủ Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Ủy ban kháng chiến khu có thể giao cho ông Chưởng lý tòa thượng thẩm hay giám đốc tư pháp khu (hay biện lý tỉnh nếu là thẩm phán sơ cấp) đi điều tra trước rồi sẽ định đọat có nên hay không nên truy tố trước tòa án. Nếu người phạm pháp trọng tội hay khinh tội là Bộ trưởng hay Thứ trưởng thì phải được Hội đồng Chính phủ thỏa thuận, nếu là Trưởng ban Thường trực Quốc hội, thì phải được ban Thường trực Quốc hội thỏa thuận, mới được đem ra truy tố. Nếu là thẩm phán, thì Ủy ban kháng chiến khu phải hỏi ý kiến viên Giám đốc tư pháp, trước khi quyết nghị đưa ra truy tố trước tòa. Điều 5 - Nếu nên truy tố, a) Đại biểu Quốc hội, Chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh, nhân viên Ủy ban kháng chiến tỉnh, thẩm phán sẽ đưa ra trước tòa án xử theo thủ tục thường áp dụng trước các tòa án do Tòa án xử bắt buộc phải có hai phúc thẩm nhân dân và hai hội thẩm chuyên môn. Riêng về Chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh, nhân viên ủy ban kháng chiến tỉnh, và thẩm phán, Tòa án xử sẽ do viên giám đốc tư pháp chỉ định trong các Tòa án ở khu, nhưng không được là Tòa án tỉnh trong đó người can phạm hiện đang làm việc.
b) Bộ trưởng hay Thứ trưởng, Trưởng ban Thường trực Quốc hội, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến khu, Giám đốc tư pháp khu, sẽ phải đưa ra trước tòa thượng thẩm nơi phát giác ra trong tội hay khinh tội, họp tất cả các phòng để xử. Trong trường hợp đặc biệt, mà Tòa thượng thẩm bị tạm đình chỉ, thì sẽ phải đưa ra xử trước một Tòa án đặc biệt. Tòa án đặc biệt gồm có: Bộ trưởng Bộ tư pháp hay một Bộ trưởng khác (nếu Bộ trưởng tư pháp liên can đến việc phạm pháp) do Chủ tịch Chính phủ chỉ định ngồi ghế Chánh án, Bộ trưởng tư pháp có thể ủy quyền cho Chánh nhất để làm Chánh án Tòa án đặc biệt. Hai giám đốc tư pháp khu, do Bộ trưởng tư pháp chỉ định làm hội thẩm. Hai Chủ tịch ủy ban kháng chiến khu hay người đại diện do Bộ trưởng bộ Quốc phòng và Nội vụ chỉ định làm phụ thẩm. Chưởng lý hay một thẩm phán đại diện ngồi ghế công tố. Một viên lục sự chọn trong các hàng lục sự tòa đệ nhị cấp ngồi ghế lục sự. Một khi nhận được lệnh truy tố, Chưởng lý hay thẩm phán đại diện làm khởi tố trạng. Chánh nhất Tòa thượng thẩm hoặc chánh án Tòa án đặc biệt sẽ tự định hay cử một viên hội thẩm mở cuộc thẩm cứu. Tòa thượng thẩm hay Tòa án đặc biệt sẽ xử chung thẩm và theo thủ tục áp dụng trước tòa thượng thẩm xử việc đại hình. Điều 6 Nếu gặp trường hợp phạm pháp quả tang về trọng tội hay khinh tội, phụ trách tư pháp công an nơi xẩy ra việc phạm pháp có quyền điều tra ngay để các vật chứng khỏi bị tiêu hủy và trong hạn 24 giờ phải giao can phạm cùng tang vật sang ông biện lý hoặc công cáo ủy viên tòa án quân sự. Ông biện lý hay công cáo ủy viên Tòa án quân sự tức khắc phải mở cuộc điều tra, hỏi cung các bị cáo và các nhân viên và tự lên các nhân viên hay cơ quan nói trong điều 2 để lấy huấn lệnh. Hỏi cung xong, và chậm nhất trong hạn 7 ngày trọn, kể từ ngày nhận được tờ báo cáo của phụ trách tư pháp công an nếu không có sự thỏa thuận của các nhân viên hay cơ quan nói ở điều 2 thì bị cáo phải được tạm tha. Trong trường hợp mà bị cáo lại chính là biện lý hay công cáo ủy viên tòa án quân sự, thì viên Chánh án Tòa án thường hay Tòa án quân sự có quyền điều tra như trên đây. Điều 7 - Sắc lệnh này sẽ thi hành đối với tất cả các việc đã xẩy ra trước ngày ký sắc lệnh này mà chưa thành án. Điều 8 - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Nội vụ và Tư pháp chiểu sắc lệnh thi hành. CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA PHÓ CHỦ TỊCH NƯỚC (Đã ký) Hồ Chí Minh
Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/sac-lenh-so-9-ve-viec-xet-tinh-the-dac-biet-cua-tinh-the-phuc-vu-cho-khang-chien-toan-quoc--499.
Dịch vụ liên quan
Văn bản liên quan
- Về việc chỉ định các cán bộ vào uỷ viên UBHC liên khu 4
- sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật
- Về việc cử các vị vào Ban Thanh tra của Chính phủ
- Về việc bãi bỏ Sắc lệnh số 64 ngày 23-11-1945 thành lập ban thanh tra đặc biệt - Thành lập ban thanh tra trực thuộc Thủ tướng phủ
- Về việc cử cán bộ vào bộ tư lệnh quân đội địa phương và dân quân liên khu Việt bắc
- Về việc cử cán bộ vào UBKCHC Liên khu Việt bắc
- Về việc chỉ định ông Đinh Công Phu làm cố vấn UBKCHC Liên khu Việt bắc
- Về việc đặt nghĩa vụ quân sự cho tất cả công dân Việt nam từ 18 đến 45 tuổi (đàn ông)