Thông tư số 26-TC/CĐKTQuy định về việc quyết toán công trình xây dựng cơ bản hoàn thành

Số hiệu
26-TC/CĐKT
Loại văn bản
Thông tư
Cơ quan ban hành
Bộ Tài chính
Ngày ban hành
28/08/1971
Lĩnh vực
Quản lý ngân sách

Toàn văn

BỘ TÀI CHÍNH

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 26-TC/CĐKT

Hà Nội, ngày 28 tháng 08 năm 1971

THÔNG TƯ

Quy định về việc quyết tóan công trình xây dựng cơ bản hòan thành Khi có công trình xây dựng cơ bản hòan thành, đơn vị kiến thiết (gọi tắt là bên A) và xí nghiệp xây lắp (gọi tắt là bên B) phải quyết tóan với cơ quan cấp trên của mình và cơ quan tài chính. Quyết tóan công trình hòan thành nhằm: - Xác định số lượng, chất lượng công trình và giá trị khối lượng xây dựng cơ bản đã hòan thành chuyển thành tài sản cố định bàn giao cho đơn vị sử dụng, tài sản lưu động bàn giao chuyển thành vốn lưu động của đơn vị sử dụng, và các khỏan chi phí không tính vào giá trị tài sản cố định. - Kiểm tra xác định tình hình thực hiện kế họach sản xuất kỹ thuật và tình hình quản lý các mặt lao động, vật tư, tiền vốn… - Thanh tóan với trên và cơ quan tài chính về số vốn đầu tư xây dựng cơ bản, về số vật tư thiết bị và các tài sản khác còn lại sau khi hòan thành công trình. - Xác định trách nhiệm và biện pháp giải quyết các lọai vật tư, thiết bị, tài sản khác còn lại và các khỏan công nợ chưa thanh tóan kịp, nhằm bảo vệ, sử dụng tốt tài sản của Nhà nước, thu hồi vốn của Nhà nước nhanh gọn và đầy đủ. I. NHỮNG CÔNG VIỆC ĐƠN VỊ CƠ SỞ PHẢI LÀM ĐỂ ĐẢM BẢO VIỆC QUYẾT TÓAN CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG CƠ BẢN HÒAN THÀNH ĐƯỢC TỐT. Khi công trình xây dựng cơ bản đã hòan thành bên A và bên B phải làm các công việc sau đây:

  1. Tổ chức nghiệm thu bàn giao công trình giữa A và B. Phải tổ chức nghiệm thu bàn giao công trình theo như quy định trong Thông tư số 120-TTg ngày 05-11-1969 “quy định nhiệm vụ và quan hệ giữa đơn vị giao thầu và đơn vị nhận thầu trong ngành xây dựng cơ bản” của Thủ tướng Chính phủ; cần chú ý đặc biệt một số điểm cụ thể sau đây: Khi thi công xong công trình, bên B kịp thời báo cho bên A biết để nghiệm thu bàn giao, yêu cầu phải gọn, kịp thời song phải nghiêm túc, chu đáo cả về chất lượng và khối lượng công trình. Việc nghiệm thu phải theo thể thức sau đây: - Thành lập hội đồng nghiệm thu do bên A làm chủ tịch, bên Ba làm phó chủ tịch, với sự tham gia của cơ quan thiết kế và ngân hàng kiến thiết. Hội đồng phải kiểm tra xác định chất lượng, khối lượng công trình (nếu cần có thể đo đạc). Trường hợp nghiệm thu những công trình có yêu cầu kỹ thuật đặc biệt, cần mời đại diện của Bộ thi công và Bộ chủ quản trực tiếp tham gia hội đồng nghiệm thu. - Khi nghiệm thu phải lập biên bản (theo mẫu số 7 – Xây dựng cơ bản – chế độ ghi chép ban đầu) có nhận xét và kết luận cụ thể, nếu có những điểm chưa nhất trí trong hội đồng thì ghi ý kiến của các bên và báo cáo lên cấp trên của các bên giải quyết. Nếu cấp trên của các bên không giải quyết được thì tùy theo tính chất của vấn đề mà báo cáo lên hội đồng trọng tài, hoặc cơ quan có thẩm quyền xét xử khác. - Ngân hàng kiến thiết căn cứ vào biên bản nghiệm thu và dự tóan thiết kế được duyệt mà thanh tóan cho bên B. - Tuy hội đồng nghiệm thu phải xem xét đánh giá chất lượng công trình khi bàn giao; nhưng khi sử dụng công trình, nếu có hư hỏng, tổn thất do phía thi công gây nên, thì bên B vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật của Nhà nước với bên A và phải chịu mọi phí tổn để sửa chữa, hoặc phá đi làm lại. - Khi nghiệm thu, bàn giao từng hạng mục công trình giữa B phụ và B chính cần có sự chứng kiến của bên A để bên A kịp thời đề xuất ý kiến về chất lượng và tiến độ thi công. Về vấn đề thiết kế và dự tóan trong Nghị quyết số 50-CP của Hội đồng Chính phủ có quy định: “Từ nay nhất thiết phải lập xong thiết kế, dự tóan đầy đủ mới được khởi công công trình. Chỉ những công trình đặc biệt có quyết định của Thủ tướng Chính phủ mới được thiết kế và thi công từng phần. Sau khi khởi công rồi cũng phải tập trung hòan thành thiết kế, dự tóan của tòan bộ công trình, chậm nhất là trong vòng 1/4 thời gian thi công tòan bộ công trình”. Như vậy, khi có khối lượng công trình bàn giao, nếu chưa có giá dự tóan thì 2 bên A, B và Ngân hàng kiến thiết có thể đo đạc khối lượng thực tế và ước tính đơn giá khối lượng để thanh tóan, nhưng khi xong một hạng mục công trình thì phải giải quyết xong thiết kế và dự tóan để thanh tóan, không được tạm tính mãi đến khi thi công xong tòan bộ công trình mới có dự tóan quy định nhằm tránh tình trạng phải điều chỉnh khối lượng, đơn giá dự tóan đã thanh tóan từ đầu đến khi hòan thành tòan bộ công trình, rất phiền phức cho việc quản lý kế họach, dự tóan, và cấp phát.

  2. Tổ chức nghiệm thu đưa công trình vào sử dụng. Tùy theo sự cần thiết đối với từng lọai công trình, cơ quan chủ quản công trình phải căn cứ vào mức độ thực hiện nhiệm vụ thi công cụ thể để thành lập kịp thời ban chuẩn bị sản xuất. trong trường hợp bên A đồng thời là đơn vị quản lý sản xuất thì không phải thành lập ban này; Sau khi bên A nhận bàn giao công trình hòan thành, cơ quan chủ quản công trình phải căn cứ vào nguyên tắc phân cấp nghiệm thu, sử dụng công trình của Nhà nước, mà thành lập ban nghiệm thu sử dụng. Ban này căn cứ vào tài liệu do bên A và bên B đã chuẩn bị trong lúc kiểm nhận bàn giao công trình hòan thành, trực tiếp đi kiểm tra lại tòan bộ công trình, sau đó lập biên bản. Trưởng ban nghiệm thu và các đại diện: bên A, đơn vị sử dụng, bên B và Chi hàng kiến thiết cùng ký tên xác nhận vào cuối biên bản (mẫu số 8 – Xây dựng cơ bản – chế độ ghi chép ban đầu).

  3. Xác định giá trị của từng tài sản cố định. Sau khi hòan thành việc nghiệm thu, phải thành lập Ban xác định giá trị tài sản cố định gồm có bên A đơn vị sản xuất và một số cơ quan có liên quan như vật giá, vật tư và cán bộ kỹ thuật để xác định giá trị từng tài sản cố định (như từng cỗ máy, từng phân xưởng) đã nghiệm thu sử dụng. Bên A phải tính chi phí khảo sát và thiết kế thuê ngòai (nếu có) để ghi vào giá trị công trình hòan thành và sưu tầm đầy đủ các tài liệu như nhiệm vụ thiết kế, thiết kế kỹ thuật, dự tóan thiết kế, biên bản nghiệm thu bàn giao công trình, các hợp đồng giao, nhận thầu, các tài liệu bổ sung dự tóan do thay đổi thiết kế thay đổi quy cách vật liệu, thay đổi khối lượng thực tế so với thiết kế, bản đơn giá của Nhà nước và đơn giá bổ sung, các biên bản nghiệm thu sử dụng công trình v.v…để bàn giao đủ cho đơn vị sản xuất, và cùng đơn vị sản xuất lập hồ sơ kỹ thuật cho từng tài sản cố định để ghi vào thẻ tài sản cố định làm căn cứ tính khấu hao (giá trị tài sản cố định bàn giao cho đơn vị sản xuất là giá dự tóan chính thức được duyệt). Sau khi quyết tóan công trình hòan thành được duyệt y nếu có thay đổi về giá trị tài sản cố định, thì phải điều chỉnh lại cho khớp.

  4. Quyết tóan công trình xây dựng cơ bản hòan thành. Khi hòan thành công trình, bên A, bên B phải quyết tóan công trình theo quy định như sau: Bên B phụ phải quyết tóan giá thành xây lắp công trình và kết quả tài vụ với cấp trên của mình và Sở Ty tài chính (nếu công trình thuộc vốn địa phương) hoặc Bộ Tài chính (nếu công trình thuộc vốn trung ương) đồng gửi cho bên B chính và Ngân hàng kiến thiết trực tiếp cấp phát. Bên B chính quyết tóan giá thành xây lắp công trình và kết quả tài vụ với cấp trên của mình và Sở Ty tài chính (nếu là công trình thuộc vốn địa phương) hoặc Bộ Tài chính (nếu công trình thuộc vốn trung ương), đồng gửi cho bên A và Ngân hàng kiến thiết trực tiếp cấp phát. Bên A quyết tóan vốn đầu tư (bao gồm phần xây lắp, thiết bị và xây dựng cơ bản khác), xác minh giá trị tài sản cố định, năng lực sản xuất mới huy động được, với cấp trên của mình và Sở Ty tài chính (nếu là công trình thuộc vốn địa phương) hoặc Bộ Tài chính (nếu công trình thuộc vốn trung ương) đồng gửi cho đơn vị sản xuất, ngân hàng kiến thiết trực tiếp cấp phát và Ủy ban Kiến thiết cơ bản Nhà nước. Trường hợp một bên A giao thầu cho nhiều bên B cùng tiến hành xây dựng một công trình thì bên B nào làm xong phần mình nhận thầu là phải quyết tóan ngay phần đó; còn bên A thì sau khi tòan bộ công trình hòan thành mới lập quyết tóan. Trường hợp một bên B nhận thầu của nhiều bên A (nhận thầu tòan bộ công trình, hoặc hạng mục công trình hoặc bộ phận công trình) thì mỗi khi làm xong khối lượng nhận thầu của một bên A nào, đều phải quyết tóan riêng khối lượng nhận thầu ấy. Các quyết tóan nói trên phải được sự xác minh của ngân hàng kiến thiết. Nếu là công trình trọng điểm thì còn phải gửi cho Ủy ban Kế họach Nhà nước và Tổng cục Thống kê. Để quyết tóan công trình được tốt các bên A và B phải thành lập ban quyết tóan do thủ trưởng đơn vị làm trưởng ban, kế tóan trưởng làm phó ban và có các ủy viên là các trưởng phòng kế họach, kỹ thuật, cung ứng, v.v…Ban quyết tóan phải quy định nhiệm vụ cụ thể cho từng bộ phận trong việc cung cấp đầy đủ và kịp thời số liệu, và tài liệu cần thiết để đáp ứng yêu cầu quyết tóan. Chi phí của ban quyết tóan trong thời gian quy định (45 ngày sau khi công trình hòan thành), nếu là đơn vị kiến thiết cho thầu, thì tính vào chi phí kiến thiết cơ bản khác; nếu là xí nghiệp xây lắp hoặc đơn vị kiến thiết tự làm, thì tính vào khỏan chi phí gián tiếp. Ban quyết tóan phải làm các công việc sau đây:

a) Thu dọn chiến trường, thu hồi tài sản, giải quyết thiết bị vật liệu dụng cụ còn lại . Thiết bị và vật liệu nhập theo thiết bị tòan bộ. Các thiết bị không cần lắp, các phụ tùng thiết bị không cần lắp đặt do bên A nhận và bảo quản, thì sau khi hòan thành công trình, bên A phải bàn giao cho đơn vị sản xuất. Khi bàn giao phải lập biên bản để làm căn cứ ghi tăng nguồn vốn và tăng vốn cho đơn vị sản xuất. Về các thiết bị và vật liệu nhập theo thiết bị tòan bộ giao cho bên B tiếp nhận, vận chuyển và bảo quản, bên A phải theo dõi chặt chẽ, sau khi hòan thành công trình, phải giải quyết số còn lại như đã quy định trong Thông tư số 120-TTg ngày 05-11-1969 của Thủ tướng Chính phủ, cụ thể như sau: - Những máy móc dụng cụ thi công xây lắp nhận theo thiết bị tòan bộ, giao cho bên B quản lý sử dụng, thì phải tính vào giá trị tài sản cố định đầu tư cho bên B; do đó nếu trước chưa làm thủ tục giao nhận, thì nay phải tiến hành để tăng nguồn vốn cố định của bên B và giảm nguồn vốn xây dựng cơ bản cho bên A. - Vật liệu nhập theo thiết bị tòan bộ dùng cho thi công, nếu còn lại thì bên B phải trả lại cho bên A để dự trữ dùng cho sản xuất sau này, hoặc sẽ do cơ quan quản lý vật tư của Nhà nước thu hồi để phân phối cho công trình khác. Bên A phải theo dõi chặt chẽ số đã nhập, số thực dùng chứ không đưọc tính theo tỷ lệ. Sau khi hòan thành công trình bên A phải thu lại số chưa dùng (gồm cả phế liệu); nếu vật liệu này trước đã coi như tạm ứng cho bên B thì nay giảm khỏan tạm ứng; nếu trước đây bên B phải vay để thanh tóan thì nay bên A có thể xin vốn cấp phát hoặc vay ngân hàng để trả cho bên B. Thứ vật liệu nào cần cho sản xuất, hoặc sửa chữa lớn công trình sau này thì phải giao cho đơn vị sản xuất: khi giao phải có biên bản để làm thủ tục tăng và giảm vốn. Thứ nào không cần, phải báo cáo cấp trên giải quyết (như giao cho cơ quan quản lý vật tư để phân phối). Vật liệu thuộc vốn của bên B. Các lọai này hòan tòan thuộc quyền sử dụng của bên B; bên B phải thu nhặt hết để chuyển sang thi công công trình khác hoặc nhượng bán, không được để lãnh phí mất mát. Các dụng cụ gá lắp. Các dụng cụ này khi lắp đặt, thứ nào cần mà bên B không có, thì bên A có thể cho mượn; bên B phải tính hao mòn, phân bổ vào giá thành lắp đặt để trả cho bên A. Khi hòan thành công trình phải thu dụng cụ đó lại để giao cho đơn vị sản xuất; nếu thứ nào thiếu, bên B phải bồi thường bằng hiện vật. Khi giao phải có biên bản để làm thủ tục ghi tăng vốn cho đơn vị sản xuất. Dụng cụ hành chính, dụng cụ nhà bếp của bên A. Các dụng cụ này phải đánh giá lại và giao cho đơn vị sản xuất dùng để giảm bớt việc mua sắm các dụng cụ mới hoặc giao cho đơn vị kiến thiết khác cùng ngành để giảm cấp phát. Các phế liệu, dụng cụ hư hỏng Các lọai này phải thu nhặt hết, định giá bán đi để giảm các khỏan chi phí có liên quan, không được dùng làm qũy riêng. Các biên bản bàn giao định giá mới nói trên phải gửi cho các cơ quan chủ quản, tài chính và ngân hàng kiến thiết trực tiếp cấp phát.

b) Thu dọn các công trình tạm thời. Bên B sau khi thi công xong công trình, phải giải quyết các công trình tạm thời lọai lớn; công trình nào bên sản xuất dùng được thì nhượng lại, thứ nào không dùng phải bán đi. Đồng thời thu dọn công trường như lấp hố vôi, tháo dỡ lều lán tạm, thu hồi phế liệu, v.v… Bên A cũng phải giải quyết các công trình tạm thời lọai lớn theo hướng như trên, chú ý phải phân bổ phần hao mòn vào công trình xây dựng cơ bản đã hòan thành.

c) Thanh tóan công nợ. Để đảm bảo thanh tóan giữa bên A và bên B được tốt, hai bên phải sưu tầm đủ các tài liệu có liên quan đến giao nhận thi công, bàn giao công trình giao nhận thiết bị vật liệu và thanh tóan (như nhiệm vụ thiết kế, thiết kế kỹ thuật, dự tóan v.v…) để thanh tóan được kịp thời. Đối với những khỏan công nợ khác, Phòng kế tóan tài vụ của hai bên phải đối chiếu sổ sách kế tóan của mình, xác định rành mạch từng khỏan nợ, từng người có nợ để tiến hành thu hồi hoặc thanh tóan. Những khỏan chưa giải quyết được như nợ quá hạn, khỏan còn tranh chấp v.v…phải báo cáo lên cơ quan chủ quản, tài chính, ngân hàng hoặc cơ quan trọng tài. Khi được lệnh giải quyết cụ thể phải thi hành ngay.

d) Kiểm kê tài sản. Cả hai bên A, B khi đã làm xong các công việc trên phải kiểm kê tài sản, đối chiếu với sổ sách, lập biên bản kiểm kê; nếu có chênh lệch phải xác định rõ nguyên nhân để giải quyết theo đúng chế độ, thể lệ Nhà nước về kiểm kê cũng như về trách nhiệm bảo vệ tài sản Nhà nước. Biên bản kiểm kê và văn bản xử lý phải gửi kèm theo quyết tóan. Nếu làm xong quyết tóan công trình xây dựng cơ bản hòan thành, mà đơn vị kiến thiết hay xí nghiệp xây lắp giải thể, thì các hồ sơ quyết tóan và tài sản, công nợ còn lại phải bàn giao cho cơ quan chủ quản để lưu trữ và giải quyết; Các cơ quan tài chính, ngân hàng phải theo dõi, đôn đốc giải quyết các vấn đề nói trên.

đ) Lập hồ sơ quyết tóan. Sau khi làm xong các thủ tục trên và xác minh số liệu kế tóan, bên A và B phải khóa sổ, lập đầy đủ hồ sơ quyết tóan gồm: - Báo biểu kế tóan. Phải lập đầy đủ bảng tổng kết tài sản và các báo biểu khác sẽ quy định ở phần sau (mẫu báo cáo và cách tính các chỉ tiêu theo chế độ báo cáo kế tóan do Bộ Tài chính đã ban hành). Phòng kế tóan, ngòai các tài liệu kế tóan tài vụ, còn phải căn cứ vào số liệu của các bộ môn kế họach kỹ thuật, thống kê, lao động tiền lương, v.v…để lập các báo biểu này. - Thuyết minh quyết tóan. Đi đôi với báo biểu kế tóan, phải thuyết minh các điểm sẽ quy định ở phần sau. Yêu cầu là phải đánh giá đúng tình hình, nêu rõ nguyên nhân, có dự kiến và kiến nghị giải quyết các vấn đề tồn tại. Đơn vị kiến thiết và xí nghiệp xây lắp phải quyết tóan riêng cho từng công trình hòan thành và gửi cho các cơ quan như đã quy định ở phần trên. Sau khi cơ quan chủ quản đã xét duyệt quyết tóan công trình xây dựng cơ bản hòan thành của đơn vị, thông báo duyệt y quyết tóan phải lưu vào hồ sơ quyết tóan công trình hòan thành của đơn vị. Hồ sơ này phải lưu trữ vĩnh viễn. Báo biểu kế tóan và bản thuyết minh phải kèm theo các tài liệu có liên quan đến công trình hòan thành như: nhiệm vụ thiết kế, thiết kế kỹ thuật, dự tóan thiết kế, tài liệu bổ sung dự tóan thiết kế, các hợp đồng giao nhận thi công, các biên bản nghiệm thu bàn giao công trình, nghiệm thu sử dụng công trình, các biên bản kiểm kê tài sản, thanh lý tài sản, v.v… Chú ý: Đối với đơn vị kiến thiết tự làm chưa hạch tóan kinh tế, thì sau khi lập xong hồ sơ quyết tóan công trình hòan thành, phải gửi chứng từ sổ sách kế tóan cho cơ quan chủ quản để thẩm tra lại. II. NỘI DUNG BÁO CÁO QUYẾT TÓAN

  1. Xí nghiệp xây lắp phải lập và gửi các báo cáo sau đây khi tòan bộ công trình hòan thành:

a) Bảng tổng kết tài sản, b) Bảng giá thành công trình xây lắp hòan thành và bàn giao, c) Bảng lỗ lãi và bảng trích qũy xí nghiệp, d) Bảng kê tình hình vật liệu, công nợ, vốn bằng tiền còn phải giải quyết (có liên quan đến công trình này) kèm theo biên bản kiểm kê và xử lý, đ) Bản thuyết minh. Nếu xí nghiệp xây lắp còn thi công các công trình khác thì không lập tổng kết tài sản, bảng lỗ lãi và qũy xí nghiệp.

  1. Đơn vị kiến thiết phải lập và gửi các báo cáo sau đây khi tòan bộ công trình hòan thành:

a) Bảng tổng kết tài sản, b) Báo cáo tăng giảm vốn cấp phát xây dựng cơ bản, c) Báo cáo tình hình thực hiện kế họach vốn đầu tư (kèm bảng kê chi tiết về xây dựng cơ bản khác – có tính vào giá trị công trình cũng như không tính vào giá trị công trình – và các biên bản nghiệm thu sử dụng công trình), d) Bảng kê chi tiết tình hình thiết bị, vật liệu, công nợ còn phải giải quyết có liên quan đến công trình hòan thành, kèm theo biên bản kiểm kê xử lý, đ) Bản thuyết minh. Nếu đơn vị kiến thiết còn quản lý nhiều công trình khác thì không phải lập bảng tổng kết tài sản, còn bảng tăng giảm vốn cấp phát thì chỉ phản ánh riêng phần vốn của công trình hòan thành.

  1. Bảng thuyết minh.

a) Xí nghiệp xây lắp phải thuyết minh các điểm: - Tình hình hòan thành kế họach sản xuất, - Tình hình hòan thành kế họach bàn giao công trình, - Phân tích tình hình hòan thành kế họach giá thành, - Tình hình tiếp nhận vận chuyển, bảo quản, thanh tóan kết tóan thiết bị vật liệu với bên A, - Tình hình cung cấp, bảo quản, sử dụng vật tư, - Tình hình sử dụng qũy lương và năng suất lao động, - Tình hình sử dụng tài sản cố định, - Tình hình thực hiện kế họach thu nộp, - Tình hình tài sản, công nợ còn lại, - Tình hình chấp hành các chế độ kế tóan, tài vụ và kiến nghị sửa đổi. (Nội dung chi tiết có bản kèm theo)(1)

b) Đơn vị kiến thiết phải thuyết minh các điểm: - Tình hình hòan thành kế họach đầu tư, - Tình hình cấp phát và sử dụng vốn xây dựng cơ bản, - Tình hình mua sắm thiết bị, - Tình hình thanh tóan với đơn vị nhận thầu và tình hình bàn giao công trình hòan thành cho đơn vị sử dụng, - Tình hình tài sản, công nợ còn lại, - Tình hình chấp hành các chế độ kế tóan, tài vụ và kiến nghị sửa đổi. (Nội dung chi tiết có bản kèm theo) (1) Nếu là đơn vị kiến thiết tự làm thì ngòai những điểm trên còn phải báo cáo cả những điểm đã quy định đối với xí nghiệp xây lắp. III. NHIỆM VỤ CỦA CÁC CƠ QUAN CHỦ QUAN TÀI CHÍNH VÀ NGÂN HÀNG TRONG VIỆC LẬP, GỬI XÉT DUYỆT QUYẾT TÓAN CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG CƠ BẢN HÒAN THÀNH . Nhiệm vụ của cơ quan chủ quản. Cơ quan chủ quản xí nghiệp (Bộ, Tổng cục hoặc Ty) phải kiểm tra đôn đốc giúp đỡ đơn vị cơ sở lập và gửi quyết tóan công trình xây dựng cơ bản hòan thành đúng thời hạn 45 ngày sau khi hòan thành công trình (trong phạm vi thời hạn đó cơ quan chủ quản xí nghiệp, tùy theo tình hình thực tế mà quy định thời hạn cho đơn vị cơ sở phải gửi báo cáo quyết tóan lên cơ quan chủ quản). Nếu xét tình hình đặc biệt cần phải gia hạn thì phải được sự đồng ý của cơ quan tài chính. Khi nhận được báo cáo quyết tóan công trình hòan thành của đơn vị cơ sở, cơ quan chủ quản phải xét duyệt trong vòng 20 ngày kể từ khi nhận được báo cáo quyết tóan. Thông báo duyệt y quyết tóan phải đồng gửi cho cơ quan tài chính và ngân hàng trực tiếp cấp phát vốn để biết và theo dõi. Nhiệm vụ của cơ quan tài chính. Đối với các công trình trọng điểm, cơ quan tài chính phải theo dõi từng công trình, định kỳ xuống hiện trường kiểm tra việc thực hiện kế họach xây dựng cơ bản, kế họach thu chi tài vụ, kiểm tra việc sử dụng các nguồn vốn, công việc cấp phát và thanh tóan; phối hợp với cơ quan ngân hàng kiến thiết, để kiểm tra chứng từ sổ sách kế tóan của xí nghiệp xây lắp và đơn vị kiến thiết, kiểm tra đôn đốc, hướng dẫn giúp đỡ đơn vị chấp hành chế độ, thể lệ kế tóan tài vụ, phát hiện những sai sót để yêu cầu chỉnh lý những khỏan không đúng chế độ, để uốn nắn sửa chữa, sẽ góp ý và theo dõi việc uốn nắn sửa chữa, mặt khác sẽ truy cứu nguyên nhân và đề nghị xử lý trách nhiệm (nếu cần), phát hiện những khỏan tham ô, lãng phí, mất mát để kịp thời truy cứu trách nhiệm, bắt bồi thường hoặc truy tố trước pháp luật. Khi công trình hòan thành, phải đôn đốc việc bàn giao, đưa vào sử dụng, đôn đốc xí nghiệp xây lắp và đơn vị kiến thiết quyết tóan, lập và gửi báo cáo quyết tóan đúng kỳ hạn. Khi cơ quan tài chính nhận được báo cáo quyết tóan công trình xây dựng cơ bản hòan thành của đơn vị cơ sở, phải xem xét và góp ý kiến kịp thời cho cơ quan chủ quản để việc xét duyệt quyết tóan được chặt chẽ đầy đủ. Trong quá trình nhận xét quyết tóan, cơ quan tài chính có quyền yêu cầu cơ quan chủ quản hoặc cùng cơ quan chủ quản kiểm tra sổ sách kế tóan, chứng từ và các tài liệu có liên quan. Cơ quan tài chính có thể cử cán bộ đến tham gia các cuộc hội nghị xét duyệt quyết tóan của cơ quan chủ quản. Nhiệm vụ của ngân hàng kiến thiết. Khi có công trình được bàn giao và công trình hòan thành, ngân hàng kiến thiết phải tham gia việc nghiệm thu bàn giao đó, góp ý kiến nhận xét về chất lượng, tiến độ thi công và căn cứ vào biên bản nghiệm thu…để thanh tóan. Đồng thời phải đôn đốc đơn vị kiến thiết lập quyết tóan vốn đầu tư, xác minh giá trị tài sản cố định… Trong quá trình quản lý ngân hàng kiến thiết phải kiểm tra thiết kế dự tóan, nếu có khỏan nào không đúng đơn giá phải yêu cầu điều chỉnh lại; phải kiểm tra các biên bản khối lượng hòan thành, kiểm tra phân tích tình hình sử dụng các lọai vốn, và công việc thanh tóan, v.v…Khi công trình hòan thành, phải đôn đốc, giúp đỡ bên B quyết tóan đúng thời hạn, và tạo điều kiện để bên A thanh tóan tốt cho bên B. Khi nhận được quyết tóan của đơn vị, ngân hàng kiến thiết phải kiểm tra số liệu, kiểm tra đối chiếu với kế họach, với đơn giá dự tóan v.v…và đôn đốc, giúp đỡ đơn vị giải quyết nhanh chóng, chính xác các vấn đề trên. Ngân hàng kiến thiết không những phải xác nhận vào quyết tóan mà còn phải tham gia ý kiến với cơ quan tài chính trong việc nhận xét quyết tóan, sau đó đôn đốc kiểm tra việc thi hành thông tư duyệt y quyết tóan, đảm bảo sử dụng các lọai vốn, thu hồi đủ các khỏan vốn phải thu hồi. Thông tư này áp dụng cho tất cả các ngành chủ quản được cấp phát và sử dụng vốn xây dựng cơ bản và các đơn vị xây dựng cơ bản (xí nghiệp xây lắp và đơn vị kiến thiết) ở trung ương cũng như ở địa phương. Trong quá trình thực hiện, nếu có những khó khăn mắc mứu gì đề nghị các ngành, các địa phương phản ánh cho Bộ Tài chính để kịp thời nghiên cứu giải quyết. K.T. BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH THỨ TRƯỞNG (Đã ký) Trịnh Văn Bính

Bản số hóa, đối chiếu văn bản gốc khi cần — nguồn https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/thong-tu-so-26-tc-cdkt-quy-dinh-ve-viec-quyet-toan-cong-trinh-xay-dung-co-ban-hoan-thanh--77627.

Dịch vụ liên quan

Văn bản liên quan