Quyết định số 101/NH-QĐBan hành thể lệ thanh toán qua ngân hàng

Số hiệu
101/NH-QĐ
Loại văn bản
Quyết định
Cơ quan ban hành
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Ngày ban hành
30/07/1991
Lĩnh vực
Chính sách tiền tệ

Toàn văn

QUYẾT ĐỊNH Ban hành Thể lệ thanh tóan qua Ngân hàng

Căn cứ Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty Tài chính do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước công bố ngày 23/5/1990;

Căn cứ Nghị định số 80/HĐBT ngày 27/5/1987 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về bổ sung thể lệ thanh tóan không dùng tiền mặt qua Ngân hàng;

Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ kinh tế - kế họach, QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1.- Ban hành thể lệ thanh tóan qua Ngân hàng, áp dụng cho tất cả các cơ quan, đơn vị, tổ chức kinh tế, các Ngân hàng thương mại, Ngân hàng đầu tư và phát triển, các đơn vị thuộc hệ thống Kho bạc Nhà nước.

Điều 2.- Thể lệ thanh tóan qua Ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/10/1991. Các quy định về thanh tóan đã ban hành trước đây của Ngân hàng Nhà nước, của các Ngân hàng thương mại, Ngân hàng đầu tư và phát triển hết hiệu lực thi hành.

Điều 3.-

Căn cứ thể lệ thanh tóan qua Ngân hàng và thông tư hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước, các Ngân hàng thương mại, Ngân hàng đầu tư và phát triển, Cục kho bạc Nhà nước có trách nhiệm cụ thể hóa cho thích hợp với họat động nghiệp vụ và tổ chức thanh tóan trong hệ thống của mình; tổ chức thực hiện và quản lý chặt chẽ, không để xảy ra các vi phạm gây tổn thất tài sản của nhân dân và Nhà nước.

Điều 4.- Thủ trưởng các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước Trung ương, Giám đốc chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Tổng giám đốc (Giám đốc) Ngân hàng thương mại, Ngân hàng đầu tư và phát triển và Cục trưởng Cục kho bạc Nhà nước trong phạm vi chức năng nhiệm vụ quyền hạn có trách nhiệm thi hành Quyết định này. THỂ LỆ THANH TÓAN QUA NGÂN HÀNG (Ban hành theo quyết định 101/NH-QĐ ngày 30/7/1991 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước) I- NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Các tổ chức kinh tế, đơn vị dự tóan và tư nhân có tài khỏan tiền gửi tại Ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước (gọi tắt là chủ tài khỏan) thực hiện chi trả cho nhau về tiền hàng, dịch vụ qua tài khỏan của mình phải theo những quy định trong thể lệ này.

Điều 2. Để bảo đảm thực hiện chi trả qua Ngân hàng (1) các chủ tài khỏan bên trả tiền bắt buộc phải có đủ tiền trên tài khỏan; mọi trường hợp tài khỏan không đủ tiền để thực hiện thanh tóan đều là vi phạm pháp luật và phải bị xử lý.

Điều 3. Ngân hàng phải bảo đảm thanh tóan thuận tiện kịp thời chính xác. Ngân hàng có trách nhiệm kiểm tra khả năng trả tiền của chủ tài khỏan trước khi thực hiện việc thanh tóan; được quyền từ chối thanh tóan nếu tài khỏan của bên trả tiền không đủ để thực hiện và không chịu liên đới về những hậu quả có thể xảy ra. Nếu do thiếu sót chủ quan của mình trong quá trình thanh tóan, gây thiệt hại cho khách hàng Ngân hàng phải bồi thường vật chất. II- TỔ CHỨC THANH TÓAN QUA NGÂN HÀNG GIỮA CÁC KHÁCH HÀNG

Điều 4. Thanh tóan qua Ngân hàng về tiền hàng, dịch vụ hoặc các nhu cầu chi trả khác được áp dụng các hình thức dưới đây: 4.1- Séc (séc chuyển khỏan, séc bảo chi, sổ séc định mức) 4.2- Ủy nhiệm chi(chuyển tiền) 4.3- Thư tín dụng 4.4- Ủy nhiệm thu. A/ THANH TÓAN BẰNG SÉC

Điều 5.

Căn cứ các yếu tố và mẫu tờ séc do Ngân hàng Nhà nước Trung ương quy định (xem phụ lục số 1), các Ngân hàng thương mại, Ngân hàng đầu tư và phát triển, Cục Kho bạc Nhà nước phải chọn mẫu séc và đăng ký mẫu séc với Ngân hàng Nhà nước, ký các hợp đồng để in tại Nhà in Ngân hàng và nhượng lại cho khách hàng của mình sử dụng.

Điều 6. Các đơn vị tổ chức và tư nhân mở tài khỏan tiền gửi tại Ngân hàng và các đơn vị dự tóan mở tài khỏan tiền gửi tại Kho bạc Nhà nước chỉ được mua séc ở Ngân hàng hoặc Kho bạc nơi mở tài khỏan tiền gửi. Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước không được nhượng séc cho các khách hàng chưa mở tài khỏan tiền gửi hoặc đã mở nhưng tài khỏan lúc đầu chưa có số dư.

Điều 7. Séc chuyển khỏan là giấy ủy nhiệm lập trên mẫu in sẵn đặc biệt của Ngân hàng, do chủ tài khỏan phát hành, giao trực tiếp cho đơn vị thụ hưởng, để thanh tóan tiền hàng, dịch vụ ngay sau khi nhận được hàng hóa hoặc dịch vụ cung ứng. Séc chuyển khỏan chỉ được áp dụng thanh tóan trong phạm vi giữa các khách hàng có tài khỏan ở cùng một Ngân hàng, hoặc khác Ngân hàng nhưng các Ngân hàng đó có tham gia thanh tóan bù trừ trực tiếp với nhau. Séc được hạch tóan theo nguyên tắc ghi nợ trước, ghi có sau:

Căn cứ tờ séc đã phát hành, Ngân hàng phải ghi nợ tài khỏan của đơn vị phát hành séc trước khi ghi Có vào tài khỏan đơn vị thụ hưởng. Trường hợp tờ séc có giá trị 1 triệu đồng trở xuống - hoặc giữa 2 ngân hàng trong cùng một hệ thống có khả năng kiểm tra bảo đảm năng lực chi trả của đơn vị phát hành séc về tờ séc đó, Ngân hàng phục vụ bên bán có thể ghi Có cho đơn vị thụ hưởng. Những trường hợp này do Tổng giám đốc Ngân hàng thương mại, Ngân hàng đầu tư và phát triển, xem xét, quyết định cụ thể và chịu hòan tòan trách nhiệm trước Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về những sai phạm, lợi dụng nếu có.

Điều 8. Chủ tài khỏan chỉ được phát hành séc trong phạm vi: Số dư tiền gửi, số dư của sổ séc định mức đã lưu ký tại Ngân hàng. Chủ tài khỏan có trách nhiệm bảo quản các tờ séc (kể cả séc trắng) và sổ séc định mức như bảo quản tiền mặt, mất séc như mất tài sản; phải quản lý sử dụng séc chặt chẽ và chịu trách nhiệm hòan tòan trước pháp luật về các vi phạm (lường gạt, lợi dụng tham ô v.v...) và về mọi thiệt hại, mọi hậu quả do các vi phạm gây nên.

Điều 9. Séc đã phát hành khi về đến Ngân hàng phục vụ bên mua mà quá số dư thì đơn vị phát hành séc chịu phạt tiền bằng 20% (hai mươi phần trăm) số tiền quá số dư; và chịu phạt chậm trả từ ngày tờ séc đến Ngân hàng bên mua cho đến ngày được thanh tóan; khỏan tiền phạt chậm trả bằng số tiền trên tờ séc nhân với lãi suất nợ quá hạn của lọai cho vay ngắn hạn cùng đối tượng theo chế độ hiện hành của Nhà nước, nhân với số ngày chậm trả, tiền phạt chậm trả được chuyển cho đơn vị thụ hưởng. Tiền phạt séc phát hành quá số dư ghi vào thu nghiệp vụ Ngân hàng. Nếu trong vòng 3 tháng chủ tài khỏan để hai (2) tờ séc phát hành quá số dư thì Ngân hàng thu hồi số tờ séc trắng còn lại, buộc chủ tài khỏan chuyển sang dùng séc bảo chi, sổ séc định mức, hoặc hình thức thanh tóan khác. Thời hạn Ngân hàng đình chỉ sử dụng séc tối thiểu là 3 (ba) tháng, sau đó phải có cam kết không tái phạm của chủ tài khỏan thì mới được cho khôi phục lại quyền sử dụng séc chuyển khỏan thông thường. Trường hợp phát hành séc quá số dư từ 10 triệu đồng trở lên, hoặc chậm bù đắp số tiền phát hành quá số dư quá 30 ngày, Ngân hàng có thể đề nghị khởi tố theo luật pháp hiện hành.

Điều 10. Đơn vị thụ hưởng séc (bên bán) nhận trực tiếp tờ séc của đơn vị phát hành, phải kiểm tra tính hợp lệ của tờ séc (ghi đầy đủ, chính xác và rõ ràng mọi yếu tố quy định trên tờ séc, không sửa chữa, tẩy xóa) và nộp vào Ngân hàng phục vụ (bên bán hoặc bên mua) trong thời hạn hiệu lực tối đa là 10 (mười) ngày làm việc kể từ ngày phát hành séc. Ngân hàng được quyền từ chối thanh tóan và xử lý theo quy định trong các trường hợp:

a) Đơn vị thụ hưởng séc không mở tài khỏan tiền gửi tại Ngân hàng mình (trường hợp séc nộp vào Ngân hàng phục vụ đơn vị thụ hưởng): trả lại séc cho người nộp;

b) Séc không hợp lệ: trả lại séc cho người nộp;

c) Séc nộp vào Ngân hàng quá thời hạn hiệu lực nói trên: trả lại séc cho người nộp;

d) Séc giả hoặc có dấu hiệu nghi vấn là séc giả thì giữ séc và giấy tờ tùy thân của người nộp séc, chuyển cho cơ quan công an xử lý và giải quyết.

Điều 11. Séc bảo chi là tờ séc chuyển khỏan thông thường nhưng được Ngân hàng phục vụ đơn vị phát hành séc bảo đảm chi trả bằng cách trích trước số tiền ghi trên tờ séc từ tài khỏan tiền gửi (hoặc cho vay) của bên trả tiền đưa vào một tài khỏan riêng (tiền gửi séc bảo chi và sổ séc định mức), được Ngân hàng làm thủ tục bảo chi và đóng dấu "bảo chi" trên tờ séc trước khi giao cho khách hàng. Séc bảo chi dùng trong các đơn vị là khách hàng thuộc hệ thống Kho bạc Nhà nước và khách hàng của Ngân hàng trong trường hợp bên bán yêu cầu hoặc theo quyết định xử phạt của Ngân hàng đối với các chủ tài khỏan vi phạm phát hành séc quá số dư theo quy định tại Điều 9. Nội dung và các yếu tố đối với séc bảo chi thực hiện theo Điều 10. Séc bảo chi được áp dụng thanh tóan giữa các khách hàng cùng mở tài khỏan tại một Ngân hàng hoặc khác Ngân hàng có tham gia thanh tóan bù trừ trực tiếp với nhau; trường hợp thanh tóan khác Ngân hàng không tham gia thanh tóan bù trừ trực tiếp (ngòai tỉnh) chỉ áp dụng trong cùng một hệ thống Ngân hàng. Thời hạn có hiệu lực tối đa là 15 ngày kể từ ngày bảo chi séc.

Điều 12. Sổ séc định mức (xem phụ lục số 2) được dùng để trả tiền mua hàng, trả cước phí vận tải, cước phí bưu điện có tính thường xuyên, hoặc theo quyết định xử phạt của Ngân hàng. Sổ séc định mức được áp dụng thanh tóan trong tỉnh; trường hợp ngòai tỉnh chỉ được áp dụng trong cùng một hệ thống Ngân hàng. Mức tối thiểu để mở sổ séc định mức là 20 (hai mươi) triệu đồng. Mỗi séc định mức chỉ thanh tóan với một khách hàng hoặc một số khách hàng thuộc cùng đơn vị chủ quản. Muốn mở sổ séc định mức, chủ tài khỏan đề nghị Ngân hàng phục vụ mình trích từ tài khỏan tiền gửi (hoặc cho vay) để lưu ký số tiền cần mở sổ séc định mức vào một tài khỏan riêng (tiền gửi séc bảo chi và sổ séc định mức) tại Ngân hàng, được nhận sổ séc định mức đã ghi sẵn số tiền định mức trên bìa sổ séc. Mỗi tờ séc trong sổ séc định mức có hiệu lực thực hiện trong thời hạn tối đa là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày mở sổ séc định mức. Khi thanh tóan (giao séc) đơn vị phát hành séc phải xuất trình cả sổ séc định mức để bên bán kiểm tra số dư của sổ séc bảo đảm đủ thanh tóan cho tờ séc trước khi tách rời séc đó khỏi sổ séc định mức để trao cho bên bán (bên thụ hưởng). Đơn vị thụ hưởng phải kiểm sóat số dư, nếu nhận các tờ séc định mức quá số dư sẽ không được thanh tóan và phải chịu mọi thiệt hại. Số dư trên tài khỏan tiền gửi séc bảo chi và sổ séc định mức không được hưởng lãi. Séc bảo chi và các tờ séc phát hành từ sổ séc định mức được thực hiện ghi Có ngay cho đơn vị thụ hưởng. Các tờ séc trong sổ séc định mức nếu phát hành quá định mức cũng bị phạt về phát hành séc quá số dư và chậm trả như quy định tại Điều 9, thu hồi ngay số tờ séc còn lại của sổ séc định mức, tiền phạt ghi vào thu nghiệp vụ Ngân hàng. B/ THANH TÓAN BẰNG ỦY NHIỆM CHI

Điều 13. Ủy nhiệm chi (phụ lục số 4) là lệnh chi tiền được chủ tài khỏan lập theo mẫu của Ngân hàng ấn hành, yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình (nơi mở tài khỏan tiền gửi) trích tài khỏan của mình để chi trả cho bên thụ hưởng). Ủy nhiệm chi được dùng để thanh tóan chuyển khỏan về các khỏan trả tiền hàng, dịch vụ hoặc chuyển vốn trong cùng hệ thống hoặc khác hệ thống Ngân hàng trong cùng tỉnh và ngòai tỉnh. Trong vòng một ngày làm việc, Ngân hàng phục vụ đơn vị trả tiền phải hòan tất lệnh chi đó hoặc từ chối thực hiện nếu tài khỏan của đơn vị không đủ tiền hoặc lệnh chi lập không hợp lệ. Ngân hàng phục vụ đơn vị thụ hưởng phải ghi Có ngay vào tài khỏan và báo cho đơn vị biết sau khi nhận được chứng từ hợp lệ.

Điều 14. Chuyển tiền khác địa phương (2) có thể thực hiện bằng séc chuyển tiền (được giao cầm tay) - phụ lục số 3 - trong trường hợp khách hàng có yêu cầu cần thiết cấp bách. Séc chuyển tiền phải do Ngân hàng phục vụ đơn vị có yêu cầu chuyển tiền phát hành và trao cho khách hàng sau khi đã ghi Nợ vào tài khỏan của đơn vị xin chuyển tiền. Thời hạn hiệu lực của tờ séc chuyển tiền là 30 ngày kể từ ngày phát hành séc. Séc chuyển tiền có thể sử dụng để chuyển khỏan hoặc lĩnh tiền mặt tại Ngân hàng trả tiền. C/ THANH TÓAN BẰNG THƯ TÍN DỤNG

Điều 15. Thư tín dụng (phụ lục số 5) được dùng để thanh tóan tiền hàng trong điều kiện bên bán đòi hỏi phải bảo đảm có đủ vốn để chi trả ngay và phù hợp với tổng số tiền hàng đã giao theo hợp đồng hoặc đơn đặt hàng đã ký.

Điều 16. Khi có nhu cầu, bên mua lập giấy mở thư tín dụng yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình trích tài khỏan tiền gửi (hoặc tiền vay Ngân hàng) một số tiền bằng tổng giá trị hàng đặt mua để lưu ký vào một tài khỏan riêng (tiền gửi mở thư tín dụng). Ngân hàng bên mua phải gửi ngay thư tín dụng cho Ngân hàng bên bán để báo cho bên bán biết. Mức tiền tối thiểu của một thư tín dụng là 05 (năm) triệu đồng. Tiền gửi thư tín dụng không được hưởng lãi. Mỗi thư tín dụng chỉ dùng để trả cho một đơn vị bán. Thời hạn hiệu lực của một thư tín dụng là 03 (ba) tháng kể từ ngày Ngân hàng bên mua nhận mở thư tín dụng. Thư tín dụng chỉ được áp dụng thanh tóan khác địa phương nhưng trong cùng một hệ thống Ngân hàng và có tính ký hiệu mật. Trường hợp thanh tóan khác hệ thống Ngân hàng thì phải thông qua Ngân hàng Nhà nước.

Điều 17. Bên bán có trách nhiệm giao hàng cho bên mua sau khi nhận được giấy báo đã mở thư tín dụng. Ngân hàng phục vụ bên bán trả tiền cho bên bán căn cứ vào hóa đơn, vận đơn hoặc các chứng từ giao nhận hàng có chữ ký của đại diện bên mua kèm theo giấy ủy nhiệm của bên mua, do bên bán xuất trình với Ngân hàng, phù hợp với các điều khỏan quy định thống nhất giữa hai bên mua, bán được ghi trên thư tín dụng. Thư tín dụng chỉ trả tiền bằng chuyển khỏan, ghi vào tài khỏan của bên bán. Mọi trường hợp tranh chấp về hàng hóa đã giao, và tiền hàng đã trả (nếu có) do 2 bên mua và bán giải quyết. Khi nhận được giấy báo nợ của Ngân hàng bên bán về việc trả tiền cho bên bán, Ngân hàng bên mua tất tóan tài khỏan tiền gửi thư tín dụng của bên mua. D/ THANH TÓAN BẰNG ỦY NHIỆM THU

Điều 18. Hình thức thanh tóan bằng ủy nhiệm thu (phụ lục số 6) được áp dụng trong thanh tóan cùng địa phương hoặc khác địa phương trong hệ thống và ngòai hệ thống về những khỏan tiền hàng đã giao hoặc dịch vụ đã cung ứng mà 2 bên mua và bán thống nhất thỏa thuận dùng hình thức thanh tóan này với những điều kiện thanh tóan cụ thể đã ghi trong hợp đồng kinh tế hoặc đơn đặt hàng và đã được bên mua ký xác nhận trên các chứng từ thanh tóan (hóa đơn, vận đơn v.v...). Bên mua phải thông báo bằng văn bản cho Ngân hàng phục vụ mình biết về thỏa thuận dùng hình thức thanh tóan ủy nhiệm thu của đơn vị mình.

Điều 19. Sau khi đã giao hàng hoặc hòan tất dịch vụ cung ứng, bên bán lập giấy ủy nhiệm thu theo mẫu của Ngân hàng ấn hành kèm theo hóa đơn, vận đơn gửi tới Ngân hàng phục vụ mình để yêu cầu thu hộ. Để thu nhanh tiền hàng hoặc dịch vụ theo giấy ủy nhiệm thu, bên bán có thể ghi rõ trên giấy ủy nhiệm thu yêu cầu Ngân hàng bên mua chuyển tiền bằng điện và chịu chi phí điện báo.

Điều 20. Khi nhận được giấy ủy nhiệm thu, trong vòng một ngày làm việc Ngân hàng bên mua trích tài khỏan của bên mua trả ngay cho bên bán để hòan tất việc thanh tóan. Nếu tài khỏan bên mua không có tiền chi trả thì bên mua bị phạt chậm trả theo Điều 9 nêu trên. Mọi trường hợp tranh chấp về việc làm chứng từ khống, về sự thiếu khớp đúng giữa tiền đã trả với hàng hóa, dịch vụ nhận được, do 2 bên mua và bán tự giải quyết. III- THANH TÓAN TRONG NỘI BỘ TỪNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI, NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN, KHO BẠC NHÀ NƯỚC

Điều 21.

Căn cứ những quy định trong thể lệ này về các mẫu ấn chỉ của các hình thức thanh tóan do Ngân hàng Nhà nước Trung ương quy định, từng Ngân hàng thương mại, Ngân hàng đầu tư và phát triển, Cục kho bạc Nhà nước được ấn hành các lọai ấn chỉ thanh tóan, nhượng lại cho khách hàng và cơ sở Ngân hàng trực thuộc sử dụng. Các mẫu ấn chỉ thanh tóan này phải được Ngân hàng Nhà nước Trung ương duyệt và đăng ký lưu ở Ngân hàng Nhà nước Trung ương.

Điều 22. Mỗi Ngân hàng thương mại, Ngân hàng đầu tư và phát triển, Cục kho bạc Nhà nước là một hệ thống, do đó họat động về thanh tóan, chuyển vốn giữa các chi nhánh, chi cục là họat động thanh tóan trong nội bộ hệ thống. Các ngân hàng thương mại, Ngân hàng đầu tư và phát triển, Cục kho bạc Nhà nước có trách nhiệm hướng dẫn việc thanh tóan trong nội bộ hệ thống mình đảm bảo phù hợp thể lệ này và chu chuyển vốn nhanh chóng, chính xác; quản lý cân đối vốn trong hệ thống được chặt chẽ, an tòan.

Điều 23. Để đảm bảo thanh tóan thuận tiện nhanh chóng, các Ngân hàng được lựa chọn áp dụng các phương thức thanh tóan sau đây: 23.1- Có thể áp dụng hình thức thanh tóan liên hàng trong hệ thống. 23.2- Có thể mở tài khỏan tiền gửi của Ngân hàng mình tại Ngân hàng khác, ủy quyền cho Ngân hàng nơi mở tài khỏan được trích tài khỏan tiền gửi của mình để trả hoặc ghi nhập vào tài khỏan tiền gửi của mình các khỏan được hưởng; sau một định kỳ nhất định (tùy 2 bên quy định) Ngân hàng giữ tài khỏan có trách nhiệm tổng hợp thông báo cho Ngân hàng chủ tài khỏan các khỏan nợ, có biến động trên tài khỏan tiền gửi. 23.3- Có thể ủy nhiệm thu hộ, chi hộ theo các khỏan thanh tóan của khách hàng, ttrong hạn mức đã thỏa thuận, sau một định kỳ nhất định (tùy hai bên quy định) tổng hợp thông báo và quyết tóan với nhau về số tiền thu, chi hộ. 23.4- Tổ chức thanh tóan bù trừ tòan hệ thống hoặc theo vùng, hoặc giữa một số chi nhánh có quan hệ thường xuyên với nhau dưới sự hướng dẫn và tổ chức thực hiện của Ngân hàng thương mại chủ quản hoặc theo những quy định đã cam kết giữa các chi nhánh có quan hệ thanh tóan. IV- THANH TÓAN GIỮA CÁC NGÂN HÀNG KHÁC HỆ THỐNG (Thanh tóan liên Ngân hàng)

Điều 24. Thanh tóan giữa các Ngân hàng khác hệ thống được thực hiện theo các phương thức sau đây: 24.1-Thanh tóan từng lần qua tài khỏan mở tại Ngân hàng Nhà nước. Về chuyển tiền từng lần: Ngân hàng có yêu cầu chuyển tiền (A) phải lập chứng từ thanh tóan gửi chi nhánh Ngân hàng Nhà nước hoặc phòng đại diện (nếu có) yêu cầu trích tài khỏan của mình tại chi nhánh Ngân hàng Nhà nước hoặc phòng đại diện(nếu có) để chuyển đến Ngân hàng B. 24.2- Thanh tóan bù trừ giữa hai bên hoặc nhiều bên Ngân hàng theo thỏa thuận đã kỹ kết giữa các bên tham gia. Thanh tóan bù trừ trong cùng tỉnh do chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh tổ chức. Hàng ngày Ngân hàng Nhà nước tập hợp các khỏan phát sinh Nợ, Có của từng Ngân hàng tham gia thanh tóan để bù trừ và ghi Nợ, Có vào tài khỏan của từng Ngân hàng liên quan. Việc tổ chức thanh tóan bù trừ và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh tóan bù trừ đối với các Ngân hàng thương mại, có văn bản riêng. 24.3- Có thể dùng các phương thức khác nhau: Mở tài khỏan tiền gửi của Ngân hàng mình ở Ngân hàng khác để giao dịch thanh tóan. Ủy nhiệm thu hộ, chi hộ giữa các Ngân hàng có quan hệ thanh tóan với nhau trong hạn mức thỏa thuận từng định kỳ quyết tóan với nhau về số tiền đã thu, chi hộ. V- ĐIỀU KHỎAN THI HÀNH

Điều 25. Các Ngân hàng thương mại, Ngân hàng đầu tư và phát triển, Cục kho bạc Nhà nước căn cứ thể lệ thanh tóan qua Ngân hàng và thông tư hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước cụ thể hóa nghiệp vụ thanh tóan phục vụ khách hàng, hướng dẫn thực hiện dúng. Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện công tác thanh tóan qua Ngân hàng trong nền kinh tế quốc dân, không ngừng hòan thiện nghiệp vụ thanh tóan phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế tài chính của Nhà nước.

Điều 26. Thể lệ này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 10 năm 1991. Việc sửa đổi, bổ sung thể lệ thanh tóan qua Ngân hàng thuộc thẩm quyền của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. (1) Thuật ngữ "Ngân hàng" trong thể lệ này được hiểu là các tổ chức Ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước. (2) Thuật ngữ "khác địa phương" được hiểu là khác huyện, quận, thị xã./.

Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/quyet-dinh-so-101-nh-qd-ban-hanh-the-le-thanh-toan-qua-ngan-hang--11400.

Dịch vụ liên quan

Văn bản liên quan