Thông tư liên tịch số 09-TT/LBHướng dẫn thi hành của Hội đồng Chính phủ về một số chính sách đối với lực lượng vận tải nhân dân và xếp dỡ huy động đi làm nhiệm vụ theo kế hoạch của nhà nước
- Số hiệu
- 09-TT/LB
- Loại văn bản
- Thông tư liên tịch
- Cơ quan ban hành
- Bộ Tài chính
- Ngày ban hành
- 17/11/1966
- Lĩnh vực
- Quản lý ngân sách
Toàn văn
BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI-BỘ LAO ĐỘNG-BỘ TÀI CHÍNH VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: 09-TT/LB
Hà Nội, ngày 17 tháng 11 năm 1966
THÔNG TƯ LIÊN BỘ
Hướng dẫn thi hành Quyết định số 84-CP ngày 04-05-1966 của Hội đồng Chính phủ về một số chính sách đối với lực lượng vận tải nhân dân và xếp dỡ huy động đi làm nhiệm vụ theo kế họach của Nhà nước ________________________ Quyết định số 84-CP ngày 04-05-1966 của Hội đồng Chính phủ đã xác định nghĩa vụ và vinh dự của người làm vận tải và xếp dỡ huy động đi làm nghĩa vụ theo kế họach của Nhà nước là phải cống hiến phần tích cực nhất của mình bằng kết quả công tác cụ thể cho sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Những người làm vận tải và xếp dỡ cần nâng cao lòng yêu nước, chí căm thù địch, dũng cảm vươn lên, khắc phục mọi khó khăn, không ỷ lại vào sự giúp đỡ của Nhà nước, phải phấn đấu hy sinh cùng tòan dân thi đua quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Đồng thời, Quyết định số 84-CP ngày 04-05-1966 cũng đã vạch ra một số chính sách cụ thể đối với lực lượng vận tải và xếp dỡ nhằm giúp cho các tổ chức này có điều kiện cống hiến khả năng lớn nhất của mình, hòan thành tốt nhiệm vụ của Nhà nước giao cho.
Căn cứ vào quyết định nói trên của Hội đồng Chính phủ, Liên bộ Giao thông vận tải – Lao động – Tài chính hướng dẫn thi hành các điều 3, 5, 8 trong phần A của quyết định này như sau. I. TRỢ CẤP MỘT PHẦN ĐỂ KHÔI PHỤC LẠI PHƯƠNG TIỆN VẬN TẢI BỊ ĐỊCH BẮN PHÁ TRONG KHI ĐI VẬN CHUYỂN HÀNG HÓA THEO KẾ HỌACH CỦA NHÀ NƯỚC
- Việc xét trợ cấp. Việc xét trợ cấp một phần nhằm tạo điều kiện cho các hợp tác xã, tập đòan nhanh chóng khôi phục lại phương tiện vận tải bị địch bắn phá hư hỏng, đắm hoặc cháy khi đi vận chuyển hàng hóa theo kế họach của Nhà nước.
a) Đối với tư liệu sản xuất vận tải, người làm vận tải sẽ được xét trợ cấp một phần tiền vốn và được mua theo giá cung cấp những nguyên liệu, vật liệu cần thiết để sửa chữa khôi phục lại phương tiện. Còn đồ dùng trong sinh họat tập thể hay cá nhân như nồi niêu, bát đĩa, quần áo, v.v… thì do qũy của hợp tác xã hay tiền của cá nhân tự giải quyết lấy; trường hợp hợp tác xã hay cá nhân có khó khăn thì đề nghị với chính quyền địa phương xét trợ cấp cứu tế bằng qũy cứu tế xã hội và xét cấp phiếu vải.
b) Để việc xét trợ cấp được chặt chẽ, các Ủy ban hành chính khu, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phải thành lập một hội đồng gồm có đại biểu các sở, ty giao thông vận tải, tài chính và chi nhánh ngân hàng địa phương để nghiên cứu và đề nghị với Ủy ban hành chính khu, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc Bộ Giao thông vận tải quyết định.
c) Khi xét trợ cấp phải tùy theo từng trường hợp và mức độ thiệt hại, phải xét đến khả năng huy động các nguồn vốn tích lũy, vốn khấu hao của các hợp tác xã vận tải và tập đòan.
d) Mức độ trợ cấp nhiều, ít khác nhau phải tùy trường hợp. Nếu người làm vận tải có tinh thần trách nhiệm đã tìm mọi cách để bảo vệ hàng hóa, phương tiện, ngụy trang, nghi trang chu đáo, phân tán, cất giấu phương tiện, hàng hóa và tranh thủ bốc dỡ nhanh…, nhưng vẫn không thể bảo vệ được, thì được xét trợ cấp một phần với mức độ thích đáng; Nếu người làm vận tải thiếu tinh thần trách nhiệm bỏ chạy, để phương tiện vận tải hay hàng hóa bị địch bắn phá hư hỏng, đắm hay cháy mất thì không được trợ cấp, hoặc tùy trường hợp cụ thể chỉ được trợ cấp một phần với mức độ thấp hơn.
e) Đối với phương tiện vận tải bị cháy mất, thì căn cứ vào giá trị ban đầu của phương tiện lúc đóng mới, trừ số tiền khấu hao cơ bản, khấu hao sửa chữa mà thực tế hợp tác xã, tập đòan đã thu hồi được đến ngày phương tiện vận tải bị cháy mất để xét trợ cấp.
g) Đối với phương tiện vận tải bị hư hỏng phải sửa chữa, thì căn cứ vào mức phí tổn sửa chữa phần hư hỏng do địch gây ra để xét trợ cấp.
h) Những phương tiện vận tải trên đường về, có hàng hay không có hàng, mà bị địch bắn phá sẽ do cơ quan huy động lúc ban đầu đài thọ. Việc xét trợ cấp trong trường hợp này phải bảo đảm nguyên tắc sau đây: - Trường hợp có chở hàng về thì hàng đó phải là hàng do cơ quan giao thông vận tải quản lý và phân phối kế họach vận chuyển; - Trường hợp không có hàng về thì người làm vận tải phải có trách nhiệm bảo vệ phương tiện, tranh thủ về nhanh, không la cà dọc đường.
- Phân cấp đài thọ tiền trợ cấp.
a) Các khỏan trợ cấp về những phương tiện vận tải do Bộ Giao thông vận tải huy động để chuyên chở hàng của kế họach vận tải trung ương thì do Bộ Giao thông vận tải thanh tóan, theo đề nghị của các hội đồng xét trợ cấp.
b) Các khỏan trợ cấp về những phương tiện vận tải do Ủy ban hành chính khu, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương huy động để chuyên chở hàng của kế họach địa phương, hoặc hàng của trung ương giao cho địa phương phụ trách chuyên chở thì do Ủy ban hành chính khu, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thanh tóan, theo đề nghị của các hội đồng xét trợ cấp.
c) Các khỏan trợ cấp cho những phương tiện vận tải do sở, ty giao thông vận tải huy động, giao cho bên quân sự sử dụng, sẽ do Bộ Quốc phòng thanh tóan.
-
Thủ tục xét trợ cấp. Mỗi khi đề nghị xét trợ cấp, các sở, ty giao thông vận tải phải lập hồ sơ đầy đủ. Khi phương tiện vận tải bị bắn phá hư hỏng, đắm hoặc cháy ở nơi nào, thì người chủ phương tiện phải yêu cầu chính quyền ở nơi ấy lập ngay biên bản, ghi rõ tên hợp tác xã hoặc người chủ phương tiện; tên họ những người làm việc trên phương tiện đó, ngày, giờ và nơi bị tai nạn; bị tai nạn trong hòan cảnh nào, sự thiệt hại do địch gây ra, nhận định tinh thần trách nhiệm của người chủ phương tiện… Biên bản phải có ghi nhận xét, có ký tên đóng dấu của Ủy ban hành chính xã hoặc đồn công an nơi xảy ra tai nạn. Hồ sơ gồm có: - Biên bản lập khi phương tiện bị thiệt hại, - Bản nhận xét tình hình kinh doanh có ghi rõ giá trị ban đầu và giá trị còn lại của phương tiện bị hư hỏng, đắm hoặc cháy, và đề nghị trợ cấp của hội đồng xét trợ cấp. II. CHẾ ĐỘ DÂN CÔNG NGHĨA VỤ ĐỐI VỚI NGƯỜI LÀM VẬN TẢI VÀ XẾP DỠ Từ nay không huy động những người làm vận tải và xếp dỡ đi dân công ngòai nghề nghiệp của họ, nhưng họ vẫn phải bảo đảm nghĩa vụ dân công do Nhà nước quy định.
-
Thể thức huy động.
a) Huy động theo đơn vị tập thể hợp tác xã hay tập đòan; không huy động lẻ tẻ cá nhân. Ban quản trị của hợp tác xã, tập đòan ở địa phương nào thì Ủy ban hành chính khu tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương của địa phương đó ra lệnh huy động. Các hợp tác xã, tập đòan phải tổ chức, sắp xếp cho những người có đi làm nghĩa vụ dân công thuộc đơn vị mình đi làm nghĩa vụ.
b) Thực hiện nghĩa vụ dân công có thể tính theo ngày, nhưng chủ yếu là khóan theo thời gian, khóan sản lượng, để cho người làm nghĩa vụ dân công có thể chủ động bố trí thời gian làm việc của họ, tranh thủ hòan thành nhiệm vụ trong thời gian ngắn nhất.
c) Thời gian làm nghĩa vụ dân công của những người làm vận tải và xếp dỡ chuyên nghiệp là thời gian đã quy định ở điều 3 của điều lệ tạm thời về huy động dân công thời chiến ban hành bằng Nghị định số 77-CP ngày 26-04-1966 của Hội đồng Chính phủ, cụ thể là đối với nhân dân ở nông thôn: 30 ngày; đối với nhân dân ở thành thị: 15 ngày. Ví dụ: Hợp tác xã A có 40 xã viên có nghĩa vụ dân công ở thành phố, thì tổng số ngày công nghĩa vụ mà hợp tác xã phải đóng góp là: 15 ngày x 40 = 600 ngày công.
d) Trường hợp người làm vận tải và xếp dỡ thuộc các hợp tác xã hay tập đòan phải bảo đảm liên tục công việc vận tải và xếp dỡ theo kế họach vận tải của Nhà nước, không thể huy động họ đi làm nghĩa vụ dân công ở nơi khác được, các sở, ty giao thông vận tải phải quy định rõ khỏang thời gian nào họ làm nghĩa vụ dân công để giao cho họ bảo đảm thực hiện. Trong thời gian này, họ không được trả tiền công mà chỉ được hưởng trợ cấp dân công. Tiền cước thu được của chủ hàng trong thời gian làm nghĩa vụ dân công, hợp tác xã hay tập đòan phải giao cho cơ quan huy động dân công để dùng vào việc thanh tóan tiền trợ cấp dân công, còn lại bao nhiêu phải nộp vào ngân sách Nhà nước, đồng thời báo cho cơ quan tài chính biết để theo dõi. Cơ quan huy động dân công cần báo cho ty tài chính biết lịch huy động, địa điểm và tên đơn vị được sử dụng dân công, tên hợp tác xã hoặc tập đòan đi làm nghĩa vụ dân công để đôn đốc, kiểm tra việc thu nộp nói trên.
- Trong thời gian làm nghĩa vụ dân công phải ngừng việc vì bị thiên tai, địch họa, bị ốm.
a) Nếu người làm vận tải, xếp dỡ gặp thiên tai, địch họa mà vẫn khắc phục khó khăn để họat động, tích cực bảo vệ hàng hóa, bảo vệ phương tiện, tranh thủ thời gian để đi, thì số ngày họat động đó, mặc dầu có nhiều hơn số ngày đã khóan cũng vẫn được tính trừ vào ngày công nghĩa vụ và được lĩnh trợ cấp dân công. Nếu không có cách nào để khắc phục được khó khăn mà phải ngừng việc, thì thời gian ngừng việc không được tính trừ vào ngày công nghĩa vụ nhưng vẫn được lĩnh trợ cấp dân công. Trường hợp có thể khắc phục được khó khăn, nhưng do thiếu tinh thần trách nhiệm, chây lười mà ngừng việc, thì không được tính công nghĩa vụ và không được lĩnh trợ cấp trong thời gian ngừng việc.
b) Nếu bị ốm, thì thời gian ngừng việc không được tính vào công nghĩa vụ, nhưng vẫn được lĩnh trợ cấp dân công. Cơ quan sử dụng phải xét kỹ và quyết định từng trường hợp cụ thể.
- Cách khóan việc cho dân công theo từng lọai lao động vận tải chuyên nghiệp. Khi huy động người làm vận tải và xếp dỡ đi làm nghĩa vụ dân công theo ngày hay theo cách khóan việc thì được tính cứ 100 người có 3 người chỉ huy và 4 người cấp dưỡng. Cán bộ chỉ huy, cấp dưỡng đều được tính vào công nghĩa vụ và được trợ cấp. Ví dụ: Nếu đơn vị vận tải hay xếp dỡ đi làm nghĩa vụ dân công có 100 người nhận khóan thì đơn vị sử dụng giao mỗi ngày 93 định mức lao động (trừ 3 cán bộ chỉ huy và 4 cấp dưỡng).
a) Đối với người làm vận tải bằng thuyền.
Căn cứ vào trọng tải thực tế chuyên chở, số lượng thuyền viên quy định cho từng lọai thuyền và điều kiện sông nước trên từng cung độ, để giao khóan thời gian. Số lượng thuyền viên căn cứ theo quy định của Bộ Giao thông vận tải; trường hợp số lượng thuyền viên cần tăng cho phù hợp với hòan cảnh chiến tranh ở từng địa phương do Ủy ban hành chính khu tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định cụ thể đối với từng nơi, từng lúc. Trường hợp vì cung độ quá ngắn không thể giao khóan theo thời gian được, thì có thể khóan theo sản lượng và phải căn cứ vào mức khóan trung bình tiên tiến để giao khóan. Ví dụ: Hợp tác xã A có 40 xã viên có nghĩa vụ dân công ở thành phố Nam Định, phải đóng góp 600 ngày công nghĩa vụ trong năm 1966 (15 ngày x 40 người = 600 ngày). Theo lệnh của Ủy ban hành chính tỉnh Nam Hà huy động 8 thuyền 10 tấn của hợp tác xã đi làm nghĩa vụ dân công từ Nam Định đi Thanh Hóa (cả đi lẫn về 308km), thời gian khóan vừa đi, vừa về kể cả thời gian chờ đợi xếp dỡ là 10 ngày. Số lượng thuyền viên quy định trong thời chiến là 5 người, như vậy trong đợt này hợp tác xã sẽ đóng góp 10 ngày x 8 x 5 = 400 ngày công nghĩa vụ.
Căn cứ vào cung độ và thời gian khóan nói trên, nếu hợp tác xã rút ngắn được thời gian thực tế xuống còn 8 ngày, thì cũng vẫn được tính theo thời gian khóan là 10 ngày. Như vậy ngày công nghĩa vụ còn lại hợp tác xã phải đóng góp cho kỳ sau là: 600 - (400 công theo định mức + 28 công gián tiếp) = 172 ngày công.
b) Đối với những người làm vận tải bằng xe bò, xe trâu, xe ngựa, xe ba gác, xe đạp thồ, xe xích lô, ngựa thồ.
Căn cứ vào mức sản lượng của từng lọai phương tiện như đã quy định ở văn bản số 326-KTVT ngày 14-12-1964 của Bộ Giao thông vận tải mà khóan theo sản lượng (T/km). Nếu bảo đảm được mức sản lượng đã khóan theo T/km và rút ngắn được thời gian nghĩa vụ dân công thì được coi là đã làm xong nghĩa vụ. Ví dụ: Thời gian nghĩa vụ dân công quy định đối với người làm xe bò ở thành phố là 15 ngày. Sản lượng của một ngày xe theo quy định là 1,6T x 10km5 = 16,8 T/km. Mức khóan cho mỗi xe bò trong thời gian nghĩa vụ dân công là 16,8 T/km x 15 = 252 T/km. Mỗi xe sau khi đã bảo đảm được mức khóan 252 T/km thì được coi là đã hòan thành 15 ngày công nghĩa vụ mặc dù họ thực hiện chỉ có 12 ngày. Riêng đối với những người làm vận tải chuyên nghiệp bằng ngựa thồ, Bộ Giao thông vận tải chưa quy định mức sản lượng, vì vậy Ủy ban hành chính khu, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương căn cứ vào mức sản lượng do địa phương đã quy định để tính tóan giá cước ngựa thồ của địa phương mà giao mức khóan.
c) Đối với những người xếp dỡ, khóan theo tấn xếp dỡ như sau: Dựa vào năng suất quy định cho từng lọai hàng theo văn bản số 326-KTVT ngày 14-12-1964 của Bộ Giao thông vận tải. Nếu điều kiện làm việc không bình thường do tình hình chiến sự ở địa phương, hoặc nếu được cung cấp phương tiện xếp dỡ bán cơ giới, thì Ủy ban hành chính khu, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định mức năng suất tùy theo điều kiện thực tế. Ví dụ: Năng suất xếp dỡ gạo bao (1 tạ) của một người một ngày quy định là 10T. Trong 15 ngày công nghĩa vụ của một người làm xếp dỡ ở thành phố phải bảo đảm mức khóan là 150T xếp dỡ. Nếu người dân công thực hiện được 15 tấn mỗi ngày thì trong 10 ngày đã bảo đảm đủ 15 ngày công nghĩa vụ.
-
Đối với các lực lượng bán chuyên nghiệp. Thi hành đúng theo điều lệ tạm thời về huy động và sử dụng dân công thời chiến ban hành bằng Nghị định số 77-CP ngày 26-04-1966 của Hội đồng Chính phủ, thông tư Liên bộ Tài chính - Lao động - Y tế số 07-TT/LB ngày 24-05-1966 và Thông tư số 08-TT/LĐ ngày 16-06-1966 của Bộ Lao động.
-
Trợ cấp cho dân công do cơ quan sử dụng đài thọ.
a) Mức trợ cấp. Trong thời gian làm nghĩa vụ dân công, mức trợ cấp cho từng lọai lao động vận tải xếp dỡ chuyên nghiệp thuộc diện trợ cấp theo quy định ở điều 11 điều lệ tạm thời về huy động và sử dụng dân công thời chiến như sau: - Người đi thuyền biển mỗi người một ngày 1đ10 - Người đi thuyền sông và xếp dỡ mỗi người một ngày 1đ00 - Người làm xe bò, xe trâu, xe ngựa, xe ba gác, xe đạp thồ, xe xích lô chở hàng, ngựa thồ, mỗi người mỗi ngày 0đ90 Trong thời gian ngừng việc, tất cả các lọai lao động đều không được tính ngày công nghĩa vụ, nếu đủ điều kiện để được trợ cấp thì chỉ được trợ cấp mỗi người mỗi ngày 0đ60. Nếu người làm nghĩa vụ dân công hòan thành mức khóan trước thời hạn tức là rút ngắn được thời gian làm nghĩa vụ so với thời gian quy định thì vẫn được hưởng đủ số trợ cấp theo thời gian quy định.
b) Trả tiền khấu hao phương tiện và tiền ăn cho sức vật kéo. Ngòai mức trợ cấp cho dân công, cơ quan sử dụng còn trả thêm cho hợp tác xã, tập đòan vận tải và xếp dỡ tiền khấu hao cơ bản, tiền khấu hao sửa chữa lớn và tiền ăn cho súc vật kéo xe hay đi thồ, trong thời gian làm nghĩa vụ dân công, mỗi xe một ngày như sau; - Xe ngựa (cả tiền ăn cho súc vật) 2đ20 - Xe bò, xe trâu (cả tiền ăn cho súc vật) 1đ80 - Xe xích lô, xe đạp thồ 0đ60 - Xe ba gác 0đ20 - Ngựa thồ (mỗi con một ngày) 1đ00 - Thuyền (cứ mỗi tấn thuyền một ngày) 0đ30 Mức trợ cấp này chỉ trả theo thời gian thực tế làm việc. Nếu do tăng năng suất lao động, rút ngắn được thời gian làm việc thì cũng chỉ được tính số ngày thực tế làm việc. Trong thời gian ngừng việc vì địch bắn phá hay vì ốm đau thì vẫn được trả tiền ăn cho súc vật cũng như tiền khấu hao cho thuyền vì thuyền phải ngâm luôn dưới nước, có hao mòn. Tiền ăn cho súc vật trong trường hợp này được trả như sau: - Ngựa mỗi con một ngày 1đ00 - Trâu bò mỗi con một ngày 0đ80 c) Trợ cấp để khôi phục phương tiện bị hư hỏng, bị đắm, bị cháy do địch bắn phá trong lúc làm nghĩa vụ dân công. Cơ quan sử dụng dân công phải đài thọ tiền trợ cấp để khôi phục lại phương tiện bị địch bắn phá hư hỏng, đắm hay cháy, theo đúng như quy định ở phần 1 thông tư này.
-
Thông tư Liên bộ này quy định một số điều khỏan áp dụng cho các lực lượng vận tải và xếp dỡ chuyên nghiệp trong thời gian đi làm nghĩa vụ dân công. Những vấn đề không quy định trong thông tư này thì áp dụng theo thông tư Liên bộ Tài chính - Lao động - Y tế số 07-TT/LB ngày 24-05-1966 và thông tư số 08-TT/LĐ ngày 16-06-1966 của Bộ Lao động. III. CHẾ ĐỘ ĐÃI NGỘ ĐỐI VỚI NGƯỜI LÀM VẬN TẢI XẾP DỠ BỊ THƯƠNG TẬT, BỊ CHẾT TRONG KHI LÀM NHIỆM VỤ THEO KẾ HỌACH CỦA NHÀ NƯỚC TRONG THỜI CHIẾN
-
Tai nạn lao động, tai nạn chiến tranh Đối với người làm vận tải, được coi là bị tai nạn lao động, tai nạn chiến tranh, khi gặp tai nạn đó trên đường đi từ bến thuyền, bãi xe của hợp tác xã, tập đòan đến nơi nhận hàng chuyên chở cũng như trong suốt quá trình vận chuyển và lúc trở về đến nơi xuất phát, không la cà dọc đường. Đối với người làm xếp dỡ, được coi là bị tai nạn lao động, tai nạn chiến tranh khi gặp tai nạn đó trong lúc tập trung ở bến, ở cảng để làm nhiệm vụ hoặc đi từ nơi ăn ở tập thể do cơ quan quản lý bến, cảng bố trí, đến nơi làm việc, cho đến khi trở về đến nơi ăn ở tập thể hay nơi tập trung ở bến cảng, không la cà dọc đường.
a) Trường hợp được kể là tai nạn chiến tranh. Bị máy bay địch oanh tạc, bị biệt kích bắn hay đặt mìn, bị mảnh đạn lúc đang có chiến đấu bị thương hay chết… b) Trường hợp được kể là tai nạn lao động - Những tai nạn xảy ra trong lúc đang làm việc hoặc trên đường đi công tác như đã quy định, không phân biệt là xảy ra do người làm vận tải hay xếp dỡ vô ý hay do cơ quan sử dụng có sơ xuất trong việc đề phòng hoặc do thiên tai gây ra. Ví dụ: Trong khi làm việc bị hàng hóa đè phải, khiêng, gánh, đội hàng hóa lên xuống dốc trượt ngã, sai khớp xương hay gẫy chân tay; bị thương do cây ngả đè lên người, bị thú dữ cắn; bị bỏng khi nấu ăn tập thể; bị đắm thuyền, bị nước cuốn, bị tai nạn xe cộ… - Tai nạn xảy ra ngòai giờ làm việc ở nơi tập trung hoặc trên đường đi công tác, trong những trường hợp vì nhiệt tình lao động, vì ý thức làm chủ, đã có những hành động dũng cảm để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của nhân dân, như cứu chữa người, kho hàng, nhà cửa, đê điều, cứu tài sản bị địch oanh tạc, bị nước cuốn, bị đắm thuyền, bị cháy… c) Trường hợp không được kể là tai nạn lao động: - Tai nạn xảy ra trong giờ nghỉ, do đùa nghịch mà xảy ra; - Tai nạn xảy ra ngòai giờ làm việc (trừ quy định riêng); - Tai nạn xảy ra đối với người làm vận tải trên đường về, tự ý chở hàng không do Ủy ban hành chính khu, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc cơ quan giao thông vận tải phân bố, hay la cà dọc đường mà xảy ra tai nạn.
d) Đối với những trường hợp xảy ra tai nạn mà chưa xác định được rõ nguyên nhân sẽ do sở, ty giao thông vận tải cùng với sở, ty lao động xét và đề nghị giải quyết.
- Chế độ đãi ngộ đối với người làm vận tải, xếp dỡ thời chiến bị thương tật, ốm đau, bị chết vì tai nạn chiến tranh hoặc tai nạn lao động.
a) Trường hợp bị thương, bị ốm. Thi hành như đã quy định ở điều 8a và 8b, trong quyết định số 84-CP ngày 04-05-1966 của Hội đồng Chính phủ.
b) Trường hợp bị chết. Người làm vận tải và xếp dỡ đương đi làm kế họach vận tải của Nhà nước như đã quy định ở trên mà bị chết vì ốm đau, vì tai nạn lao động hoặc tai nạn chiến tranh thì được chôn cất chu đáo; tùy theo hòan cảnh cụ thể của từng nơi, từng lúc mà lo liệu cho thích hợp; những nơi có điều kiện phải bảo đảm có một quan tài lọai thông thường, 6 mét vải thông thường để liệm, và hương nến. Ngòai ra các sở, ty giao thông vận tải hay cơ quan sử dụng phải báo cho chính quyền, đòan thể địa phương và cho gia đình có người chết biết, và thăm hỏi, an ủi chu đáo.
c) Trợ cấp thương tật. Nếu được hội đồng khám xét thương tật cấp giấy chứng nhận là vì tai nạn chiến tranh, tai nạn lao động, mà sau thời gian điều trị vẫn mang thương tật, ảnh hưởng nhiều đến sức lao động thì được xét trợ cấp một lần, nhiều ít tùy hòan cảnh gia đình của người bị nạn có khó khăn nhiều hay ít và tùy theo khả năng giúp đỡ của hợp tác xã hay tập đòan. Ủy ban hành chính khu, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xét việc trợ cấp theo mức quy định như sau nhằm an ủi và giải quyết một phần những khó khăn của người bị nạn hoặc gia đình họ: - Thương tật lọai nhẹ, tức là mức sức lao động từ 5% đến 40%, được trợ cấp một lần từ 30đ đến 50đ; - Thương tật lọai trung bình, tức là mất sức lao động từ 41% đến 70% được trợ cấp một lần từ 60đ đến 120đ; - Thương tật lọai nặng, tức là mất sức lao động từ 71% trở lên được trợ cấp một lần từ 130đ đến 220đ; Nếu người bị thương tật vì đã có hành động dũng cảm, vượt khó khăn, nguy hiểm để cứu người, cứu tài sản của Nhà nước, của tập thể, được tập thể hoặc cơ quan sử dụng xác nhận, thì được xét trợ cấp cao hơn một mức so với thương tật do tai nạn lao động, tai nạn chiến tranh trong trường hợp bình thường, cụ thể như sau; - Thương tật lọai nhẹ được trợ cấp từ 60đ đến 120đ; - Thương tật lọai trung bình được trợ cấp từ 130đ đến 220đ; - Thương tật lọai nặng hoặc trợ cấp từ 230đ đến 270đ.
d) Chế độ đãi ngộ đối với người làm vận tải, xếp dỡ là quân nhân dự bị và dân quân tự vệ. Những người làm vận tải và xếp dỡ là quân nhân dự bị, dân quân tự vệ, trong khi đang làm nhiệm vụ vận tải, xếp dỡ, đã cầm vũ khí chiến đấu với địch hoặc được huy động để phục vụ cho bộ đội chiến đấu, nếu bị thương tật hoặc bị chết, thì bản thân hoặc gia đình được hưởng các quyền lợi quy định trong điều lệ tạm thời của Hội đồng Chính phủ về chế độ đối với quân nhân dự bị, dân quân tự vệ ban hành bằng Nghị định số 161-CP ngày 30-10-1964 Ủy ban hành chính khu, tỉnh, thành phố sẽ tùy khả năng lao động của từng người bị nạn mà thu xếp công việc thích hợp để đảm bảo đời sống lâu dài cho họ.
e) Đối với gia đình có người chết vì tai nạn chiến tranh hoặc tai nạn lao động. Được trợ cấp một lần một số tiền là 270đ và được Ủy ban hành chính xã, hợp tác xã thu xếp công việc làm thích hợp để bảo đảm đời sống lâu dài. Người được hưởng trợ cấp phải là vợ hoặc chồng, con, cha mẹ, hoặc là người đã nuôi dưỡng người bị chết hay đã được người bị chết nuôi dưỡng.
g) Đối với gia đình có người chết mà được truy tặng là liệt sĩ Trong điều 8c của quyết định số 84-CP ngày 04-05-1966 của Hội đồng Chính phủ đã quy định điều kiện để được truy tặng là liệt sĩ. Sau khi được Bộ Nội vụ duyệt y thì được trợ cấp một lần số tiền là 300đ và được hưởng các quyền lợi ưu đãi khác theo chế độ đối với gia đình liệt sĩ. Trong lúc chờ đợi xét duyệt thì gia đình được giải quyết trợ cấp trước 270đ; sau khi được duyệt , sẽ được cấp thêm 30đ.
h) Các vấn đề thủ tục. Bộ Y tế sẽ có thông tư hướng dẫn các sở, ty y tế thi hành điểm 8a của quyết định số 84-CP ngày 04-05-1966 của Hội đồng Chính phủ. Các sở, ty giao thông vận tải phải lập hồ sơ đầy đủ và đề nghị cụ thể mức trợ cấp. Về việc truy tặng liệt sĩ, phải thi hành đúng thủ tục do Bộ Nội vụ quy định. Hồ sơ phải gửi về cho Bộ Giao thông vận tải nếu việc trợ cấp do Bộ giải quyết, gửi cho Ủy ban hành chính khu, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nếu là do địa phương giải quyết. Để tiện cho việc truy cứu về sau, các sở, ty giao thông vận tải phải lập đầy đủ danh sách và hồ sơ những người làm vận tải hay xếp dỡ bị thương tật, bị chết. Trong hồ sơ của từng người phải ghi tên, người bị nạn, đơn vị hợp tác hay tập đòan, sinh quán, trú quán, ngày, tháng và nơi xảy ra tai nạn, hòan cảnh xảy ra tai nạn, ngày được giải quyết trợ cấp, mức trợ cấp và ghi chú mọi điều cần thiết để giúp cho việc truy cứu khi cần thiết. Ủy ban hành chính khu, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quản lý hồ sơ và danh sách đó. Danh sách những người bị thương tật là quân nhân dự bị, dân quân tự vệ đã cầm vũ khí chiến đấu trong khi làm nhiệm vụ hay là được huy động đi phục vụ chiến đấu, danh sách liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, sau khi các sở, ty giao thông vận tải đã giải quyết xong phần trợ cấp, thì phải bàn giao lại Bộ Nội vụ để tiếp tục giải quyết các quyền lợi chính trị khác và quản lý. Hồ sơ đề nghị trợ cấp cho người bị thương tật gồm có: - Một biên bản chứng nhận thương tật, - Một giấy xếp hạng thương tật của hội đồng khám xét thương tật, - Một giấy chứng nhận hòan cảnh gia đình của người bị nạn do Ủy ban hành chính xã nơi cư trú cấp. - Một giấy đề nghị của sở, ty giao thông vận tải. Hồ sơ của người bị chết gồm có: - Một biên bản chứng nhận người chết do Ủy ban hành chính xã, hay cơ quan công an từ cấp huyện trở lên cấp, - Một giấy báo tử do cơ quan sử dụng hay huy động cấp, - Một giấy chứng nhận hòan cảnh gia đình do Ủy ban hành chính xã cấp, - Một giấy đề nghị trợ cấp của sở, ty giao thông vận tải. Đề nghị xét duyệt liệt sĩ phải được Ủy ban hành chính khu, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xét, đề nghị lên cấp có thẩm quyền.
i) Thời hạn giải quyết. Để bảo đảm thi hành các chế độ trên đây được nghiêm chỉnh khi có tai nạn xảy ra, các cấp phải tích cực giải quyết nhanh chóng các vấn đề để động viên, giúp đỡ cho người làm vận tải xếp dỡ an tâm công tác. Từ khi nhận được yêu cầu của đương sự cho đến khi giải quyết xong các vấn đề phải bảo đảm trong thời hạn tối đa là một tháng.
- Phân cấp đài thọ, nguồn kinh phí, thủ tục thanh tóan.
a) Phân cấp đài thọ. Để tránh bớt phiền phức về thủ tục giấy tờ giữa cơ quan Nhà nước với nhau, các khỏan chi phí về tiền thuốc, tiền bồi dưỡng ốm đau hay tiền chôn cất cho các người bị tai nạn thì nạn nhân nằm trong bệnh viện nào sẽ do bệnh viện đó chi tiêu như đã quy định trong chỉ thị số 28-TTg ngày 11-02-1966 của Thủ tướng Chính phủ và thông tư hướng dẫn số 17-TT/LB ngày 07-04-1966 của Liên bộ Tài chính – Y tế. Trường hợp nằm điều trị tại các bệnh xá dân lập thì Ủy ban hành chính khu, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trích qũy cứu tế xã hội đài thọ. Các khỏan kinh phí khác được thanh tóan theo như điều 2 phần I về trợ cấp để khôi phục phương tiện quy định trong thông tư này.
b) Nguồn kinh phí. Ở trung ương, hàng năm Bộ Giao thông vận tải dự trù một khỏan chi phí trích trong kinh phí sự nghiệp thuộc ngân sách trung ương để chi các khỏan trợ cấp do Bộ phải đài thọ, như đã quy định trong quyết định số 84-CP ngày 04-05-1966 của Hội đồng Chính phủ. Ở địa phương, hàng năm Ủy ban hành chính các khu, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương sẽ dự trù một khỏan kinh phí sự nghiệp thuộc ngân sách địa phương để chi cho các khỏan trợ cấp do địa phương phải đài thọ.
c) Thủ tục xét duyệt, cấp phát kinh phí. Việc xét trợ cấp cho người bị thương, bị chết và trợ cấp một phần để khôi phục các phương tiện vận tải bị bắn phá hư hỏng khi đi làm nhiệm vụ vận tải theo kế họach của địa phương thì do Ủy ban hành chính khu, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định: Các sở, ty giao thông vận tải có trách nhiệm làm các thủ tục xin cấp phát kinh phí để trả trực tiếp cho các hợp tác xã, tập đòan và người được hưởng trợ cấp. Việc xét trợ cấp cho người bị thương, bị chết và trợ cấp một phần để khôi phục các phương tiện vận tải bị bắn phá hư hỏng, đắm hoặc cháy khi đi làm nhiệm vụ vận tải theo kế họach trung ương thì do Bộ Giao thông vận tải quyết định. Để việc xét trợ cấp được sát thực tế và kịp thời, Liên bộ ủy quyền cho các Ủy ban hành chính khu, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xét trợ cấp trong phạm vi mức tiền từ 10.000đ trở xuống.
Căn cứ vào các quyết định của Ủy ban hành chính khu, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và trong phạm vi mức 10.000đ nói trên, các sở, ty tài chính xuất ngân sách địa phương để tạm ứng cho ngân sách trung ương, và trả trực tiếp cho các cá nhân, các đơn vị được xét trợ cấp, sau đó hàng tháng tổng hợp lại, báo cáo cho Bộ Giao thông vận tải để lập dự trù xin ngân sách trung ương cấp phát để hòan lại số tiền tạm ứng cho ngân sách địa phương. Đối với các khỏan trợ cấp do Bộ Giao thông vận tải trực tiếp xét duyệt thì Bộ Giao thông vận tải lập dự trù kinh phí và xin cấp phát tại Bộ Tài chính, và Bộ Giao thông vận tải trực tiếp trả cho hợp tác xã hay tập đòan được xét trợ cấp.
d) Quyết tóan. Các sở, ty giao thông vận tải có trách nhiệm tổng hợp các khỏan trợ cấp cho người và phương tiện vận tải do ngân sách địa phương chi và quyết tóan kịp thời với sở, ty tài chính hàng tháng, hàng qúy và hàng năm theo điều lệ kế tóan Nhà nước. Bộ Giao thông vận tải có trách nhiệm tổng hợp các khỏan trợ cấp cho người và phương tiện vận tải do Bộ Giao thông vận tải ủy quyền cho các Ủy ban hành chính khu, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chi hoặc do Bộ trực tiếp chi, và quyết tóan kịp thời với Bộ Tài chính hàng tháng, hàng qúy và hàng năm theo điều lệ kế tóan Nhà nước. Trong quá trình thực hiện thông tư này, có những mắc mưu hoặc có những vấn đề nào chưa rõ, đề nghị các ngành, các địa phương phản ảnh kịp thời về liên bộ để nghiên cứu hướng dẫn giải quyết. K.T. BỘ TRƯỞNG BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI THỨ TRƯỞNG (Đã ký) Nguyễn Hữu Mai K.T. BỘ TRƯỞNG BỘ LAO ĐỘNG THỨ TRƯỞNG (Đã ký) Nguyễn Đăng K.T. BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH THỨ TRƯỞNG (Đã ký) Trịnh Văn Bính
Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/thong-tu-lien-tich-so-09-tt-lb-huong-dan-thi-hanh-quyet-dinh-so-84-cp-ngay-04-05-1966-cua-hoi-dong-chinh-phu-ve-mot-so-chinh-sach-doi-voi-luc-luong-van-tai-nhan-dan-va-xep-do-huy-dong-di-lam-nhiem-vu-theo-ke-hoach-cua-nha-nuoc--77278.
Dịch vụ liên quan
Văn bản liên quan
- Quy định quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mói giai đoạn 2016-2020
- Quy đinh xét duyệt, thẩm định, thông báo, và tổng hợp quyết toán năm
- Quy định tiêu chí đánh giá kết quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong chi thường xuyên
- Hưóng dẫn về công khai ngân sách đối với đơn vị dự toán ngân sách, tố chức được ngân sách nhà nưóc hỗ trợ
- Hướng dẫn thực hiện công khai ngân sách nhà nước đối với các cấp ngân sách
- Quy định việc quản lý, sử dụng số tiền thu được từ phí cho vay lại và phần trích phí bảo lãnh tại Bộ Tài chính giai đoạn 2016-2020
- Quy định việc lập, quản lý và sử dụng quỹ khen thưởng về phòng, chống tham nhũng
- Hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện Đề án đẩy mạnh các hoạt động học tập suốt đời trong công nhân lao động tại các doanh nghiệp đến năm 2020