Thông tư liên tịch số 06-LB/TTHướng dẫn việc sử dụng kinh phí và định các mức trợ cấp trong công tác đắp đê năm 1960
- Số hiệu
- 06-LB/TT
- Loại văn bản
- Thông tư liên tịch
- Cơ quan ban hành
- Bộ Tài chính
- Ngày ban hành
- 05/02/1960
- Lĩnh vực
- Quản lý ngân sách
Toàn văn
BỘ LAO ĐỘNG-BỘ TÀI CHÍNH-BỘ THỦY LỢI
Số: 06-LB/TT
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 05 tháng 02 năm 1960
THÔNG TƯ LIÊN BỘ
Hướng dẫn việc sử dụng kinh phí và định các mức trợ cấp trong công tác đắp đê năm 1960 Thi hành Thông tư số 023-TTg ngày 18-01-1960 của Thủ tướng Chính phủ về việc thi hành chế độ dân công trong công tác đắp đê nam 1960, Liên bộ đã ra Thông tư số 5-LB/TT ngày 27-01-1960 để hướng dẫn một số điểm cụ thể. Nay một số địa phương còn gặp lúng túng trong việc áp dụng mức trợ cấp vào hòan cảnh cụ thể từng vùng. Liên bộ giải thích cách phân phối kinh phí và định mức trợ cấp sau đây để các khu, tỉnh, thành nghiên cứu thi hành gấp, khỏi trở ngại đến công tác đắp đê. Chỉ tiêu của kế họach Nhà nước trong công tác đắp đê năm 1960 là 10 triệu mét khối đất và 6 triều đồng kinh phí. Việc sử dụng kinh phí và định các mức trợ cấp nhằm đạt hai mục đích chính:
-
Bảo đảm kế họach Nhà nước (khối lượng, chất lượng và thời hạn).
-
Bảo đảm tiền trợ cấp vào tay dân công. Muốn thế, phải đề ra những nguyên tắc phân phối khối lượng và kinh phí một cách hợp tình hợp lý, mặt khác phải lãnh đạo phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật (dụng cụ, tổ chức) để tăng năng suất. Thông tư trước (số 5) của Liên bộ có nhấn mạnh tiền trợ cấp đắp đê không được dùng vào công tác khác ngòai công tác đắp đê theo kế họach của Trung ương và phải dành phần lớn để thù lao dân công. Mỗi người đi đắp đê phải được hưởng một số tiền thù lao nhất định tùy theo khối lượng đất đã thực hiện và không phải bình nghị. Đó là nguyên tắc phân phối theo kế quả lao động vừa để bảo đảm kế họach vừa gây phấn khởi hào hứng đẩy mạnh năng suất. Để bảo đảm tất cả tiền đắp đê đưa xuống hết địa phương, Bộ Thủy lợi căn cứ vào điều kiện đắp đê khó dễ, cao thấp, xa gần của các các triền đê mà phân ra 3 mức trợ cấp bình quân:
-
Lọai dễ: 1 mét khối, trợ cấp 0đ50 2. Lọai khó: 1 mét khối, trợ cấp 0đ60 3. Lọai đặc biệt khó: 1 mét khối, trợ cấp 0đ70 và tính tóan xét cấp kinh phí tùy theo khối lượng từng lọai đê của các khu, tỉnh và thành. Mỗi khu, tỉnh, thành sẽ căn cứ vào kinh phí được Bộ Thủy lợi cấp, vào khối lượng và điều kiện đắp đê khó, dễ, cao, thấp, gần, xa đúng vào thực tế từng vùng, từng nơi trong mỗi triền đê mà phân ra nhiều mức trợ cấp. Nơi nào dễ làm năng suất bình quân cao, thì mức trợ cấp theo thước khối sẽ ít; nơi nào khó lắm, năng suất bình quân thấp, thì mức trợ cấp theo thước khối sẽ nhiều hơn, cứ như thế bù qua sát lại để bảo đảm cấp phát tối thiểu 83% tổng số kinh phí vào tay dân công và thu họach của mỗi ngày công sẽ tương đương nhau trên các công trường nếu đạt được năng suất bình quân. Số tiền dành lại cho mọi khỏan gián tiếp phí và quản lý phí (bao gồm các khỏan bồi thường, tuyên truyền thi đua, thuốc men, tai nạn, mua sắm dụng cụ, xe, tàu vận chuyển, khó khăn đột xuất...) không được quá 17% tổng số kinh phí. Tính tóan cân đối và quy định các mức trợ cấp xong thì ở từng công trường phải công bố mức trợ cấp 1 thước khối đất cho dân công biết. Đối với địa phương nào nhờ công tác chính trị tốt, sinh họat của nhân dân tương đối khá, dân công hăng hái phấn khởi đắp đê bảo đảm khối lượng chất lượng và thời hạn, lại thật sự tự nguyện tự giác không nhận trợ cấp hoặc nhận một mức ít hơn mức trợ cấp đã công bố, thì khu, tỉnh hoặc thành không nên từ chối mà phải báo cáo cho Liên bộ biết, đồng thời phải nộp số kinh phí dôi ra vào công qũy chứ không được dùng cho địa phương khác hoặc cho việc khác. Đây là trường hợp hãn hữu và phải dựa trên cơ sở nhiệm vụ đắp đê và các mức trợ cấp đã được công bố rõ ràng, dân công thật sự tự nguyện, tuyệt đối không vận động một cách gò ép. Các khu tỉnh và thành phải hòan thành nhiệm vụ tốt để bảo đảm khối lượng chất lượng và thời hạn, nhưng không được xin thêm kinh phí vì Bộ Thủy lợi đã phân phối hết số kinh phí Nhà nước quy định cho công tác đắp đê năm 1960. Trong quá trình công tác, cán bộ công trường phải ra sức lãnh đạo động viên thi đua và giao khóan cho dân công. Về phần xã và dân công thì phải có trách nhiệm nhận khóan, hăng hái thi đua cải tiến dụng cụ, cải tiến tổ chức và kỹ thuật, tăng hiệu suất lao động để bảo đảm thực hiện vượt mức kế họach tỉnh, huyện đã giao cho. K.T. BỘ TRƯỞNG BỘ THỦY LỢI THỨ TRƯỞNG (Đã ký) Trần Qúy Kiên K.T. BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH THỨ TRƯỞNG (Đã ký) Trịnh Văn Bính K.T. BỘ TRƯỞNG BỘ LAO ĐỘNG THỨ TRƯỞNG (Đã ký) Lê Minh Hiền
Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/thong-tu-lien-tich-so-06-lb-tt-huong-dan-viec-su-dung-kinh-phi-va-dinh-cac-muc-tro-cap-trong-cong-tac-dap-de-nam-1960--75018.
Dịch vụ liên quan
Văn bản liên quan
- Quy định quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mói giai đoạn 2016-2020
- Quy đinh xét duyệt, thẩm định, thông báo, và tổng hợp quyết toán năm
- Quy định tiêu chí đánh giá kết quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong chi thường xuyên
- Hưóng dẫn về công khai ngân sách đối với đơn vị dự toán ngân sách, tố chức được ngân sách nhà nưóc hỗ trợ
- Hướng dẫn thực hiện công khai ngân sách nhà nước đối với các cấp ngân sách
- Quy định việc quản lý, sử dụng số tiền thu được từ phí cho vay lại và phần trích phí bảo lãnh tại Bộ Tài chính giai đoạn 2016-2020
- Quy định việc lập, quản lý và sử dụng quỹ khen thưởng về phòng, chống tham nhũng
- Hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện Đề án đẩy mạnh các hoạt động học tập suốt đời trong công nhân lao động tại các doanh nghiệp đến năm 2020