Thông tư liên tịch số 53/HĐBTTT/LB Hướng dẫn việc khoá sổ thu chi ngân sách cuối năm và quyết toán ngân sách Nhà nước năm 1988

Số hiệu
53/HĐBT
Loại văn bản
Thông tư liên tịch
Cơ quan ban hành
Bộ Tài chính
Ngày ban hành
24/12/1988
Lĩnh vực
Ngân sách nhà nước

Toàn văn

THÔNG TƯ LIÊN BỘ Hướng dẫn việc khóa sổ thu chi ngân sách cuối năm và quyết tóan ngân sách nhà nước năm 1988 ___________________________ Công tác khóa sổ thu chi ngân sách cuối năm và quyết tóan ngân sách Nhà nước hàng năm đã được quy định tại Thông tư số 33/TT-LB ngày 1/2/1982 của Liên bộ Tài chính - Ngân hàng Nhà nước Việt nam và các văn bản hướng dẫn bổ sung của Bộ Tài chính. Năm 1988 do có nhiều thay đổi trong công tác quản lý tài chính và ngân sách Nhà nước như thực hiện mục lục ngân sách Nhà nước mới; từ 1/7/1988 ngành Ngân hàng chuyển sang hạch tóan kinh doanh theo tinh thần Nghị định số 53/HĐBT ngày 26/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng về tổ chức bộ máy Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; thực hiện chế độ kế tóan qũy ngân sách Nhà nước ban hành theo Quyết định số 56/NH-QĐ ngày 1/7/1988 của Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt nam và thông tư số 32 TT/LB ngày 30/6/1980 của Liên Bộ Tài chính - Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn công tác chấp hành ngân sách Nhà nước về phương diện qũy và thực hiện mục lục ngân sách Nhà nước..., để tạo điều kiện cho các Bộ, các ngành, các địa phương và các cơ quan đơn vị dự tóan thực hiện tốt công tác khóa sổ thu chi ngân sách cuối năm và lập quyết tóan ngân sách Nhà nước năm 1988; Liên Bộ Tài chính - Ngân hàng Nhà nước nhắc lại một số quy định trong Thông tư số 33 TT/LB và hướng dẫn bổ sung thêm một số vấn đề sau đây: A. KHÓA SỔ SÁCH CUỐI NĂM: 1/ Thời hạn chuyển kinh phí Thời hạn cuối cùng để giải quyết việc phê chuẩn hạn mức, chuyển thông báo phân phối hạn mức và chuyển kinh phí của các cấp được ấn định căn cứ vào thời gian luân chuyển chứng từ trên đường đi từ nơi phê chuẩn hạn mức đến nơi nhận kinh phí nhằm đảm bảo cho hạn mức hoặc kinh phí chuyển đến cơ sở có thể sử dụng được kịp thời, trong năm 1988 Liên Bộ Tài chính - Ngân hàng Nhà nước quy định như sau:

a) Đối với ngân sách Trung ương: Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Trung ương thống nhất thời hạn cuối cùng để giải quyết việc phê chuẩn hạn mức, chuyển thông báo và giấy báo phân phối hạn mức cho các đơn vị dự tóan Trung ương và chuyển các khỏan trợ cấp, kinh phí ủy quyền của ngân sách Trung ương cho ngân sách tỉnh, thành phố là: - Trước cuối giờ làm việc ngày 18/12 : đối với các đơn vị dự tóan Trung ương đóng tại các tỉnh: Hà Tuyên, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lai Châu, Sơn La, Bắc Thái, Hòang Liên Sơn, Quảng Ninh, Nghệ Tĩnh (Phía Bắc) và các tỉnh ở phía Nam từ Bình Trị Thiên trở vào. - Trước cuối giờ làm việc ngày 20/12 : đối với các đơn vị đóng ở các tỉnh khác (trừ thành phố Hà Nội). - Trước cuối giờ làm việc ngày 23/12 : đối với các đơn vị đóng ở thành phố Hà Nội. Các đơn vị dự tóan cấp I Trung ương căn cứ vào thời hạn quy định trên và tình hình thực tế của ngành mình để có kế họach phân phối hạn mức kinh phí cho các đơn vị trực thuộc.

b) Đối với ngân sách địa phương: Các Sở Tài chính cùng với Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố; các Phòng Tài chính quận, huyện cùng với Ngân hàng chuyên doanh cơ sở thống nhất quy định thời hạn cuối cùng giải quyết việc phê chuẩn, phân phối hạn mức và chuyển kinh phí của ngân sách cấp mình cho các đơn vị dự tóan trực thuộc, phù hợp với tình hình cụ thể của từng điạ phương. 2/ Cấp phát hạn mức kinh phí hoặc chuyển hạn mức kinh phí vào tài khỏan tiền gửi dự tóan:

a) Đối với các đơn vị quốc phòng, an ninh: thực hiện theo quy định tại Thông tư Liên Bộ Tài chính - Ngân hàng Nhà nước số 25/CT-LB nagỳ 28/12/1961.

b) Đối với các đơn vị dự tóan tuyệt đối không được rút kinh phí từ tài khỏan hạn mức kinh phí chuyển vào tài khỏan tiền gửi dự tóan. Không được dùng hạn mức kinh phí từ lọai, khỏan, hạng, mục này chi cho các lọai, khỏan, hạng, mục khác.

c) Số hạn mức kinh phí của đơn vị dự tóan thuộc Trung ương và địa phương còn lại đến cuối ngày 31/12, sẽ hủy bỏ không được chuyển sang năm sau để chi tiêu (kể cả quốc phòng và an ninh).

d) Cơ quan tài chính và Ngân hàng Nhà nước, ngân hàng chuyên doanh các cấp phối hợp tăng cường kiểm tra, kiểm sóat chặt chẽ để ngăn chặn và xử lý kịp thời các trường hợp chi chạy vốn chính sách cuối năm dưới hình thức tạm ứng thanh tóan tiền vật tư, hàng hóa... ngòai kế họach hoặc không có hợp đồng kinh tế. 3/ Phát hành séc Cơ quan tài chính và ngân hàng các cấp không chịu trách nhiệm giải quyết những trường hợp "Séc" đã phát hành quá thời hạn hoặc các chừng từ chuyển tiền quá số dư hạn mức kinh phí và số dư tài khỏan tiền gửi. Để đảm bảo cho "Séc" phát hành có đủ thời gian quay trở lại ngân hàng nơi lưu ký hạn mức kinh phí trước ngày 31/12; tất cả các đơn vị dự tóan thuộc các cấp ngân sách cần phải tổ chức đối chiếu sổ sách chứng từ để nắm chắc số dư kinh phí còn lại tại Ngân hàng để chủ động bố trí kế họach chi tiêu và đình chỉ việc phát hành các lọai "séc" của niên độ hiện hành chậm nhất là ngày 25/12. I. Đối chiếu, xét duyệt, trích nộp và báo cáo số dư tồn khỏan tiền gửi các đơn vị dự tóan. 1/ Các đơn vị dự tóan các cấp phải chấp hành nghiêm chỉnh chế độ đối chiếu số dư tài khỏan tiền gửi của đơn vị mình với Ngân hàng nơi giao dịch hàng ngày, làm thủ tục nộp hết vào ngân sách những số tiền thuộc nguồn vốn và kinh phí ngân sách cấp thừa, các khỏan thu của ngân sách chưa nộp (thu sự nghiệp, thu khác, tạm gửi, tiền phạt...) trước ngày 31/12. Số dư ở tài khỏan tiền gửi dự tóan còn lại nếu muốn chuyển sang năm sau để sử dụng (kinh phí đươcj cấp trước cho năm sau, các khỏan không thuộc nguồn vốn ngân sách...) đơn vị làm công văn kèm theo bảng kê chi tiết ghi rõ nguồn gốc từng khỏan tiền thuộc số dư trên, có xác nhận của Ngân hàng nơi mở tài khỏan; trực tiếp đến cơ quan tài chính để làm thủ tục chuyển số dư sang năm sau, thời gian từ 26/12 đến cuối giờ làm việc ngày 31/12. 2/ Việc xét chuyển số dư tài khỏan tiền gửi dự tóan của các đơn vị được quy định như sau: - Bộ Tài chính (Vụ NSNN) duyệt cho các đơn vị dự tóan Trung ương đóng trên địa bàn Hà Nội. - Sở Tài chính tỉnh, thành phố duyệt cho các đơn vị dự tóan thuộc ngân sách tỉnh, thành phố và được Bộ Tài chính ủy quyền duyệt cho các đơn vị dự tóan Trung ương đóng trên địa bàn (trừ thành phố Hà Nội). - Phòng Tài chính quận, huyện, thị duyệt cho các đơn vị dự tóan thuộc ngân sách quận, huyện, thị quản lý. Các đơn vị quân đội, công an muốn chuyển số tiền không thuộc nguồn vốn và kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp phát để tiếp tục chi tiêu cho năm sau thì làm văn bản đề nghị với cơ quan Ngân hàng nơi đơn vị giao dịch hàng ngày. 3/ Đến cuối giờ giao dịch ngày 31/12 các ngân hàng nơi đơn vị mở tài khỏan, chỉ cho chuyển sang năm sau những khỏan tiền đã được cơ quan tài chính xét duyệt. Số dư tài khỏan tiền gửi còn lại được trích nộp vào ngân sách các cấp (ngân sách cấp kinh phí dự tóan). Các khỏan đơn vị không kê khai, đối chiếu; Ngân hàng cũng làm thủ tục chuyên nộp vào ngân sách các cấp. 4/ Ngân hàng cơ sở (nơi đơn vị dự tóan giao dịch) lập bảng kê chi tiết số đã trích nộp vào ngân sách của các đơn vị dự tóan thuộc từng cấp ngân sách để gửi cho Ngân hàng Nhà nước tỉnh (hoặc Ngân hàng chuyên doanh tỉnh nơi không có ngân hàng Nhà nước) và phòng Tài chính quận, huyện như sau: + Gửi Phòng Tài chính quận, huyện, thị xã bảng kê số dư tiền gửi dự tóan đã nộp vào ngân sách quận, huyện, thị xã. + Gửi Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố (hoặc Ngân hàng chuyên doanh tỉnh nơi không có Ngân hàng Nhà nước) bảng kê số dư tiền gửi dự tóan đã nộp vào ngân sách tỉnh, thành phố và ngân sách Trung ương. - Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố hoặc Ngân hàng chuyên doanh (tỉnh, thành phố) tổng hợp bảng kê của các ngân hàng cơ sở để gửi trước ngày 20/1 năm sau cho: + Sở Tài chính: số tiền gửi của các đơn vị dự tóan đã trích nộp vào ngân sách tỉnh, thành phố. + Ngân hàng Nhà nước Trung ương (Vụ qũy ngân sách Nhà nước) số dư tiền gửi của các đơn vị dự tóan; đơn vị quân đội, công an đã trích nộp vào ngân sách Trung ương (2 bản) để Ngân hàng Nhà nước Trung ương lưu 1 bản và gưỉ Bộ Tài chính 1 bản. II. Xử lý các khỏan có liên quan đến ngân sách năm trước và năm sau: 1/ Chuẩn bị kinh phí chi tiêu cho đầu năm sau: ngay từ đầu tháng 12 năm trước các Bộ, các ngành, các Sở chủ quản có trách nhiệm lập kế họach thu, chi qúy I năm sau và làm việc với cơ quan tài chính, ngân hàng Nhà nước đồng cấp để kịp thông báo, phân phối hạn mức hoặc chuyển kinh phí bằng lệnh chi tiền cho đơn vị trực thuộc có kinh phí chi tiêu ngay từ đầu năm sau. 2/ Thuế nông nghiệp vụ đông thu trước cho năm sau: riêng năm 1988, cơ quan tài chính - ngân hàng Nhà nước các cấp đều ghi thu ngòai ngân sách. Đến 1/1/1989 chuyển vào thu trong ngân sách thuộc niên độ ngân sách năm 1989 và phân chia số thu giữa các cấp ngân sách (Trung ương, tỉnh, huyện, xã) theo quy định tại quyết định số 141/HĐBT ngày 6/9/1988 của Hội đồng Bộ trưởng và theo tinh thần thông tư hướng dẫn số 46 TC/NSNN ngày 28/10/1988 của Bộ Tài chính. Từ năm 1989 trở đi, các khỏan thu thuế nông nghiệp nộp năm nào ghi thu vào niên độ ngân sách năm đó. Số thu này sẽ nằm trong số dư ngân sách cuối năm để dùng cho việc chi tiêu ngay từ đầu năm sau; vì vậy các địa phương cần kế họach hóa việc chi tiêu cho đúng mục đích. 3/ Vốn đầu tư XDCB tập trung năm 1987, (ngòai kế họach) do ngân sách Trung ương chuyển về tài khỏan kinh phí ủy quyền trong năm 1988, các địa phương quyết tóan thu, chi vào niên độ ngân sách năm 1988; nhưng phải ghi chú riêng tổng số vốn ngòai kế họach này và có phân tích đầy đủ chương, lọai, khỏan, hạng, mục theo mục lục ngân sách Nhà nước hiện hành. (Bản ghi chú này kèm theo quyết tóan thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tòan tỉnh). 4/ Số vốn đầu tư XDCB do địa phương vay NHNN chỉ được phép quyết tóan chi trong niên độ ngân sách 1988 nếu địa phương đã thanh tóan vốn này với NHNN trong năm 1988. 5/ Số thu thuế nông nghiệp vụ chiêm xuân và hè thu đã nhập kho năm 1988 nhưng ngành lương thực chưa thanh tóan với ngân sách thì không ghi thu khống cho niên độ ngân sách năm 1988; sang năm 1989, ngành lương thực thanh tóan với ngân sách thì địa phương ghi vào thu ngân sách niên độ 1989. 6/ Các khỏan kinh phí ủy quyền thuộc niên độ ngân sách 1988 như vốn XDCB tập trung, trợ cấp khó khăn, bù giá 6 mặt hàng định lượng, trả nợ dân, sửa chữa các di tích lịch sử... Ngân sách Trung ương chuyển về cho địa phương quá muộn (từ 15/12 đến 31/12/1988) đều được phép chuyển sang năm sau để tiếp tục chi tiêu vào những mục đích trên. III. Thời hạn khóa sổ, điện báo: 1/ Việc khóa sổ thu, chi ngân sách Nhà nước cuối năm tại các cơ quan Ngân hàng thống nhất tiến hành vào cuối ngày 31/12 hàng năm. 2/ Việc điện báo kết quả thu, chi, tồn qũy ngân sách các cấp đến cuối ngày 31/12 thực hiện như sau: - Ngân hàng chuyên doanh quận, huyện, thị xã điện về NHNN hoặc NH chuyên doanh tỉnh, thành phố vào nagỳ 2/1 năm sau. - NHNN và NHCD tỉnh, thành phố điện về NHNN Trung ương (Vụ qũy NSNN) trong ngày 5/1 năm sau. Sau khi NH các cấp điện báo về NH cấp trên phải gửi bản sao điện báo đó cho cơ quan tài chính đồng cấp (chú ý, tính tóan chính xác sẽ tồn qũy của cấp ngân sách do mình quản lý). 3/ Nội dung điện báo: - Thu ngân sách huyện, chi ngân sách huyện, tồn qũy ngân sách huyện. - Thu ngân sách tỉnh, chi ngân sách tỉnh. - Thu ngân sách trung ương, chi ngân sách trung ương. Riêng NHNN tỉnh, thành phố điện thêm chỉ tiêu tồn qũy ngân sách tỉnh, thành phố, NHNN Trung ương bổ sung thêm chỉ tiêu tồn qũy ngân sách Trung ương. B - QUYẾT TÓAN THU CHI NGÂN SÁCH: I. Thời gian chỉnh lý quyết tóan: được quy định ở mỗi cấp ngân sách như sau: - Hết tháng 1 năm sau đối với ngân sách huyện. - Hết tháng 2 năm sau đối với ngân sách tỉnh. - Hết tháng 3 năm sau đối với ngân sách Trung ương. Trong thời gian chỉnh lý quyết tóan mỗi cấp ngân sách cần: 1/ Tiếp tục điều chỉnh số thu chi ngân sách theo đúng tỷ lệ điều tiết quy định giữa cấp ngân sách và ghi theo đúng chương, lọai, khỏan, hạng, mục của mục lục ngân sách Nhà nước hiện hành. Từ 1/7/1988 khỏan thu thuế công thương nghiệp và thuế nông nghiệp, các địa phương phải thực hiện theo tinh thần thông tư số 46 TC/NSNN ngày 28/10/1988 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành quyết định số 141 - HĐBT ngày 6/9/1988 của Hội đồng Bộ trưởng về việc sửa dodỏi tỷ lệ điều tiết 1 số khỏan thu về thuế cho ngân sách địa phương. Các tỉnh, thành phố vay của ngân sách trung ương, nếu tồn qũy ngân sách không đủ trả ngân sách trung ương thì phải làm việc cụ thể với Bộ Tài chính để giải quyết. 2/ Đôn đốc nộp hết các khỏan kinh phí thừa vào ngân sách, đảm bảo số kinh phí đã cấp là số đã thực chi và sẽ tổng hợp vào quyết tóan năm. Nguồn kinh phí thừa này nếu bằng tiền mặt còn gửi ở qũy đơn vị làm thủ tục nộp hết vào ngân sách, nếu bằng hiện vật để ở kho thì hoặc là lấy kinh phí năm sau hòan lại kinh phí năm trước và nộp giảm cấp phát kinh phí năm trước hoặc là trừ vào kinh phí năm sau: 3/ Thanh tóan hết các khỏan tạm ứng, cho vay, đi vay các khỏan phải thu, phải trả của các đơn vị và của các cấp ngân sách. II. Đối chiếu số liệu: Để đảm bảo số liệu quyết tóan được chính xác, Liên Bộ quy định việc đối chiếu số liệu như sau: - Trong nội bộ từng cơ quan (Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, đơn vị dự tóan) đối chiếu giữa hạch tóan chi tiết và hạch tóan tổng hợp, giữa số liệu của phòng kế tóan với sổ sách của các phòng có liên quan. - Đơn vị dự tóan với cơ quan tài chính và Ngân hàng Nhà nước nơi giao dịch đối chiếu số thực thụ, thực nộp, số cấp phát, số kinh phí thừa đã nộp và chưa nộp, số tạm ứng, cho vay, đi vay; phải có xác nhận của Ngân hàng Nhà nước trước khi khóa sổ làm quyết tóan năm. - Cơ quan tài chính với Ngân hàng đầu tư và xây dựng đối chiếu số tiền vốn ngân sách đã cấp phát và tạm ứng, số tiền vốn Ngân hàng đầu tư và xây dựng đã cấp phát và thanh tóan, giải quyết số vốn ngân sách cấp thừa hoặc thiếu. - Cơ quan tài chính với ngân hàng Nhà nước đối chiếu về: + Số thu chi ngân sách (Năm trước chuyển sang, trong năm, thu chi trước cho năm sau). + Số thu chi điều chỉnh đối với ngân sách cấp trên và cấp dưới (trợ cấp hoặc nộp lên ngân sách cấp trên). + Số thu trong và ngòai ngân sách. + Số đi vay, đã trả; cho vay hạc tạm ứng, đã thu hồi; số cấp phát và nộp giảm cấp phát. + Số kinh phó ủy quyền: đã nhận, đã cấp, còn lại. + Tồn qũy ngân sách, số bội thu hoặc bội chi, phân tích số kết dư và qũy dự trữ tài chính địa phương. - Giữa Sở Tài chính với Bộ Tài chính; Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố với Ngân hàng Nhà nước trung ương đối chiều về: + Số thu chi điều chỉnh giữa các cấp ngân sách (chương 99, lọai 14, khỏan 01, hạng 2, mục 48, 49). + Số thu chi ngòai ngân sách: đi vay, cho vay, tạm ứng và thanh tóan giữa các cấp ngân sách. + Số kết dư năm trước ghi thu vào năm nay (chương 99, lọai 14, khỏan 01, hạng 3, mục 47) và số kết dư năm nay. + Qũy dự trữ tài chính đã trích lập. III. Biểu số liệu quyết tóan thu, chi: - Các đơn vị dự tóan: Biểu quyết tóan phải đầy đủ theo chương, lọai, khỏan, hạng, mục của mục lục ngân sách Nhà nước hiện hành. - Cơ quan Ngân hàng Nhà nước các cấp: Biểu quyết tóan thu theo chương và tất cả các mục phát sinh, biểu quyết tóan chi theo chương và các nhóm mục. - Kèm theo các biểu quyết tóan trên là báo cáo thống kê cả năm theo lọai, khỏan, hạng của mục lục Ngân sách Nhà nước. Riêng Ngân hàng đầu tư và xây dựng phải quyết tóan theo chương, lọai, khỏan, hạng, mục của mục lục ngân sách Nhà nước. - Cơ quan Tài chính các cấp: quyết tóan theo chương lọai, khỏan, hạng, mục; chia theo 2 hệ thống biểu khác nhau: theo ngành kinh tế quốc dân (lọai, khỏan, hạng, mục) và theo nganh chủ quản (chương, mục); ngòai ra phải có bảng cân đối tài khỏan sau thời gian chỉnh lý quyết tóan và nhất thiết phải có bản thuyết minh quyết tóan bằng lời văn giải thích rõ số quyết tóan so với số kế họach, nguyên nhân đạt hay không đạt kế họach tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến các họat động thu, chi ngân sách... - Các lọai báo cáo hàng năm của các cơ quan tài chính và ngân hàng gửi lên cấp trên đều phải có ký xác nhận cuả 2 ngành đảm bảo số liệu khớp đúng, nếu chênh lệch phải được thuyết minh đầy đủ. IV. Thời hạn gửi tổng quyết tóan: - Các đơn vị dự tóan cấp I thuộc ngân sách quận, huyện gửi quyết tóan của mình đến Phòng tài chính quận, huyện trước ngày 31 tháng 1 năm sau. - Các đơn vị thuộc ngân sách tỉnh, thành phố (ngân sách các quận, huyện, các đơn vị dự tóan cấp I thuộc ngân sách tỉnh, thành phố) gửi quyết tóan của mình đến Sở Tài chính trước ngày 28 tháng 2 năm sau. - Các đơn vị thuộc ngân sách Trung ương (gồm các đơn vị dự tóan cấp I của ngân sách Trung ương và ngân sách các tỉnh, thành phố) gửi quyết tóan của mình đến Bộ Tài chính trước ngày 31 tháng 3 năm sau,. C. TỔ CHỨC THỰC HIỆN: Các cơ quan tài chính, Ngân hàng Nhà nước các cấp, các đơn vị dự tóan, ngân hàng đầu tư và xây dựng các cấp cần có kế họach chuẩn bị thật chu đáo, bồi dưỡng huấn luyện do đơn vị cơ sở để việc khóa sổ và quyết tóan thu, chi ngân sách cuối năm được nhanh gọn chính xác. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn vướng mắc gì đề nghị phản ánh để Liên Bộ bàn bạc giải quyết./.

Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/thong-tu-lien-tich-so-54-tt-lb-huong-dan-viec-khoa-so-thu-chi-ngan-sach-cuoi-nam-va-quyet-toan-ngan-sach-nha-nuoc-nam-1988--80189.

Dịch vụ liên quan

Văn bản liên quan