Nghị định số 48/CPVề tổ chức và hoạt động điện ảnh
- Số hiệu
- 48/CP
- Loại văn bản
- Nghị định
- Cơ quan ban hành
- Chính phủ
- Ngày ban hành
- 17/07/1995
Toàn văn
CHÍNH PHỦ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Số: 48-CP
Hà Nội, ngày 17 tháng 7 năm 1995 NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 48-CP NGÀY 17 THÁNG 7 NĂM 1995 VỀ TỔ CHỨC VÀ HỌAT ĐỘNG ĐIỆN ẢNH CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính Phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992; Để củng cố và xây dựng một nền điện ảnh Việt Nam dân tộc, hiện đại và nhân văn, mở rộng giao lưu quốc tế về điện ảnh, đáp ứng nhu cầu sinh họat văn hóa và tinh thần của nhân dân; Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin, NGHỊ ĐỊNH:
Chương 1: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1.- Điện ảnh là lọai hình nghệ thuật tổng hợp gắn liền với phương thức sản xuất công nghiệp. Họat động điện ảnh nhằm giáo dục chính trị, tư tưởng, tình cảm, nâng cao dân trí và trình độ thẩm mỹ, góp phần đáp ứng nhu cầu chính đáng sinh họat văn hóa và tinh thần của nhân dân. Họat động điện ảnh bao gồm các lĩnh vực chủ yếu: sản xuất phim, phổ biến phim (phát hành phim và chiếu phim), xuất, nhập khẩu phim. Họat động điện ảnh không mang tính chất kinh doanh đơn thuần; các doanh nghiệp họat động trong lĩnh vực trên là lọai doanh nghiệp họat động công ích. Phim quy định trong nghị định này là tác phẩm điện ảnh được ghi trên các lọai vật liệu, được phổ biến thông qua các cơ sở chiếu phim, các đài truyền hình và mạng lưới video.
Điều 2.- Nhà nước thống nhất quản lý họat động điện ảnh trong cả nước bằng pháp luật theo nguyên tắc:
-
Phân biệt chức năng quản lý Nhà nước của Bộ, Ủy ban nhân dân các cấp với chức năng họat động sản xuất kinh doanh, sự nghiệp của các cơ sở điện ảnh;
-
Đảm bảo quyền bình đẳng, quyền chủ động sáng tạo và quyền tác giả của các tổ chức, cá nhân tham gia họat động điện ảnh, quyền hưởng thụ tác phẩm điện ảnh của mọi công dân;
-
Phim thuộc mọi thể lọai, sản xuất trong nước hoặc nhập từ nước ngòai đều phải được Bộ Văn hóa - Thông tin xét duyệt và cấp giấy phép mới được phổ biến trong nước hoặc nước ngòai. Nghiêm cấm sản xuất, nhập khẩu và phổ biến các phim có nội dung sau: - Chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Phá họai khối đòan kết tòan dân; - Tuyên truyền bạo lực, chiến tranh xâm lược, gây hận thù giữa các dân tộc và nhân dân các nước; Truyền bá tư tưởng văn hóa phản động, lối sống dâm ô đồi trụy, các hành vi tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, phá họai thuần phong mỹ tục và môi trường sinh thái; - Tiết lộ bí mật của Đảng, Nhà nước, bí mật quân sự, an ninh, kinh tế, đối ngọai, bí mật đời tư, và bí mật khác do pháp luật quy định; - Xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, xúc phạm vĩ nhân, anh hùng dân tộc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân.
Điều 3.- Nhà nước thực hiện chính sách sau đây đối với họat động điện ảnh:
-
Nhà nước đặt hàng, ưu đãi về thuế, cho vay vốn với lãi xuất thấp, trợ giá cho sáng tác kịch bản, sản xuất và phổ biến các lọai phim: tài liệu, khoa học, họat hình, phim thiếu nhi, phim giáo khoa, phim tuyên truyền chính sách của Đảng, Nhà nước, một số phim truyện, các họat động điện ảnh ở vùng núi, hải đảo... và phim thể nghiệm; Trợ giá một phần đối với việc nhập khẩu phim cho thiếu nhi và một số phim của nước ngòai có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật; Nhà nước cấp một phần vốn lưu động cho các cơ sở sản xuất phim, các cơ sở xuất, nhập khẩu phim, phát hành phim và chiếu phim là doanh nghiệp Nhà nước. Bộ Văn hóa - Thông tin và Bộ Tài chính ban hành quy chế về đặt hàng, ưu đãi về thuế, cho vay vốn trợ giá và cấp vốn lưu động cho các cơ sở nói trên.
-
Đầu tư có mục tiêu, có trọng điểm cho việc nghiên cứu lý luận, đào tạo cán bộ, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thật, ứng dụng khoa học, công nghệ hiện đại đối với các cơ sở điện ảnh của Nhà nước trên các lĩnh vực sản xuất, phổ biến và bảo quản các tác phẩm điện ảnh;
-
Củng cố và tăng cường các cơ sở điện ảnh là doanh nghiệp Nhà nước thành một hệ thống liên thông giữa sản xuất và tiêu thụ, trên cơ sở đó giữ vai trò định hướng trong họat động điện ảnh, đồng thời thực hiện xã hội hóa họat động điện ảnh;
-
Khuyến khích việc xuất khẩu, phổ biến những tác phẩm có giá trị của điện ảnh Việt Nam ra nước ngòai và mở rộng giao lưu quốc tế về điện ảnh;
-
Tiếp tục bổ sung, sửa đổi chính sách đối với các nghệ sĩ điện ảnh chuyên nghiệp: xếp lương cơ bản theo trình độ, chất lượng cống hiến, chứ không theo thâm niên, quy định cụ thể chế độ thưởng và phụ cấp cho nghệ sỹ tùy theo kết quả tham gia vào tác phẩm điện ảnh. Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ và Bộ Văn hóa - Thông tin trình Thủ tướng Chính phủ ban hành các quy định nói ở trên.
Chương 2: TỔ CHỨC ĐIỆN ẢNH
Điều 4.- Tổ chức điện ảnh bao gồm:
a) Các cơ sở điện ảnh sự nghiệp, hoặc doanh nghiệp thuộc các cơ quan Nhà nước Trung ương và tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương;
b) Các cơ sở điện ảnh sự nghiệp, hoặc doanh nghiệp của các tổ chức xã hội ở Trung ương và tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương;
c) Các cơ sở điện ảnh là doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác họat động trong lĩnh vực xuất khẩu phim, phát hành phim và chiếu phim.
Điều 5.- Các cơ sở điện ảnh thuộc Bộ, ngành, Trung ương bao gồm:
a) Các hãng sản xuất phim;
b) các trung tâm kỹ thuật điện ảnh;
c) Công ty xuất, nhập khẩu và phát hành phim Việt Nam d) Các công ty xuất, nhập khẩu và cung ứng vật tư điện ảnh;
e) Các cơ sở nghiên cứu, đào tạo và lưu trữ điện ảnh.
Điều 6.- Công ty xuất nhập khẩu và phát hành phim Việt Nam thuộc Bộ Văn hóa - Thông tin có một số rạp chiếu phim ở địa phương. Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có công ty Phát hành phim và Chiếu bóng (doanh nghiệp), hoặc trung tâm Phát hành phim và Chiếu bóng (sự nghiệp). Các công ty hoặc trung tâm này có các rạp, đội chiếu phim kinh doanh, sự nghiệp và các cửa hàng bán và cho thuê băng hình. Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh không thành lập Công ty (hoặc Trung tâm) Phát hành phim và Chiếu bóng.
Điều 7.- Các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, cá nhân muốn thành lập cơ sở điện ảnh phải có đủ các điều kiện và tiêu chuẩn do Bộ Văn hóa - Thông tin quy định.
Chương 3: HỌAT ĐỘNG ĐIỆN ẢNH MỤC 1: VỀ SẢN XUẤT PHIM
Điều 8.- 1. Cơ sở sản xuất phim chỉ được họat động sau khi được Bộ Văn hóa - Thông tin cho phép thành lập và hòan thành các thủ tục khác theo quy định của pháp luật;
- Cơ sở sản xuất phim được quyền huy động vốn của cơ quan, đòan thể, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, cá nhân để sản xuất phim. Việc huy động vốn phải tuân theo các quy định của pháp luật hiện hành.
Điều 9.- Cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội khi có nhu cầu sản xuất phim để phổ biến rộng rãi trên phạm vi cả nước, được xét cấp giấy phép làm phim nhất thời nếu có đủ các điều kiện quy định sau:
-
Có kịch bản của bộ phim xin sản xuất;
-
Có đòan làm phim gồm các chức danh chính: đạo diễn, quay phim, họa sĩ, thu thanh có chứng chỉ hành nghề;
-
Có kế họach sản xuất và phổ biến bộ phim đó.
Điều 10.- Cơ quan, tổ chức đứng tên xin thành lập cơ sở sản xuất phim hoặc xin phép sản xuất phim nhất thời là cơ quan chủ quản của cơ sở sản xuất phim. Thủ trưởng cơ quan chủ quản và giám đốc sơ sở sản xuất phim phải chịu trách nhiệm về nội dung, chất lượng của phim do cơ sở mình sản xuất.
Điều 11.- Cơ sở điện ảnh muốn hợp tác làm phim hoặc cung cấp dịch vụ làm phim với tổ chức quốc tế, tổ chức hoặc cá nhân nước ngòai phải được Bộ Văn hóa - Thông tin cho phép.
Điều 12.- Đạo diễn, quay phim, họa sĩ thu thanh tham gia sản xuất phim phải được Bộ Văn hóa - Thông tin cấp chứng chỉ hành nghề.
Điều 13.- 1. Cơ sở có phim được cấp giấy phép phổ biến phải nộp một bản phim lưu chiểu cho Bộ Văn hóa - Thông tin;
- Cơ sở sản xuất phải nộp lưu trữ vật liệu gốc phim do Nhà nước đặt hàng, hoặc trợ giá cho viện nghệ thuật và lưu trữ điện ảnh thuộc Bộ Văn hóa - Thông tin. Bộ Văn hóa - Thông tin có quy chế cho việc lưu trữ những phim khác. Hàng năm Nhà nước cấp kinh phí mua phim có giá trị của Việt Nam và nước ngòai để lưu trữ, nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, đào tạo và sáng tác điện ảnh. Viện Nghệ thuật và lưu trữ điện ảnh có trách nhiệm bảo quản vật liệu lưu trữ và đào tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác sử dụng. MỤC 2: VỀ XUẤT NHẬP KHẨU PHIM
Điều 14.- Cơ sở sản xuất phim được quyền xuất khẩu hoặc ủy thác xuất khẩu phim do mình sản xuất đã được Bộ Văn hóa - Thông tin cho phép xuất khẩu.
Điều 15.- Việc nhập khẩu phim để kinh doanh dưới bất kỳ hình thức nào đều do FAFIM Việt Nam thuộc Bộ Văn hóa - Thông tin đảm nhiệm. Việc nhập khẩu phim để phát sóng trên Đài truyền hình Việt Nam do Đài truyền hình Việt Nam đảm nhiệm, có sự phối hợp với Bộ Văn hóa - Thông tin. Việc nhập khẩu phim để lưu trữ và nghiên cứu được thực hiện theo quy định của pháp luật về xuất, nhập khẩu văn hóa phẩm. MỤC 3: VỀ PHỔ BIẾN PHIM (Phát hành phim và chiếu phim)
Điều 16.- 1. Cơ sở sản xuất phim được quyền tự phát hành, bán, hoặc ủy thác cho cơ sở phát hành phim phát hành sản phẩm của mình đến các cơ sở chiếu phim và mạng lưới video. Cơ sở sản xuất phim muốn tự pháp hành phim phải đăng ký kinh doanh pháp hành theo quy định của pháp luật;
- Cơ sở sản xuất phim, cơ sở phát hành phim có đăng ký kinh doanh phát hành được mở các chi nhánh, đại lý, cửa hàng để phát hành sản phẩm thuộc sở hữu của mình ở các địa phương. Các đại lý, cửa hàng bán và cho thuê băng hình họat động theo quy định của Bộ Văn hóa - Thông tin .
Điều 17.- Việc chuyển tác phẩm điện ảnh được làm bằng lọai vật liệu này, sang lọai vật liệu khác và in nhân bản để kinh doanh, phải thực hiện theo pháp luật về quyền tác giả.
Điều 18.- Nhà nước cấp 100% kinh phí họat động chiếu phim ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số, vùng nông thôn hẻo lánh, hải đảo; Cấp 50% kinh phí họat động chiếu phim ở các vùng nông thôn khác.
Điều 19.- Cơ sở sản xuất phim, cơ sở phát hành phim được quyền xây dựng rạp để phổ biến phim. Nhà nước khuyến khích mọi thành phần kinh tế (kể cả của nước ngòai) liên doanh, liên kết với các cơ sở điện ảnh để cải tạo, xây dựng, quản lý rạp chiếu phim, hoặc tự bỏ vốn xây dựng, quản lý rạp chiếu phim.
Điều 20.- 1. Cơ sở chiếu phim phải có giấy phép do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp mới được họat động;
- Mọi họat động chiếu phim, băng hình có bán vé thu tiền, phải sử dụng vé do ngành Tài chính phát hành thống nhất trong cả nước.
Điều 21.- Các cơ sở chiếu phim phải ưu tiên chiếu những phim do Nhà nước đặt hàng và trợ giá. MỤC 4: PHỔ BIẾN PHIM TRÊN HỆ THỐNG TRUYỀN HÌNH
Điều 22.- 1. Hệ thống truyền hình là một trong những phương tiện chủ yếu tiêu thụ và phổ biến rộng rãi các phim của ngành Điện ảnh. Các Đài truyền hình trong cả nước phải ưu tiên phổ biến trên sóng truyền hình các phim do Nhà nước đặt hàng và trợ giá. Cơ sở sản xuất phim, cơ sở phát hành phim có trách nhiệm nhận đặt hàng để cung cấp cho đài truyền hình những phim do Nhà nước đặt hàng và trợ giá...
- Bộ Tài chính quy định việc trả tiền bản quyền đối với phim được phát trên sóng truyền hình. Việc phát sóng phim trên truyền hình được thực hiện sau 9 tháng, kể từ ngày phim được phát hành vòng đầu trên mạng lưới chiếu phim, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Các đài truyền hình phải tuân thủ các quy định của pháp luật về quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh.
Điều 23.- 1. Các đài truyền hình trong cả nước phải nâng dần tỉ lệ phát sóng phim truyện Việt Nam; Đến năm 1998 phim truyện Việt Nam đạt ít nhất 50% tổng thời lượng phát sóng phim truyện;
- Bộ Văn hóa - Thông tin và đài truyền hình Việt Nam quy định cụ thể về quan hệ phối hợp giữa Điện ảnh và Truyền hình trong việc cung cấp, hợp tác, đặt hàng, sử dụng và bảo đảm quyền tác giả đối với các phim phát sóng trên truyền hình.
Chương 4: QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÀ ĐIỆN ẢNH
Điều 24.- Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về tổ chức và họat động điện ảnh trong cả nước. Bộ Văn hóa - Thông tin là cơ quan của Chính phủ thực hiện việc thống nhất quản lý Nhà nước về tổ chức và họat động điện ảnh trong cả nước, có nhiệm vụ và quyền hạn:
-
Xây dựng quy họach, kế họach phát triển sự nghiệp Điện ảnh dài hạn và hàng năm; Quản lý việc thực hiện kế họach họat động điện ảnh và chương trình quốc gia củng cố và phát triển điện ảnh Việt Nam; Xây dựng kế họach đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và nghệ sỹ điện ảnh.
-
Xây dựng dự án Luật, Pháp lệnh và các văn bản của Chính phủ trong lĩnh vực họat động điện ảnh; ban hành Quyết định, Thông tư, Chỉ thị về tổ chức và họat động điện ảnh.
-
Cùng các ngành liên quan quyết định việc cho tổ chức, cá nhân trong nước liên doanh, liên kết, hợp tác và dịch vụ với nước ngòai trong lĩnh vực họat động điện ảnh.
-
Cấp, thu hồi giấy phép thành lập các cơ sở sản xuất phim, xuất, nhập khẩu phim trong cả nước và các cơ sở phát hành ở Trung ương; Xét cấp giấy phép làm phim nhất thời theo quy định tại điều 9 nghị định này; Xét cấp giấy phép xuất khẩu và nhập khẩu phim theo quy định tại các điều 14 và 15 Nghị định này; Quyết định thu hồi, tịch thu, cấm lưu hành, tiêu hủy những phim có nội dung xấu được quy định tại điều 2 của Nghị định này; Đình chỉ họat động của các cơ sở điện ảnh có vi phạm pháp luật được quy định tại điều 2 của Nghị định này;
-
Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện phương hướng, nhiệm vụ họat động điện ảnh và các quy định của pháp luật về họat động điện ảnh; thi hành các biện pháp để ngăn chặn những họat động điện ảnh trái pháp luật; Khen thưởng và xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật.
Điều 25.- Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện việc quản lý Nhà nước họat động điện ảnh ở địa phương, có nhiệm vụ và quyền hạn:
-
Xây dựng quy họach, kế họach phát triển sự nghiệp điện ảnh ở địa phương;
-
Cấp, thu hồi giấy phép thành lập các cơ sở phát hành phim và chiếu phim của địa phương;
-
Hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra các họat động điện ảnh trên địa bàn lãnh thổ; tạm đình chỉ việc thực hiện giấy phép do Bộ Văn hóa - Thông tin cấp, nếu phát hiện thấy có vi phạm và báo cáo ngay để Bộ Văn hóa - Thông tin xử lý; tịch thu, thu hồi, cấm lưu hành hoặc quyết định tiêu hủy phim nói tại Điều 2 của Nghị định này.
Điều 26.- Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận hồ sơ xin thành lập cơ sở điện ảnh, cơ quan quản lý Nhà nước về điện ảnh có thẩm quyền phải trả lời; Nếu không cho phép thành lập phải nói rõ lý do. Tổ chức, cá nhân bị từ chối không cho phép thành lập cơ sở điện ảnh, có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật.
Điều 27.- Bộ Văn hóa - Thông tin xây dựng hệ thống tổ chức thanh tra chuyên ngành về họat động điện ảnh trong cả nước. Nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức thanh tra chuyên ngành về điện ảnh được quy định theo pháp luật về thanh tra. Nội dung thanh tra bao gồm:
-
Thanh tra việc quản lý Nhà nước về họat động điện ảnh;
-
Thanh tra họat động sản xuất phim, xuất, nhập khẩu phim, phát hành phim và chiếu phim của các cơ sở điện ảnh trong cả nước;
-
Thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật, các chính sách, chế độ của Nhà nước đối với họat động điện ảnh.
Điều 28.- Tổ chức, cá nhân họat động trong lĩnh vực điện ảnh, có trách nhiệm đáp ứng yêu cầu của đòan thanh tra, thanh tra viên khi thanh tra cơ sở mình; có quyền khiếu nại với cơ quan thanh tra chuyên ngành về điện ảnh, hoặc cơ quan quản lý Nhà nước về điện ảnh cấp trên, đối với những kết luận và xử lý của đòan thanh tra, hoặc thanh tra viên. Tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan quản lý Nhà nước về điện ảnh, hoặc cơ quan thanh tra chuyên ngành về điện ảnh những vi phạm pháp luật của tổ chức, cá nhân trong họat động điện ảnh. Cơ quan nhận được khiếu nại, tố cáo có trách nhiệm xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật.
Chương 5: KHEN THƯỞNG VÀ XỬ LÝ VI PHẠM
Điều 29.- Tổ chức, cá nhân có thành tích trong họat động điện ảnh được khen thưởng theo quy định chung của Nhà nước. Nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh và giải thưởng Nhà nước cho các tác giả và tác phẩm điện ảnh có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật. Bộ Văn hóa - Thông tin phối với Hội điện ảnh Việt Nam quy định các tiêu chuẩn, chế độ khen thưởng đối với các tổ chức, cá nhân có thành tích trong các họat động sản xuất phim, xuất khẩu phim, phát hành và phổ biến phim.
Điều 30.- Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm các quy định trong họat động sản xuất phim, phổ biến phim và xuất, nhập khẩu phim phải bị đình chỉ ngay các hành vi vi phạm và tùy theo mức độ bị xử lý hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự.
Điều 31.- Thẩm quyền và thủ tục xử lý các vi phạm phải thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, về bồi thường thiệt hại, về trách nhiệm hình sự.
Chương 6: ĐIỀU KHỎAN THI HÀNH
Điều 32.- 1.
Căn cứ vào Nghị định này, Bộ Văn hóa - Thông tin quy họach lại tòan bộ các cơ sở điện ảnh, trong đó có các đại lý, cửa hàng bán và cho thuê băng hình trong cả nước. Bộ Văn hóa - Thông tin, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức đăng ký và thành lập lại các cơ sở điện ảnh thuộc thẩm quyền;
- Bộ Văn hóa - Thông tin quy định trách nhiệm của Công ty xuất, nhập khẩu và phát hành phim Việt Nam đối với họat động chiếu phim trong cả nước và đối với các cơ sở sản xuất phim.
Điều 33.- Bộ Văn hóa - Thông tin phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan ra thông tư hướng dẫn chi tiết thực hiện Nghị định này.
Điều 34.- Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành. Những quy định trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ. Võ Văn Kiệt (Đã ký)
Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/nghi-dinh-so-48-cp-ve-to-chuc-va-hoat-dong-dien-anh--9832.
Dịch vụ liên quan
Văn bản liên quan
- Sửa đổi, bổ sung một số điều của của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hải được sửa đổi, bổ sung theo của Chính phủ và của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa
- Sửa đổi, bổ sung một số điều của của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bình đẳng giới
- Quy định chi tiết và biện pháp thi hành về thiết kế kỹ thuật tổng thể của dự án đầu tư xây dựng tuyến đường sắt quốc gia, tuyến đường sắt địa phương
- quy định chi tiết một số điều của Luật Giáo dục
- Quy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất
- Về việc ban hành một cơ chế xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật về phát triển nhà ở xã hội
- Quy định về danh mục, việc quản lý, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ và quy trình thu thập, sử dụng dữ liệu thu được từ phương tiện, thiết bị kỹ thuật do cá nhân, tổ chức cung cấp để phát hiện vi phạm hành chính
- Sửa đổi, bổ sung một số điều của của Chính phủ về việc lập và hoạt động của Văn phòng đại diện của các tổ chức hợp tác, nghiên cứu của nước ngoài tại Việt Nam