Thông tư số 75-TC/NSNNHướng dẫn xây dựng kế hoạch ngân sách nhà nước năm 1994
- Số hiệu
- 75-TC/NSNN
- Loại văn bản
- Thông tư
- Cơ quan ban hành
- Bộ Tài chính
- Ngày ban hành
- 06/09/1993
- Lĩnh vực
- Ngân sách nhà nước
Toàn văn
THÔNG TƯ Hướng dẫn xây dựng kế họach ngân sách nhà nước năm 1994 __________________________ PHẦN I ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC XÂY DỰNG KẾ HỌACH VÀ KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 1993 1/ Kế họach Ngân sách Nhà nước năm 1993 được bắt đầu lập từ tháng 8/1992, trình Quốc hội thông qua tháng 12/1992 và giao chính thức cho các Bộ, Ngành, Địa phương vào tháng 2/1993. Việc xây dựng kế họach Ngân sách Nhà nước năm 1993 đã bộc lộ những ưu, khuyết điểm chính cần rút kinh nghiệm để xây dựng kế họach Ngân sách Nhà nước năm 1994 như sau: a/ Ưu điểm: - Các Bộ, Ngành, Địa phương đã bám sát những định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Chính phủ vận dụng cụ thể vào thực tế của mình để tính tóan xây dựng dự tóan thu - chi Ngân sách theo đúng các chế độ chính sách hiện hành; Tính tóan kế họach chi tiết đến từng khỏan thu, chi bảo đảm kịp thời gian trình Chính phủ và Quốc hội. - Kế họach Ngân sách Nhà nước năm 1993 được giao sớm hơn so với một số năm gần đây, tạo điều kiện cho các Bộ, ngành, Địa phương chủ động điều hành Ngân sách theo nhiệm vụ được giao. b/ Nhược điểm : - Việc xây dựng kế họach thu chi Ngân sách nói chung chưa sát thực tế. Kết quả thu Ngân sách thường vượt kế họach lớn; một mặt, do yếu tố tăng trưởng kinh tế, do thay đổi chính sách thuế, tăng cường quản lý thu nộp; mặt khác, có phần do một số Bộ, ngành, Địa phương xây dựng kế họach chưa tích cực, thường tính thu thấp so với khả năng thực hiện, nhận kế họach thu thấp để dễ vượt kế họach có nguồn chi tiêu rộng rãi cho đơn vị, Địa phương. - Dự tóan chi do các Bộ, ngành, Địa phương xây dựng thường rất cao, vượt quá khả năng cân đối của Ngân sách Nhà nước. Từ tình hình trên đã dẫn tới tình trạng ở một số Địa phương lập kế họach thu thấp, khi thực hiện vượt kế họach có nguồn tăng chi lớn, nhưng lại rơi vào các Tỉnh, Thành phố có lợi thế về kinh tế, trong khi các Tỉnh nghèo, nguồn thu ít thì chi tiêu quá hạn hẹp gây nên sự thiếu công bằng trong phân phối Ngân sách. Nhìn chung, các Bộ, các ngành, các Địa phương còn chưa hiểu hết tình hình khó khăn chung của Ngân sách Nhà nước để có biện pháp tích cực khai thác hết nguồn thu và tiết kiệm chi, góp phần làm giảm thiếu hụt Ngân sách Nhà nước. 2/ Qua 8 tháng thực hiện, đánh giá khả năng thực hiện Ngân sách Nhà nước cả năm 1993 có một số mặt tiến bộ nhưng cũng còn nhiều khó khăn: Thu Ngân sách Nhà nước có khả năng vượt kế họach đã giao; trong đó những nguồn thu lớn như: thu từ XNQD, thu từ khu vực công thương nghiệp, dịch vụ ngòai quốc doanh, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thu về dầu thô ... vượt kế họach khá. Do kết quả thu khá đã đáp ứng được các nhu cầu chi thiết yếu của các ngành, các Địa phương. Tuy vậy, một số khỏan thu đã ghi kế họach đầu năm sẽ không đạt kế họach như: thu về kinh doanh nhà ở, thu KHCB, thu về chuyển nhượng quyền sử dụng đất và thuế nông nghiệp ở một số Địa phương bị thiên tai, mất mùa ... Đồng thời chi tiêu còn rộng rãi chưa tiết kiệm, việc bố trí chi còn dàn trải, chưa tập trung; trong đó nhiều như cầu chi cho các công trình XDCB trọng điểm, yêu cầu tăng cường phòng thủ biên giới, biển đông, trường sa và các nhu cầu chi thường xuyên khác như chi cho quốc phòng, an ninh; chi cho các chương trình quốc gia về việc làm, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, chống mại dâm, chống Sida ... đang đòi hỏi tăng thêm rất lớn (khỏang 3000 - 4000 tỷ đồng) làm cho Ngân sách Nhà nước trong năm 1993 rất khó khăn, căng thẳng. Thu thuế và phí trong nước chỉ đủ chi tiêu dùng thường xuyên, số dành ra cho đầu tư phát triển và trả nợ không đáng kể: Năm 1991 dành ra được 18,8% thu trong nước cho đầu tư và trả nợ, năm 1992 dành ra được 12,1% và năm 1993 chỉ dành được khỏang 3%. Hầu hết chi đầu tư XDCB và trả nợ nước ngòai đều phải dựa vào nguồn vay dân trong nước và vay nước ngòai, trong đó vay nước ngòai là chủ yếu. Thiếu hụt Ngân sách lớn, nguồn bù đắp chủ yếu dựa vào vay từ bên ngòai, nhưng triển khai lại rất khó khăn. Qua đánh giá khả năng vay nợ nước ngòai từ nguồn ODA chỉ được khỏang 40% kế họach phải vay. Nguồn vay ODA cho năm 1993 không còn; Số còn lại phải tìm nguồn vay thương mại với lãi suất cao và sau 1 năm phải trả nợ ngay hoặc phải gán trả bằng dầu thô thực chất là “bán dầu non” sẽ gây khó khăn lớn cho Ngân sách Nhà nước năm 1994 và những năm sau. PHẦN II HƯỚNG DẪN XÂY DỰNG KẾ HỌACH NĂM 1994 Nhằm góp phần khắc phục những mặt tồn tại trong công tác lập kế họach năm 1993; đồng thời để có căn cứ tính tóan, xây dựng và tổng hợp kế họach thu chi Ngân sách Nhà nước 1994 sát đúng với thực tế, Bộ Tài chính hướng dẫn nội dung xây dựng kế họach như sau: I/ MỘT SỐ NHIỆM VỤ VÀ MỤC TIÊU CHỦ YẾU CỦA KẾ HỌACH KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 1994 Nhìn nhận một cách tổng quát, qua 3 năm thực hiện kế họach kinh tế - xã hội 5 năm 1991 -1995, thành tựu nổi bật là đã trụ vững và giữ được ổn định tình hình kinh tế - tài chính, kiềm chế được lạm phát, từng bước vượt qua khủng hỏang và nền kinh tế có bước phát triển khá. Tuy nhiên, nền kinh tế - tài chính phát triển chưa thật vững chắc, hiệu quả thấp và còn mất cân đối lớn. Vì vậy, nhiệm vụ còn lại của 2 năm 1994 - 1995 hết sức nặng nề, vừa phải khắc phục những khó khăn, tồn tại của những năm trước, vừa phải phấn đấu để đạt được tốc độ tăng trưởng khá hơn, tiếp tục kiềm chế, hạ tỷ lệ lạm phát xuống mức 1 con số vào năm 1994 -1995. Vì vậy, việc bố trí kế họach năm 1994 phải đạt được các mục tiêu chủ yếu sau: - Phấn đấu nâng tốc độ tăng một số chỉ tiêu tổng hợp của nền kinh tế quốc dân cao hơn so với năm 1993: tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng bình quân 8 -9%, giá trị tổng sản lượng công nghiệp tăng bình quân 10 -11%, giá trị tổng sản lượng nông nghiệp tăng bình quân 3,5 - 4%, kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân khỏang 20%. - Tiếp tục kiểm sóat và giảm lạm phát từ dưới 15% của năm 1993 xuống khỏang 8 -10% trong năm 1994; không để xảy ra các cơn sốt về giá. - Bảo đảm vốn cho các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu của nền kinh tế tạo điều kiện để sản xuất phát triển và thu hút đầu tư nước ngòai. - Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia về tạo việc làm cho xã hội, chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc, chống sốt rét, chống bướu cổ phổ cập cấp I, dân số và kế họach hóa gia đình ... - Bố trí ngân sách phải góp phần thực hiện kế họach phát triển kinh tế xã hội hàng năm và 5 năm. Cần phải huy động tối đa các tiềm năng từ trong nước bảo đảm thu đúng, thu đủ, tăng thu; đồng thời tranh thủ và sử dụng có hiệu quả nguồn vay, viện trợ từ bên ngòai để đáp ứng vốn cho các công trình trọng điểm, bảo đảm phát triển có chất lượng, hiệu quả các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, y tế, xã hội ... và phát triển nông thôn theo Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 4, 5; bảo đảm chi cần thiết hợp lý cho lĩnh vực quốc phòng, an ninh, tăng cường phòng thủ Biển Đông, Trường Sa để giữ vững chủ quyền quốc gia và trật tự an tòan xã hội. - Tiếp tục thực hiện đổi mới cơ cấu chi ngân sách giữa tích lũy và tiêu dùng, bố trí chi tiết kiệm, hiệu quả và phù hợp với khả năng Ngân sách Nhà nước ; chi tiêu dùng thường xuyên không được vượt quá nguồn thu thuế và phí trong nước, phấn đấu giành khỏang 10% số thuế và phí cho đầu tư XDCB và trả nợ. Thiếu hụt Ngân sách Nhà nước không được vượt quá 5% so với GDP; không dùng nguồn phát hành để bù đắp thiếu hụt ngân sách, chủ yếu là tăng cường vay trong nước, còn thiếu mới vay nước ngòai nhưng chỉ vay ODA, hạn chế tối đa vay thương mại. II/ YÊU CẦU XÂY DỰNG KẾ HỌACH NSNN NĂM 1994 Việc xây dựng kế họach Ngân sách Nhà nước của năm 1994 phải trên cơ sở khai thác thật tốt các nguồn thu trong nước góp phần nâng cao mức động viên từ GDP vào Ngân sách Nhà nước. Việc bố trí chi tiêu phải tiết kiệm, có hiệu quả và phù hợp với khả năng tài chính Nhà nước; bảo đảm được cân đối Ngân sách Nhà nước một cách vững chắc và giảm mức thiếu hụt ngân sách so với năm 1993, góp phần ổn định tình hình kinh tế - xã hội và đẩy lùi lạm phát. Cụ thể: - Các Bộ, ngành, UBND các Tỉnh, Thành phố tập trung chỉ đạo các đơn vị trực thuộc đánh giá một cách tòan diện về kết quả sản xuất kinh doanh, kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội trong phạm vi mình phụ trách, kết quả thu chi ngân sách trong năm 1993, hệ thống hóa các tài liệu cơ bản để thuyết minh chi tiết về thu - chi ngân sách của năm 1993 và kế họach năm 1994 có căn cứ chắc chắn. - Việc tính tóan thu phải trên cơ sở nắm chắc các đối tượng họat động sản xuất kinh doanh, họat động dịch vụ và doanh số kinh doanh, bảo đảm khai thác triệt để các nguồn thu hiện có vào Ngân sách Nhà nước; yêu cầu tính đúng, tính đủ các khỏan thu theo các sắc thuế và các chế độ thu khác đã được ban hành. - Bố trí chi Ngân sách Nhà nước phải phù hợp với khả năng của Ngân sách Nhà nước, đúng với yêu cầu nhiệm vụ được giao; sắp xếp thứ tự ưu tiên đối với từng công việc, từng khỏan chi để bảo đảm chi tiêu hợp lý và có hiệu quả. III/ NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU TÍNH TÓAN CÁC KHỎAN THU CHI NSNN NĂM 1994 A/ VỀ TÍNH THU NSNN: Các Bộ, các ngành, các Địa phương căn cứ vào : kết quả sản xuất kinh doanh năm 1993, dự kiến kế họach 1994 từ các đơn vị cơ sở; nắm vững các Luật thuế, Pháp lệnh thuế, các chế độ thu phí, lệ phí và thu khác đã được ban hành để tính kế họach thu năm 1994 cho sát thực tế, đúng chế độ quy định. Trong quá trình tính thu phải theo đúng các quy định hiện hành về thu và cần chú ý một số điểm sau đây: 1/ Đối với khu vực kinh tế quốc doanh: a/ Khi tính tóan thuế doanh thu cần chú ý những sửa đổi bổ sung sau: + Bổ sung đối tượng tính thuế doanh thu về kinh doanh bất động sản. + Doanh thu tính thuế đối với họat động tín dụng là chênh lệch giữa lãi cho vay và lãi phải trả đối với tiền gửi. + Đối với những đối tượng thí điểm thu thuế trị giá gia tăng (VAT) theo Quyết định số 468 TC/TCT ngày 5/7/1993 của Bộ Tài chính : Xi măng, dệt và đường; về nguyên tắc số thuế trị giá gia tăng tối thiểu phải bằng thuế doanh thu phải nộp theo chế độ hiện hành. b/ Thuế tiêu thụ đặc biệt cần chú ý: tính đúng quy định của Luật thuế, các trường hợp đặc biệt được phép của cơ quan có thẩm quyền cho cấp lại một phần hoặc giảm thuế cần phải có thuyết minh cụ thể. c/ Về thuế lợi tức: Để xác định đúng lợi tức chịu thuế, các đơn vị cần tính đúng chi phí sản xuất kinh doanh theo các quy định hiện hành; về chi phí tiền lương theo Nghị định số 26/CP ngày 23/5/1993. Doanh nghiệp phải đảm bảo các nghĩa vụ thu nộp đối với Nhà nước không được thấp hơn mức đã thu hiện nay. Riêng đối với đơn vị có lãi lớn do khách quan, ngòai việc nộp thuế lợi tức còn phải nộp thuế lợi tức bổ sung theo luật định. d/
Căn cứ vào quy định hiện hành về cách xác định nguyên giá TSCĐ và mức trích khấu hao, các đơn vị có trách nhiệm tính đúng, tính đủ số khấu hao cơ bản trên TSCĐ phải tính khấu hao thuộc nguồn Ngân sách Nhà nước đầu tư để ghi kế họach thu ngân sách. Riêng KHCB về nhà ở tính theo đúng hướng dẫn tại Thông tư số 09 TC/TT ngày 10/2/1993 của Bộ Tài chính. 2/ Tính kế họach thu thuế đối với khu vực công thương nghiệp và dịch vụ ngòai quốc doanh cần phải nắm cho được các đối tượng có họat động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và doanh thu của từng đối tượng, ngành hàng. Thông qua kết quả quản lý thường xuyên ; qua điều tra để xác định cụ thể số hộ có kinh doanh, có đăng ký kinh doanh, số hộ đóng thuế để đưa thêm số hộ vào quản lý thu và nâng doanh thu sát với thực tế kinh doanh của các hộ. Trong khi tính tóan kế họach thu cần đặc biệt lưu ý: + Đối tượng kinh doanh buôn chuyến, buôn bán lưu động; khó quản lý và thường bị thất thu, do đó cần cải tiến biện pháp quản lý thu để tính tóan khả năng thu cho năm 1994 với yêu cầu chống thất thu đối với lọai hình kinh doanh này. + Đối với các đơn vị kinh doanh bất động sản có đăng ký về việc mua bán, chuyển nhượng Nhà đất .... tính thu theo mức 8% trên doanh thu. - Thuế tài nguyên: Cần thiết phải tổ chức kiểm tra, điều tra để xác định số lượng hộ có họat động khai thác và quy mô, sản lượng khai thác để tính thu cho năm 1994 với giá tính thuế tại thời điểm qúy IV/1993 đối với từng lọai tài nguyên; trong đó, chú ý tới các đối tượng khai thác thủy hải sản, khóang sản, đất, cát, đá, sỏi và khai thác rừng. 3/ Xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngòai: Ngành thuế phối hợp chặt chẽ với các ngành liên quan nắm chắc số đơn vị đã được cấp giấy phép trên địa bàn Tỉnh, Thành phố. Nắm chắc những đơn vị đã đi vào sản xuất kinh doanh để xác định cụ thể mức thu thuế theo Luật định. Tính kế họach thu năm 1994 đối với những đơn vị này phải căn cứ vào Luật đầu tư nước ngòai, Luật sửa đổi bổ sung ngày 23/12/1992 và Nghị định 18/CP ngày16/4/1993, Thông tư số 51 TC/TCT ngày 03/7/1993. Đối với tiền thuê mặt đất, mặt nước, mặt biển căn cứ tính theo Thông tư số 50 TC/TCĐN ngày 03/7/1993. Đối với xí nghiệp liên doanh dầu khí Việt - Xô được tính tóan theo các chế độ thu hiện hành. Riêng thuế lợi tức tính theo hướng dẫn tại các Thông tư số 48 TC/TCT ngày 30/6/1993 và Thông tư số 51 TC/TCT ngày 03/7/1993 của Bộ Tài chính. 4/ Thuế sử dụng đất nông nghiệp: Do Luật thuế này mới được Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 10/7/1993, Bộ Tài chính sẽ hướng dẫn cụ thể sau để các ngành, các Địa phương triển khai thực hiện theo đúng quy định. - Về giá thóc thu thuế do UBND Tỉnh, Thành phố quy định nhưng không thấp hơn 10% giá thị trường ở Địa phương trong vụ thu thuế. Do vậy, cần căn cứ giá thực tế hiện nay, dự kiến tốc độ trượt giá 1994 của nhóm hàng hóa nông sản để dự kiến giá tính thuế kế họach của năm 1994 cho sát thực. 5/ Thuế thu nhập: Trên cơ sở số lượng đối tượng đã quản lý thu thuế thu nhập dân cư và số thuế đã thu 1993, rà sóat các đối tượng phải quản lý thu như: cá nhân làm việc trong các tổ chức, các văn phòng đại diện của nước ngòai trên địa bàn, họat động mua bán chuyển nhượng bất động sản: nhà cửa, quyền sử dụng đất, ... đối tượng chịu thuế thu nhập là CNV trong các doanh nghiệp ... để xây dựng kế họach thu thuế năm 1994. Đối với những cá nhân Việt nam làm việc trong các tổ chức quốc tế, các cơ quan nước ngòai tại Việt nam, liên doanh dầu khí Việt - Xô ... ngòai thuế thu nhập còn phải nộp khỏan điều tiết thu nhập bổ sung theo Thông tư 06 TC/TCT ngày 26/3/1991 của Bộ Tài chính. 6/ Thuế nhà đất:
Căn cứ vào Pháp lệnh thuế nhà đất, các văn bản hướng dẫn và sổ bộ thuế nhà đất 1993 để tính vào kế họach thu cho năm 1994. Riêng về mức thuế trước đây tính theo Pháp lệnh thuế nông nghiệp, sang năm 1994 Pháp lệnh này đã được thay thế bằng Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp, do vậy tính theo hướng dẫn Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp. 7/ Đối với các khỏan thu phí, lệ phí như: phí giao thông, về bán hóa giá nhà; thu tiền nhà, tiền học phí, tiền viện phí; thu lệ phí cấp đất, chuyển quyền sử dụng đất và các khỏan thu khác cần phải phân tích đánh giá cụ thể tình hình thực hiện năm 1993 và dự tính đầy đủ ghi kế họach năm 1994. Thuyết minh rõ tổng số phí, lệ phí ... phải thu và số được để lại đơn vị, ngành theo quy định hiện hành. - Đối với các khỏan thu lệ phí ở xã phường tính số thu nộp theo quy định tại Thông tư số 46 TC/TCT ngày 24/6/1993: Theo nguyên tắc mọi nguồn thu phí, lệ phí ở xã, phường đều phải quản lý qua Ngân sách Nhà nước. 8/ Khi tính tóan thu cần chú ý tính đầy đủ và ghi riêng từng khỏan thu của các đơn vị trực thuộc Đảng quản lý. Các đơn vị sản xuất kinh doanh những mặt hàng phải nộp phụ thu cho qũybình ổn giá theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ tính tóan theo hướng dẫn tại Thông tư Liên Bộ Tài chính - Ban Vật giá Chính phủ số 03/TT-LB ngày 28/5/1993 và kê riêng thành 1 mục. Các Tỉnh, Thành phố được thưởng vượt kế họach thu cần phải báo cáo đầy đủ, chi tiết từng lọai thu vượt và số dự kiến được thưởng. Các khỏan thu bằng ngọai tệ đều phải ghi kế họach thu theo chế độ hiện hành và được quy ra tiền Việt nam theo tỷ giá 10.500 đ/USD (tỷ giá quy ước tính kế họach). Trên cơ sở đẩy mạnh phát triển sản xuất kinh doanh, tăng cường quản lý chống thất thu, tổng hợp chung thu ngân sách năm 1994 phải đảm bảo tốc độ tăng hợp lý bình quân chung tăng 30% so với ước thực hiện năm 1993, riêng các Tỉnh, Thành phố lớn phải tăng trên 35% so với ước tính thực hiện năm 1993. 9/ Về viện trợ, vay nợ: các đơn vị, ngành, Địa phương có nhận viện trợ của các tổ chức quốc tế và nước ngòai hoặc sử dụng vốn vay ưu đãi từ nguồn viện trợ (nếu có), cần phân tích đầy đủ các khỏan viện trợ, vốn vay đã nhận và sử dụng trong năm 1993, báo cáo tình hình nhận viện trợ, vốn vay, tình hình thanh tóan, thu nộp, hòan trả Ngân sách Nhà nước. Dự kiến số ngọai tệ, lượng hàng sẽ nhận trong năm 1994 phân theo từng dự án, từng chương trình cụ thể (công trình XDCB, chương trình phát triển giáo dục, y tế, văn hóa, dân số ...) để tổng hợp vào Ngân sách Nhà nước. Đối với các dự án, chương trình đã được duyệt, các ngành, các Địa phương không đưa vào kế họach thì Bộ Tài chính sẽ không giải quyết vốn trong nước đóng góp vào dự án khi tiếp nhận hoặc chi trả nợ (nếu dự án do Nhà nước vay). 10/ Về nguồn bù đắp thiếu hụt Ngân sách Nhà nước từ vay nợ nước ngòai, Bộ Tài chính phối hợp với UBKHNN xác định cụ thể từng Hiệp định, từng nguồn vay theo các nước và tổ chức quốc tế; chỉ đưa vào cân đối Ngân sách Nhà nước những nguồn vay có khả năng rút vốn được trong năm 1994 để bảo đảm tính cân đối vững chắc và chủ động trong điều hành ngân sách. B/ TÍNH TÓAN XÂY DỰNG KẾ HỌACH CHI: 1/ Vốn XDCB Kế họach vốn Ngân sách Nhà nước 1994 chỉ đầu tư cho các công trình kết cấu hạ tầng, không phải hòan vốn cho ngân sách như: các công trình giao thông, thủy lợi, điện, các công trình y tế, văn hóa, giáo dục, xã hội, cơ quan quản lý Nhà nước ... và một số công trình trọng điểm, then chốt của nền kinh tế quốc dân có tác động thay đổi cơ cấu nền kinh tế cần vốn đầu tư. Cơ quan tài chính cùng UBKHNN và cơ quan chủ quản đầu tư bố trí danh mục đầu tư đúng đối tượng, đúng mục đích, bảo đảm có đầy đủ thủ tục đầu tư XDCB (LCKTKT, dự tóan ... ) được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo Nghị định số 385/ HĐBT ngày 7/11/1990 và sắp xếp theo thứ tự ưu tiên; chỉ bố trí vào cân đối ngân sách những công trình có nguồn bảo đảm chắc chắn. Kế họach vốn đầu tư 1994 cần kê chi tiết từng công trình và tính trên cơ sở xác định rõ: khối lượng hòan thành 1993 chuyển sang, khối lượng XDCB hòan thành của năm 1994, khối lượng XDCB năm 1994 chuyển sang 1995 thanh tóan. Chú ý: Chỉ tính kế họach cấp vốn năm 1994 đối với những công trình và khối lượng hòan thành trong kế họach được duyệt đủ điều kiện thanh tóan. Đối với các công trình, theo dự án của nước ngòai viện trợ hoặc cho vay cần phải ghi rõ vốn ngòai nước theo từng công trình và từng nước viện trợ, cho vay và ghi rõ vốn trong nước phải bảo đảm; Các công trình cần phải sử dụng ngọai tệ để nhập thiết bị cũng phải kê cụ thể chi tiết để có kế họach bố trí vốn. Đối với đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ có nhu cầu về đầu tư đổi mới máy móc thiết bị, chủ đầu tư phải tự lo vốn từ các nguồn: vốn tự bổ sung về đầu tư XDCB, vay ngân hàng, vốn liên doanh liên kết, vốn huy động cổ phần, vay nước ngòai dưới sự bảo lãnh của Chính phủ hoặc của ngân hàng; đồng thời các đơn vị SXKD có trách nhiệm bố trí nguồn để trả nợ đúng hạn. 2/ Về vốn lưu động: Chỉ xét đưa vào diện cấp bổ sung vốn lưu động đối với các đơn vị đã hòan thành việc sắp xếp lại SXKD và đã có Quyết định thành lập lại doanh nghiệp theo Nghị định số 388/ HĐBT, ngày 20/11/1991. Khi tính tóan ghi kế họach cần lựa chọn các đơn vị có đủ tiêu chuẩn được cấp vốn, ưu tiên bố trí cấp vốn lưu động cho các doanh nghiệp mới đi vào sản xuất, các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả mang lại nguồn thu lớn cho Ngân sách Nhà nước hoặc sản xuất các sản phẩm quan trọng cho nền kinh tế quốc dân, nhưng chưa được Ngân sách cấp đủ vốn lưu động theo định mức được duyệt. Các Bộ, các ngành, các Địa phương chỉ đạo các doanh nghiệp do mình quản lý thuyết minh rõ ràng phương án sản xuất, kết quả thu nộp Ngân sách Nhà nước với cơ quan tài chính, thuế ... xác định định mức vốn lưu động cho từng doanh nghiệp ngay từ khi xây dựng kế họach. Cùng với việc xây dựng kế họach 1994 cần đánh giá hiệu quả sản xuất về thu nộp Ngân sách năm 1993 do được sắp xếp lại và Ngân sách đã cấp vốn. 3/ Chi dự trữ Nhà nước Các Bộ, các ngành được Chính phủ giao cho dự trữ những vật tư, hàng hóa cần thiết, phải tiến hành kiểm kê, bảo quản số hiện có; báo cáo đầy đủ số đã đưa ra sử dụng, số mới được thay thế, số bổ sung thêm, số vốn thu hồi cho Ngân sách và số Ngân sách cấp bổ sung trong năm 1993, trên cơ sở đó tính kế họach năm 1994: - Đối với dự trữ quốc gia: việc thay đổi, bổ sung vật tư, hàng hóa, tiền vốn ... phải theo đúng quyết định của Thủ tướng Chính phủ. - Đối với một số vật tư, hàng hóa dự trữ của các Bộ, các ngành, Địa phương đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định dự trữ nhưng chưa bố trí đủ thì tiếp tục đưa vào kế họach năm 1994 (Sau khi đã có thuyết minh cụ thể năm 1993 như đã nêu trên).
Căn cứ vào khả năng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước, Bộ Tài chính sẽ trình Thủ tướng Chính phủ bố trí kế họach dự trữ. Trường hợp các Bộ, ngành, Địa phương cần thay đổi mặt hàng, tăng thêm số lượng dự trữ nhất thiết phải trình Chính phủ quyết định; chỉ sau khi có quyết định của Thủ tướng Chính phủ mới được ghi vào KH năm 1994. 4/ Chi trợ giá các mặt hàng chính sách. - Trợ giá cước vận chuyển một số mặt hàng chính sách: phân bón, thuốc trừ sâu, muối i-ốt, dầu hỏa, giấy viết, thuốc chữa bệnh ... lên miền núi và vận chuyển phân lân vào phía nam thực hiện theo quy định hiện hành; NSTW chỉ trợ cấp giá vận chuyển đến chân hàng cấp II; NSĐP chịu trách nhiệm cấp trợ giá từ chân hàng cấp II đến huyện, hoặc địa điểm liên xã. - Trợ giá giữ giống gốc, gia súc, gia cầm được tính tóan theo Thông tư Liên Bộ Tài chính - Nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm số 03 TT/LB, ngày 8/7/1991. - Trợ giá cho một số tờ báo, tạp chí, nhà xuất bản ... thực hiện theo Thông tư Liên Bộ Tài chính - Văn hóa Thông tin số 11 TT/LB ngày 20/2/1993. Khi tính tóan kế họach trợ giá cần xác định rõ số lượng, giá thành sản xuất, chi phí vận chuyển ..., mức trợ giá cho từng mặt hàng cụ thể. Yêu cầu các ngành, các đơn vị có trách nhiệm phấn đấu giảm tối đa các chi phí không cần thiết để góp phần giảm mức phải trợ giá từ NSNN so với năm 1993. Đối với ngành điện, và ngành đường sắt cần phấn đấu giảm tiêu hao vật chất; Riêng ngành điện phấn đấu giảm tổn thất điện, hạ giá thành sản phẩm, giảm thất thu tiền điện, tiết kiệm chi để giảm lỗ cho NSNN. Nếu sang năm 1994 còn lỗ, được Thủ tướng Chính phủ quyết định trợ giá thì mới đưa vào kế họach. 5/ Chi hành chính sự nghiệp Dự kiến kế họach chi HCSN năm 1994 phải trên cơ sở phân tích tình hình thực hiện năm 1993, lọai bỏ các khỏan chi không đúng chính sách chế độ, những khỏan chi đột xuất của riêng năm 1993. Khả năng nguồn lực của NSNN rất hạn chế, trong năm 1994 phải phấn đấu dành ra khỏang 10% tổng số thu từ thuế và phí cho đầu tư XDCB. Vì vậy, chi HCSN năm 1994 hết sức eo hẹp, chỉ đảm bảo trả đủ tiền lương mới, kinh phí, họat động bình thường tối thiểu cho các đơn vị HCSN một cách tiết kiệm nhất, trên cơ sở sắp xếp lại hợp lý các tổ chức bộ máy họat động của các lĩnh vực hành chính, sự nghiệp và hạn chế tối đa mua sắm ô tô, các tài sản đắt tiền, chưa cấp bách, các khỏan chi tổng kết ngành, kỷ niệm ngày thành lập ngành ... Trong việc bố trí chi HCSN năm 1994 cần chú ý: - Việc lập kế họach chi HCSN cần phải ghi rõ: Chi bằng ngọai tệ và chi bằng đồng Việt nam. Những khỏan chi liên quan đến ngọai tệ, tính theo tỷ giá 10.500 đ/USD. - Khi xây dựng kế họach phải tính rõ và tách các mục chi lớn: Chi về lương, phụ cấp lương (qũytiền lương và phụ cấp lương được tính theo chế độ tiền lương thi hành từ 1/4/1993). Đối với các khỏan chi thường xuyên có định mức được tính theo mức chi bình quân theo vùng (gồm cả mua sắm sửa chữa). Các khỏan chi không có định mức được xác định trên cơ sở ước thực hiện năm 1993 (lọai trừ các khỏan chi đột xuất như mua ô tô, sửa chữa lớn, khắc phục thiên tai, cứu đói đột xuất và chi cho các nhiệm vụ đột xuất khác ...) để dự kiến kế họach chi 1994 cho sát thực tế. - Thực hiện Chỉ thị số 132/ TTg ngày 27/3/1993 của Thủ tướng Chính phủ, không được tính chi các khỏan do ngành, Địa phương tự quy định ngòai chế độ chung của Nhà nước. - Đối với các đơn vị sự nghiệp có thu phí và lệ phí thực hiện đúng quyết định 276/CT ngày 28/7/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ), Thông tư số 48 TC/TCT ngày 28/9/1992 về việc thống nhất quản lý các lọai phí và các Thông tư hướng dẫn cụ thể riêng một số lọai lệ phí để tính tóan và nộp đầy đủ vào NSNN. Đồng thời các đơn vị và Địa phương phải kê khai đầy đủ số phí, lệ phí được để lại sử dụng tại đơn vị theo đúng quy định hiện hành. - Đối với một số lọai hình họat động sự nghiệp có thu như: các đòan nghệ thuật, TDTT, các trạm trại thuộc lĩnh vực nông nghiệp, thủy lợi ... thực hiện lấy thu bù chi phí theo cơ chế hiện hành; NSNN chỉ hỗ trợ phần thu không đủ chi hoặc đơn vị phải nộp Ngân sách trong trường hợp nguồn thu cao hơn nhu cầu chi. Khi tính kế họach phải thuyết minh cụ thể yêu cầu chi, khả năng thu, phần chênh lệch thu chi. a/ Đối với các họat động sự nghiệp kinh tế: Bố trí kế họach năm 1994 phải gắn với mục tiêu của kế họach 2 năm 1994 - 1995; tập trung ưu tiên các công việc phục vụ phát triển nông nghiệp, phát triển nông thôn theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 5. - Chi cho công tác khuyến nông thôn thực hiện theo Thông tư 02 TT/LB ngày 02/8/1993 của Liên Bộ Nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm, Lâm nghiệp, Thủy sản, Tài chính, Ban tổ chức cán bộ Chính phủ. - Chi sự nghiệp giao thông: Trên cơ sở thống kê và phân lọai các lọai đường, cầu, cống và xác định mức độ cần phải sửa chữa, duy tu bảo dưỡng ... và chế độ chi quy định cho từng lọai để tính nhu cầu tối thiểu cần thiết để ghi kế họach. - Chi sự nghiệp lâm nghiệp: Các Địa phương cần tính tóan cụ thể số chi sự nghiệp lâm nghiệp ngòai dự án theo chương trình 327 (bao gồm: chi phòng chống sâu bệnh hại rừng, phòng chống cháy, xây dựng đường ranh cản lửa, trạm nghiên cứu lâm nghiệp ... ) kể cả chi cho lực lượng kiểm lâm nhân dân trong đó ghi rõ chi lương, phụ cấp lương. - Chi đo vẽ bản đồ địa giới hành chính theo chỉ thị số 364/CT ngày 6/11/1992: Các Địa phương lập kế họach chi cho việc xây dựng và hòan thành bộ bản đồ hiện trạng về địa giới hành chính của Địa phương mình gửi Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ tổng hợp. Ngân sách Trung ương cấp kinh phí ủy quyền cho các Địa phương. b/ Chi giáo dục, đào tạo: Việc bố trí kế họach chi giáo dục, đào tạo phải tiến hành đồng thời với việc sắp xếp hợp lý mạng lưới trường, lớp học.
Căn cứ số học sinh, dân số theo từng vùng, các mức chi bình quân để lập dự tóan chi đào tạo, giáo dục. Khi tính tóan cần phân tích rõ chi học bổng, chi lương cho giáo viên, chi cho các trường phổ thông dân tộc nội trú. Đối với việc cầp sách báo thiếu nhi cho học sinh tính thành khỏan riêng, do Ngân sách Trung ương đảm nhiệm và ghi trong Ngân sách giáo dục theo Thông tư Liên Bộ Tài chính - Giáo dục đào tạo số 05 TT/LB ngày 30/6/1993. Các khỏan chi phí cho đào tạo đối với hệ mở rộng do học sinh đóng góp, Ngân sách không bảo đảm kinh phí. Các đơn vị SXKD có mở các lớp đào tạo hoặc gửi cán bộ đi đào tạo, bồi dưỡng ở các trường phải tự lo chi phí đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, NSNN không bảo đảm kinh phí. c/ Chi y tế: Trên cơ sở sắp xếp lại mạng lưới khám chữa bệnh của Bộ Y tế, của các ngành và của Địa phương; đẩy mạnh và mở rộng diện thực hiện bảo hiểm y tế; tăng cường thu viện phí để có nguồn bảo đảm yêu cầu chi. Về chữa bệnh: Các Bộ, ngành và Địa phương căn cứ vào số giường bệnh, dân số theo vùng và mức chi bình quân để xác định nhu cầu chi chữa bệnh thuộc Ngân sách cấp phát. Đồng thời tính tóan đầy đủ khỏan thu bảo hiểm y tế theo quy định hiện hành; trong đó tách riêng số thu bảo hiểm y tế bắt buộc (chia ra thuộc khu vực sản xuất kinh doanh, thuộc khu vực HCSN) để có nguồn đáp ứng nhu cầu chi khám chữa bệnh. Đối với chi phòng bệnh:
Căn cứ vào nhiệm vụ cụ thể, vào dân số, vào mức chi của từng vùng để tính nhu cầu chi. Các Bộ, ngành, Địa phương cần báo cáo đầy đủ số giường bệnh, giường điều dưỡng. Đối với chi cho các nhà điều dưỡng: Trong khi chờ sắp xếp lại, cần giảm bớt sự bao cấp của Ngân sách Nhà nước; các Bộ, ngành và Địa phương cần báo cáo đầy đủ số giường điều dưỡng, Ngân sách Nhà nước chỉ bảo đảm chi cho 50% số giường hiện có, số còn lại các Bộ, ngành, đơn vị phải tự bảo đảm bằng qũy phúc lợi của mình. d/ Chi cho văn hóa - nghệ thuật, thông tin: để đầu tư hỗ trợ cho các họat động văn hóa, nghệ thuật, các đơn vị, các ngành phải rà sóat lại nhiệm vụ, chương trình họat động, bảo đảm thiết thực và hiệu quả, nhưng phải trên cơ sở lấy thu bù đắp chi phí. Nhà nước chỉ cầp bù phần chênh lệch giữa kế họach chi của đơn vị, ngành với số thực thu hoặc hỗ trợ cho các lọai hình văn hóa nghệ thuật phục vụ chính trị theo đơn đặt hàng và theo quy định của Nhà nước. e/ Chi thể dục thể thao: Ngành TDTT và các Địa phương tính kế họach theo hướng dẫn tại Thông tư số: 66/ TTLB ngày 3/8/193. Riêng khỏan chi chuẩn bị cho Đại hội TDTT tòan quốc vào năm 1995 như: đầu tư XDCB, mua sắm sửa chữa dụng cụ sân bãi; bồi dưỡng huấn luyện viên, vận động viên, trọng tài ... trên tinh thần tiết kiệm, có hiệu quả và tính tóan chung cho cả chương trình theo thông báo số 170/ TB ngày 3/6/1993 của Văn phòng Chính phủ, trong đó ghi rõ đã chi trong 1993, yêu cầu chi trong năm 1994, 1995. Khỏan chi này được tổng hợp thành nhu cầu chi riêng ngòai nhu cầu chi thường xuyên của ngành TDTT. g/ Về bảo đảm xã hội: Ngành thương binh xã hội và các Địa phương cần kiểm tra nắm chắc số đối tượng được hưởng chính sách đãi ngộ của Nhà nước để tính tóan kế họach chi Ngân sách chính xác, theo từng lọai đối tượng: Hưu trí, mất sức, thương binh, gia đình liệt sỹ, người có công với cách mạng, diện thiếu đói thường xuyên và các đối tượng xã hội khác ... Đẩy mạnh phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” với nhiều hình thức đa dạng, phong phú như: lập các qũy“Đền ơn đáp nghĩa”, “Qũy từ thiện” ... để chăm lo đời sống của gia đình liệt sỹvà các đối tượng xã hội đặc biệt khó khăn để gánh đỡ một phần cho Ngân sách Nhà nước. h/ Chi nghiên cứu khoa học: Trên cơ sở các đề tài khoa học và chương trình, tiến độ thực hiện đều được các cấp có thẩm quyền phê duyệt, tính tóan yêu cầu chi về công tác nghiên cứu khoa học, trong đó ghi rõ chi cho tiền lương của bộ máy nghiên cứu khoa học. Ngòai ra, các Bộ, ngành cần tận dụng tối đa các nguồn thu từ việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh, thu hồi các sản phẩm qua công tác nghiên cứu khoa học và nguồn từ qũy khoa học của mình để hỗ trợ cho công tác này. Những đề tài gắn với sản xuất kinh doanh thực hiện theo chế độ hợp đồng với các đơn vị để có nguồn kinh phí thực hiện. i/ Chi quản lý hành chính: Tính theo mức chi bình quân cho từng khu vực, trong đó cần tính rõ chi cho bộ máy quản lý Nhà nước, chi cho Hội đồng Nhân dân các cấp, chi cho Đảng, đòan thể ...; kê cụ thể các khỏan chi mua sắm, hội nghị, hội thảo, tiếp khách ... Trong cân đối Ngân sách Đảng, kê rõ số thóai thuế của các doanh nghiệp do Đảng quản lý. 6/ Đối với các chương trình mục tiêu. - Phần do Ngân sách Trung ương chi: Cơ quan chủ quản chương trình dự án cần xác định rõ phạm vi, đối tượng sử dụng kinh phí của từng chương trình dự án; chú ý tính tóan các khỏan thu hồi vốn (nếu có) để bố trí kế họach 1994 hợp lý; đồng thời phối hợp với Bộ Tài chính, Ủy ban Kế họach Nhà nước tính tóan và phân bổ kế họach kinh phí cho bản thân bộ chủ quản, các Bộ, ngành có liên quan và cho từng Địa phương để trình Chính phủ, Quốc hội phê duyệt và giao kế họach sau khi được chính thức phê duyệt. - Đối với các Địa phương có chi cho các chương trình Quốc gia (phần Địa phương đảm nhận) cần phải kê rõ mức đã chi năm 1993 và yêu cầu chi năm 1994 cho từng chương trình (trong đó ghi rõ chi cho bộ máy, chi cho nghiệp vụ ... ). Riêng chi đặc biệt cho miền núi (ngòai các khỏan chi thường xuyên) nói chung ở Địa phương có nhiều nhu cầu chi cho đồng bào dân tộc thiểu số, dân tộc Chăm, Khơ me, cần phải tính tóan cụ thể yêu cầu chi từng khỏan (giao thông, thủy lợi, văn hóa, xã hội, y tế ...). Riêng đối với chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc và giải quyết việc làm: Các Bộ, ngành và Địa phương căn cứ vào các văn bản hiện hành để xây dựng các chương trình dự án trình cấp có thẩm quyền duyệt. Ban chỉ đạo thực hiện chương trình 327 và các bộ có liên quan; Bộ LĐTBXH, Cục Kho bạc Nhà nước cần tổng hợp chi chung cho chương trình, lập dự tóan thu chi, trong đó phân rõ các nguồn vốn: NSNN bổ sung trong năm kế họach, vốn thu hồi năm trước, vốn viện trợ. 7/ Các khỏan chi khác
Căn cứ vào tình hình cụ thể của từng đơn vị, Bộ, Địa phương mình để tính chi, đảm bảo tính đúng theo chế độ hiện hành, kê rõ từng khỏan chi và có thuyết minh cụ thể. Đối với chi Quốc phòng, an ninh chủ yếu là NSTW chi, Địa phương chỉ được bố trí các khỏan sau: Chi cho dân quân tự vệ theo kế họach hàng năm được cơ quan quân sự cấp trên duyệt, chi cho công tác tuyển quân, đăng ký nghĩa vụ quân sự hàng năm, tuyên truyền, giáo dục thanh niên nhập ngũ, chi cho Hội đồng nghĩa vụ quân sự. Ngòai ra, các Địa phương phải báo cáo đầy đủ số chi do NS Địa phương đã hỗ trợ cho an ninh, quốc phòng ngòai quy định theo yêu cầu nhiệm vụ riêng của Địa phương trong năm 1993. Các Tỉnh, Thành phố cần xác định cụ thể từng lọai thu, thóai trả cho xã theo quy định hiện hành (trong đó chú ý cả các lọai phí, lệ phí thu tại xã đã phản ánh vào Ngân sách Địa phương). 8/ Trong khi chưa có quyết định của Chính phủ về việc chuyển Ngân sách cấp Huyện sang đơn vị dự tóan khi lập kế họach Ngân sách năm 1994 cần chú ý: Đối với các Tỉnh đã chuyển cấp huyện sang đơn vị dự tóan thì dự tóan Ngân sách Huyện được tổng hợp vào Ngân sách Tỉnh, nhưng đối với các Tỉnh chưa chuyển Huyện sang đơn vị dự tóan thì vẫn tổng hợp thu chi trong Ngân sách Tỉnh, Thành phố, nhưng lập một biểu tổng hợp riêng về thu chi Ngân sách cấp huyện. Kế họach Ngân sách xã được lập cùng thời gian xây dựng kế họach Ngân sách Nhà nước. Chính quyền cấp xã có trách nhiệm xây dựng kế họach thu, chi phải căn cứ vào các chế độ, định mức đã ban hành. Riêng về sinh họat phí phải tính tóan theo Nghị định số 46/CP ngày 23/6/1993 và hướng dẫn tại Thông tư Liên Bộ số 13 TT/LB ngày 29/7/1993 của Bộ Tài chính và Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ. Trên cơ sở đó xác định phần Ngân sách Tỉnh phải hỗ trợ cho Ngân sách các xã. Đối với các Tỉnh có Thành phần lọai II trực thuộc thì cần tính tóan Ngân sách riêng và tổng hợp trong Ngân sách Tỉnh. Ban Tài chính quản trị Trung ương và các Địa phương có các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc Đảng quản lý cần có báo cáo cụ thể số thuế được thóai lại năm 1993 và dự kiến năm 1994. Các Bộ, các Địa phương có các cơ sở sản xuất kinh doanh hoặc nhập khẩu các lọai hàng đặc chủng được cấp có thẩm quyền cho phép cấp lại tiền thuế cũng cần phải báo cáo cụ thể số thuế đã cấp lại năm 1993 và dự kiến năm 1994. Ngòai các tính tóan chỉ tiêu thu, chi Ngân sách như đã nêu trên, các Bộ, ngành, Địa phương cần chú ý tính tóan tổng hợp kế họach chi đầu tư XDCB bao gồm vốn Ngân sách cấp, vốn tín dụng, vốn tự bổ sung, vốn tự huy động của các doanh nghiệp, vốn liên doanh, liên kết trong và ngòai nước, vốn đầu tư trực tiếp của nước ngòai, vốn đầu tư của các thành phần kinh tế trên địa bàn ... để có thể tổng hợp chung đầu tư XDCB tòan xã hội. C/ VỀ PHÂN CẤP NSNN Từ cơ sở tính tóan các khỏan thu, chi nêu trên, các ngành, Địa phương cần xác định cụ thể số thu Ngân sách Nhà nước trên địa bàn, số chi NSNN phải bảo đảm; căn cứ vào những bổ sung sửa đổi chế độ quản lý Ngân sách cho các Địa phương của Chính phủ, Bộ Tài chính sẽ hướng dẫn cụ thể sau. IV/ TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1/ Tiến độ xây dựng và tổng hợp kế họach: a/ Từ nay đến cuối tháng 9/1993 Thủ trưởng các Bộ, Chủ tịch UBND các Tỉnh, Thành phố căn cứ vào những điểm nêu trên để hướng dẫn thêm và chỉ đạo các đơn vị cơ sở trực thuộc đánh giá tình hình thực hiện kế họach năm 1993 và lập kế họach NSNN năm 1994 cho phù hợp với đặc thù của từng ngành, từng Địa phương. Các Bộ, Địa phương tổng hợp tài liệu đánh giá thực hiện thu, chi Ngân sách năm 1993, lập dự tóan cho năm 1994 và nêu các kiến nghị cụ thể gửi cho Bộ Tài chính chậm nhất là ngày 30/9/1993. b/ Các Bộ, các ngành, các Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm báo cáo kế họach chi với Bộ Tài chính và các Bộ, Tổng cục chuyên ngành về những lĩnh vực họat động của mình; để các Bộ, Tổng cục, chuyên ngành tổng hợp chung Ngân sách tòan ngành. Ví dụ: chi về y tế, giáo dục - đào tạo, văn hóa thông tin, TDTT ... Các Bộ, các ngành, các Địa phương phải báo cáo kế họach chi về những lĩnh vực nói trên với Bộ Y tế, Bộ Giáo dục - đào tạo, Bộ Văn hóa thông tin và Tổng cục thể dục thể thao ... c/ Bộ Tài chính sẽ tổ chức làm việc với các Bộ, Địa phương vào khỏang thời gian cuối tháng 9 và trong tháng 10/1993 (lịch làm việc cụ thể sẽ thông báo sau). d/ Trong tháng 11/1993: Bộ Tài chính tổng hợp, hòan chỉnh dự tóan NSNN và thuyết minh chi tiết về dự tóan thu chi của từng Bộ. Địa phương trình Chính phủ và Quốc hội. 2/ Về biểu mẫu xây dựng và báo cáo kế họach: Các Bộ, Địa phương căn cứ hướng dẫn chung và hệ thống mẫu biểu, báo cáo theo quy định tại Thông tư này; Yêu cầu các Bộ, Địa phương lập kế họach bảo đảm đầy đủ các nội dung cần báo cáo. Kèm theo các biểu mẫu cần có thuyết minh chi tiết các khỏan thu, chi kể cả các khỏan thu, chi có tính đặc thù. 3/ Tổng cục thuế có nhiệm vụ hướng dẫn chi tiết Thông tư này để thực hiện trong hệ thống thuế. Trong quá trình xây dựng kế họach NSNN năm 1994 nếu có chính sách chế độ mới, Bộ Tài chính sẽ hướng dẫn bổ sung. Khi triển khai thực hiện có khó khăn vướng mắc các Bộ, Địa phương cần phản ánh về Bộ Tài chính để xử lý kịp thời./.
Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/thong-tu-so-75-tc-nsnn-huong-dan-xay-dung-ke-hoach-ngan-sach-nha-nuoc-nam-1994--82321.
Dịch vụ liên quan
Văn bản liên quan
- Hướng dẫn việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031
- Hướng dẫn về lập dự toán, chấp hành và quyết toán kinh phí chỉ trả tiền bồi dưỡng giám định tư pháp của các cơ quan tiến hành tố tụng theo quy định tại của Thủ tướng Chính phủ về chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp
- Luật Ngân sách nhà nước
- Hướng dẫn xây dựng dự toán ngân sách nhà nước năm 2026 và kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 03 năm 2026-2028
- Sửa đổi, bổ sung một số điều của của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thu và quản lý các khoản thu ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo của Bộ trưởng Bộ Tài chính
- Quy định về lãi vay sau thời gian xây dựng, lợi nhuận hợp lý, phương thức thanh toán, quyết toán thực hiện dự án đầu tư áp dụng loại hợp đồng BT trên địa bàn tỉnh Nghệ An
- Sửa đổi, bổ sung một số điều của của Chính phủ quy định chế độ quản lý ngân quỹ nhà nước
- Quy định về tổ chức thực hiện dự toán ngân sách nhà nước năm 2025